ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN
BỒ
TÁT MÃ MINH tạo luận
TAM
TẠNG CHÂN ĐẾ dịch từ Phạn sang Hán
Phần
I
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN
Giải thích
đề tựa
Đề
mục của luận là cương lĩnh chính của toàn luận.
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN là, làm phát khởi niềm tin đối với Đại
thừa.
ĐẠI
THỪA là, trong Thập Nhị Môn Luận, Bồ tát Long Thọ nói “Vì
sao gọi là Đại thừa? Vì đối với Nhị thừa là trên nên
gọi là ĐẠI THỪA. Chư Phật là bậc tối đại mà thừa
này hay đến nên gọi là ĐẠI. Chư Phật là bậc đại nhân
mà ngồi thừa này nên gọi là ĐẠI. Hay diệt trừ các đại
khổ của chúng sanh, cho việc đại lợi ích nên gọi là ĐẠI.
Vì là chỗ nương của các đại sĩ như Quán Âm, Văn Thù …
nên gọi là ĐẠI. Thừa này tột biên để của tất cả pháp
nên gọi là ĐẠI. Trong kinh Bát Nhã, Phật nói về nghĩa Đại
thừa vô lượng vô biên nên gọi là ĐẠI. Phần thâm nghĩa
của Đại thừa chính là KHÔNG. Nếu thông suốt nghĩa này
là thông suốt Đại thừa, đầy đủ ba la mật, không có chướng
ngại ...”.
Như
vậy, nghĩa của ĐẠI THỪA thì vô lượng vô biên, khó mà
định nghĩa hết, nhưng không ra ngoài một nghĩa KHÔNG.
LUẬN
là,[2] quyết trạch đúng sai, phát minh chánh lý, giảng
trạch những thứ chẳng phải là kinh luận, dùng luận để
minh chứng. Luận này được làm khoảng 600 năm sau khi Phật
nhập diệt. Tiểu thừa thì chẳng tin duy tâm, ngoài tâm thủ
pháp, khởi nhiều tranh luận. Ngoại đạo thì tà chấp, phá
hoại chánh pháp. Nên Luận chủ khởi lòng thương xót mà tạo
luận này.
Luận
này vốn y cứ theo trăm bộ Đại thừa như Lăng Già, Tư Ích
… mà làm ra, phát minh ý chỉ duy tâm duy thức, tóm qui về
nhất tâm. Nó là cương yếu của 2 tông Tánh Tướng, thâm
cùng cội nguồn của mê ngộ, chỉ bày yếu chỉ thẳng tắt
của việc tu hành. Nghĩa là, tổng nhiếp tất cả nghĩa lý
sâu mầu mà Như Lai đã nói. Thật là cương lĩnh chính yếu
của Đại giáo, ý chỉ đích thực của Thiền Tông!
BỒ
TÁT MÃ MINH TẠO LUẬN :
MÃ
MINH là tên của người tạo luận. Ngài là người Trung Thiên
Trúc, xuất hiện khoảng 600 năm sau khi Phật nhập diệt, là
Tổ thứ 12 trong Phật giáo Ấn Độ và có công rất lớn trong
việc chuyển Phật giáo Tiểu thừa qua Đại thừa. Tương truyền,
khi ngài vừa sanh ra đã cảm đến bầy ngựa khiến chúng kêu
lên bi thiết. Sau giảng pháp ở Bắc Thiên Trúc, bầy ngựa
của vua cũng bỏ ăn nghe pháp mà hí vang. Vì thế, người đời
gọi ngài là Bồ tát Mã Minh (Mã nghĩa là ngựa, Minh là kêu).
Ngài
là người thông minh, hiểu rộng, về mặt biện luận thì
không ai bằng. Lúc đầu xuất gia làm sa môn của Ngoại đạo.
Một lần, ngài xướng lên rằng “Tỳ kheo nào có thể cùng
ta tranh luận thì hãy gõ kiến trùy. Nếu không thắng được
thì không được nhận lễ cúng dường”. Bấy giờ, trưởng
lão Hiếp đang ở vùng Bắc Thiên Trúc, biết ngài là người
có thể giáo hóa, bèn dùng thần thông bay đến Trung Thiên
Trúc, sai mọi người gõ kiến trùy cùng ngài tranh luận. Ngài
thua và trở thành đệ tử của trưởng lão Hiếp từ đó.
Sau,
Trưởng lão trở về bản quốc. Ngài ở lại, hoằng dương
Phật pháp một thời gian thì vua Tiểu Nguyệt Thị nước Bắc
Thiên Trúc mang quân đánh chiếm Trung Thiên Trúc. Ngài và chiếc
bát của Phật là 2 báu vật mà vua Trung Thiên Trúc phải dâng
nạp cho Bắc Thiên Trúc mới được cầu hàng. Từ đó về
sau, ngài hoằng pháp ở Bắc Thiên Trúc, biện luận thuyết
pháp không ai sánh được, có thể cảm hóa cả loài phi nhân.
Tác
phẩm của ngài gồm có : Đại Thừa Khởi Tín Luận, Đại
Tông Nghĩa Huyền Văn Bản Luận, Phật Sở Hành Tán, Thập
Bất Thiện Nghiệp Đạo Kinh, Lục Thú Luân Hồi Kinh, Ni Kiền
Tử Vấn Vô Ngã Nghĩa Kinh.
TAM
TẠNG CHÂN ĐẾ DỊCH :
TAM
TẠNG là người học thông ba tạng kinh, luật và luận. Lại
giỏi cả ngôn từ của một số nước như tiếng Hoa, tiếng
Phạn v.v... giúp việc truyền bá Phật pháp được rộng rãi.
CHÂN
ĐẾ là tên người dịch. Tiếng Phạn gọi là Câu Na La Đà.
Sư người nước Ưu Thiền Ni ở Tây Ấn Độ. Năm Đại Đồng
thứ 13 đời Lương, hơn 30 tuổi, Sư sang Trung Quốc, được
vua Vũ Đế tri ngộ. Sau gặp quốc nạn, bỏ sang Bắc Tề rồi
sang Đông Ngụy. Trong lúc lưu lạc bôn ba, Sư đã soạn thảo
và phiên dịch các bộ Kim Quang Minh Kinh, Luận Nhiếp Đại
Thừa, Luận Duy Thức và Thế Thân Truyện … gồm 278 cuốn.
Ngày 11 tháng 01 năm Đại Kiến thứ nhất, Sư viên tịch, thọ
71 tuổi.
KỆ
MỞ ĐẦU
Qui
mạng tận mười phương
Nghiệp
tối thắng biết khắp
Thân
vô ngại tự tại
Đấng
cứu thế đại bi
Với
thể tướng thân này
Biển
pháp tánh chân như
Kho
vô lượng công đức
Bậc
như thật tu hành
Vì
muốn khiến chúng sanh
Trừ
nghi bỏ tà chấp
Khởi
chánh tín Đại thừa
Chủng
Phật chẳng đoạn mất
Người
xưa nói “Sau khi Phật diệt độ, phàm các hàng đệ tử có
tác thuật kinh luận hay sách vở gì, trước phải kính lễ
Tam bảo”. Đây là theo lệ ấy mà làm : tán thán, kính lễ
và nêu ra mục đích khiến làm ra bộ luận.
Vì
sao trước phải kính lễ Tam bảo? Vì kinh là lời Phật nói,
trí Phật thâm thậm không thể dùng tình thức mà suy lường,
nên phải kính lễ để thỉnh cầu uy lực gia hộ của Tam
bảo. Có vậy thì nghĩa của luận mới thầm hợp với tâm
Phật, lời là phàm mà đạt được ý của thánh nhân.
Qui
mạng tận mười phương là lấy thân mạng qui hướng về
Tam bảo ở mười phương. Mười phương là đông, tây, nam,
bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, phương trên và
phương dưới, là chỉ cho tất cả mọi cõi. Các cõi này đều
do chân như tùy duyên mà biến hiện.
Với
người đời, thân mạng là thứ quí hơn hết. Nay nói qui mạng
là đem cả thân mạng này mà kính lạy, biểu thị cho lòng
thành kính không có 2 tâm. Qui mạng tận mười phương thì
thân tâm đều không mới có thể qui đến. Nên QUI còn có
nghĩa là qui nguyên, là qui 6 căn về cội nguồn chân thật
nhất tâm.
Nghiệp
tối thắng biết khắp, thân vô ngại tự tại, đấng cứu
thế đại bi là chỉ cho Phật. Đây là qui y Phật bảo.
Biết
khắp là dụng của ý nghiệp khi ý nghiệp đã hoàn toàn thanh
tịnh. Biết hết ba thời, biết khắp mọi chỗ, không sót
chút gì, dù là một niệm mống khởi trong tâm chúng sanh, nên
nói BIẾT KHẮP.
Vô
ngại tự tại là tự tại dung thông không trở ngại. Như
các ánh đèn hòa vào với nhau không chướng không ngại. Do
thân nghiệp của Phật hoàn toàn thanh tịnh nên thân ấy có
vô lượng tướng, tướng ấy có vô lượng tướng tốt, căn
căn viên dung, khắp giáp tự tại, mười thân rõ khắp, không
hoại không tạp lẫn. [3]
Cứu
thế đại bi là chỉ cho tâm đại bi của đức Phật.
BI
là thương xót. Gọi là ĐẠI vì lòng bi ấy không phải của
Bồ tát, không phải của Nhị thừa. ĐẠI BI chỉ có khi thức
đã chuyển hoàn toàn thành trí, gọi là ĐẠI TRÍ. Nhờ có
đại trí mới có đại bi. Vì thế, cái bi của người đời
chỉ là thấy đói cho ăn, thấy lạnh cho mặc, chỉ là cứu
cái ngọn chưa cứu được cái gốc. Gốc không cứu thì khổ
nạn không bao giờ chấm dứt. Như mắc bịnh phong mà chỉ
sức thuốc bên ngoài, không uống thuốc bên trong thì bịnh
chỉ tạm dừng rồi lại phát, khổ vẫn hoàn khổ. Cái bi
của người đời vì thế không gọi là ĐẠI.
Phật
thương xót chúng sanh bằng cái nhìn trí tuệ nên gọi là ĐẠI.
Cái thương xót ấy bình đẳng không phân chia thân sơ, nên
gọi là ĐẠI. Giáo pháp của ngài là liều thuốc trị bịnh
khổ của chúng sanh từ gốc. Đó là cốt làm sao để chúng
sanh thật sự thoát khổ. Phật dạy người giữ 5 giới, 10
giới, làm lành tránh ác là để giúp người thoát khỏi cái
khổ bịnh hoạn, đói nghèo và nạn tai ở thế gian. Song thế
gian thì vô thường, các pháp mong manh như sương mai, vui không
bao lâu, khổ chẳng bao giờ vắng mặt. Vì thế, Phật lại
có các phương pháp tu trì như thiền định, niệm Phật v.v...
để người đạt được cái vui vĩnh hằng.
Lại,
ĐẠI BI là căn bản của Phật đạo. Nhờ lực từ bi ấy
mà chư vị Bồ tát dù được niết bàn, vẫn trải dài sanh
tử không nhàm mỏi để thực hành bi nguyện của mình. Vì
thế, không gọi cái bi của người đời là ĐẠI, chỉ gọi
cái bi trong pháp Phật là ĐẠI. Cái ĐẠI này cũng tùy duyên
mà lập. Đối với Nhị thừa, cái bi của Bồ tát là ĐẠI.
Đối với Nhị thừa và chư vị Bồ tát, cái bi của Phật
là ĐẠI. ĐẠI nói trong phần này là ĐẠI của chư Phật.
Cứu
thế là cứu người đời thoát khỏi khổ đau phiền não.
Song nỗi khổ của chúng sanh là do 3 nghiệp của chúng sanh
mà ra. Muốn cứu họ khỏi 3 đường khổ thì chỉ có thể
vạch ra con đường để họ tu tập mà tự cải hóa lấy số
phận của mình. Vì thế, dù dùng phương tiện hóa thân nào
thì GIÁO PHÁP lưu xuất từ chân như cũng là phương thức
chính mà đức Phật dùng để cứu độ thế gian. Ngài Hám
Sơn nói “Cứu thế đại bi, vì ngữ nghiệp tối thắng. Phật
dùng âm thanh luân ứng cơ thuyết pháp. Mọi lời nói ra, mọi
loài đều hiểu nên gọi là tối thắng”.
3 thứ
BIẾT KHẮP, THÂN VÔ NGẠI TỰ TẠI và TÂM CỨU THẾ ĐẠI
BI ấy, phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát đều chưa thể có,
nên nói tối thắng. Cái chưa thể có ấy là do 3 nghiệp của
các vị chưa được thanh tịnh như Phật. Vì thế, nói nghiệp
của Phật là nghiệp tối thắng. TỐI THẮNG nghĩa là số
một, không có gì bằng, đồng nghĩa với từ ‘tối ưu’.
Với
thể tướng thân này, biển pháp tánh chân như, kho vô lượng
công đức là qui y Pháp bảo. Thể tướng thân này là chỉ
cho thân Phật nói trên. Ngài Hiền Thủ nói “Phàm, luận về
Pháp bảo thì có 4 thứ là giáo, lý, hạnh, quả. Trong 4 thứ
ấy, GIÁO thì cạn mà LÝ thì sâu, HẠNH thì từng phần mà
QUẢ lại tròn đủ. Trong đây, chỗ qui về chỉ lấy sâu và
tròn đủ, tức chỉ hướng về LÝ và QUẢ. Cho nên, ước
về thân Phật kia là để rõ Pháp bảo là pháp ở QUẢ, hiển
thể và tướng của thân là để rõ Pháp bảo là pháp ở
LÝ vậy”.
Thân
Phật thì tức THỂ là TƯỚNG, tức TƯỚNG là THỂ. Chính
là biển pháp tánh chân như đầy đủ vô lượng công đức.
Gọi là BIỂN vì ngoài việc diễn tả sự rộng lớn không
thấy bờ mé, còn nói lên tính bất biến mà tùy duyên, tùy
duyên mà bất biến của pháp tánh chân như.
Ngài
Hiền Thủ nói “Chân như có 2 nghĩa là bất biến và tùy
duyên. Theo nghĩa TÙY DUYÊN thì nó biến hiện tạo ra tất cả
pháp. Tuy biến tạo mà vẫn bảo tồn cái thể chân như BẤT
BIẾN. Tỷ như nước biển thành sóng mà vẫn mang tánh nước
chẳng đổi. Như thế, chân như tùy duyên để biến đổi
tạo tác ra các pháp nên chân như là pháp tánh. Song chân như
pháp tánh đây vẫn thuần thiện, không mang tính cấu nhiễm.
Nhưng do cái duyên có nhiễm tịnh mà mặt biến hiện của
nó có nhiễm tịnh riêng biệt”.
Kho
là dịch nghĩa từ chữ TẠNG ra. TẠNG có nghĩa là tích chứa.
Mượn chữ KHO là để diễn tả sự tích chứa ấy. Biển
pháp tánh bao gồm vô lượng vô biên công đức, nên nói “Biển
pháp tánh chân như, kho vô lượng công đức”. [4]
Bậc
như thật tu hành là chỉ cho các vị Bồ tát đăng địa. Gọi
NHƯ THẬT vì các vị đã thực chứng được cái nhân Phật
tánh. Nhà thiền gọi chỗ chứng ấy là kiến tánh hay chứng
được nhất niệm vô sanh. Nhân vô sanh thì quả mới vô sanh
nên nói NHƯ THẬT TU HÀNH. Đây là qui y Tăng bảo.
Phần
dưới là bày tỏ ý tạo luận.
Vì
muốn khiến chúng sanh, trừ nghi bỏ tà chấp, khởi chánh tín
Đại thừa, chủng Phật chẳng đoạn mất.
Cái
MUỐN KHIẾN ấy là kết quả của tâm đại bi. Vì sao muốn
khiến chúng sanh bỏ tà chấp? Vì tà chấp là đầu mối của
khổ não. TÀ nghĩa là không chánh. CHẤP nghĩa là ôm chặt,
thủ lấy. Tà chấp là chỉ cho những quan niệm hay suy nghĩ
không đúng đối với Lý Duyên Khởi ở thế gian.
Gọi
là TÀ vì những thứ ấy khiến thân, khẩu, ý của mình tạo
tác, không thể nhập được với dòng chuyển biến của đạo.
Thủ chặt những thứ ấy làm kim chỉ nam rồi theo đó mà
hành xử thì khổ nạn không thể tránh, cứu cánh niết bàn
chẳng thể đạt, nên gọi là TÀ.
Cái
TÀ này cũng tùy duyên mà lập. Với ngoại đạo và phàm phu,
pháp Tiểu thừa là CHÁNH, pháp của phàm phu, ngoại đạo là
TÀ. Song đối với chân thể pháp thân đầy đủ từ bi và
trí tuệ thì cái chấp pháp của Nhị thừa lại thành TÀ.
Nhớ là do CHẤP mà thành tà, không phải pháp của Nhị thừa
là tà. “Pháp trụ pháp vị, tướng thế gian thường trụ”.
Một
khi đã có niềm tin với những lời Phật dạy thì nghi tự
trừ, tà chấp đương nhiên hết, nên nói trừ nghi bỏ tà
chấp.
Khởi
là từ chỗ không mà thành có. Đồng nghĩa với từ sanh, xuất
hiện v.v…
Khởi
chánh tín Đại thừa là khởi lên niềm tin chân chánh đối
với Đại thừa. Những thứ tin nào đúng với qui luật vận
hành ở thế gian như tin nhân quả, tin có kiếp trước, kiếp
sau … đều gọi là TIN CHÂN CHÁNH. Đây, không phải chỉ tin
chân chánh không mà còn là “tin chân chánh đối với Đại
thừa”. Vì thế, niềm tin đây phải là tin ‘Tức tâm tức
Phật’.
TIN
mình với Phật không có 2 thể, chỉ do vô minh che lấp mà
có thân Phật, thân chúng sanh. TIN những cảm giác như buồn,
vui, giận, ghét cùng các quan niệm, định kiến mình đang mang
đây là vọng tưởng không có thật thể, chỉ do huân tập
mà có, cái không trùm khắp sáng ngời kia mới là tâm chân
thật của mình. TIN mình có khả năng thể nhập lại với
cái tâm thường hằng thanh tịnh ấy bằng những phương tiện
mà Phật Tổ đã dạy qua kinh luận. TIN ‘Tam giới duy tâm,
vạn pháp duy thức’ v.v… Có được những cái tin như thế
đều là khởi niềm tin chân chánh đối với Đại thừa.
Chủng
Phật là hạt giống sanh ra Phật quả. Chẳng đoạn mất không
phải là tiêu mất không còn gì, mà vì bị vô minh che lấp.
Như mặt trời bị mây che lấp, không phải không có mặt trời.
Như hạt giống nằm sẵn trong đất, nhưng không đủ duyên
nên không thể nẩy mầm, không phải là không có hạt giống.
ĐOẠN MẤT là như thế.
LUẬN
rằng, có pháp có thể làm phát khởi tín căn Đại thừa cho
nên phải nói. Cái nói ấy có 5.
LUẬN
RẰNG, là bắt đầu vào luận.
Thứ
gì có khả năng sanh ra thứ khác, gọi là CĂN. Niềm tin có
thể sanh ra những thiện pháp khác nên gọi là TÍN CĂN.
TÍN
CĂN ĐẠI THỪA là chỉ cho Phật tánh đầy đủ trong mỗi
chúng sanh. Phật tánh là nhân thì quả mới là niết bàn Phật.
PHÁP
là chỉ cho những thứ có thể làm phát khởi tín căn Đại
thừa. CÓ PHÁP CÓ THỂ … là có một thứ có thể làm phát
khởi tín căn Đại thừa, chính là bộ luận này. Được phân
rõ từ LÝ tới SỰ qua 5 phần. Đúng 5 mà không 4 hay 3 vì LÝ
và SỰ phải đầy đủ. LÝ mà không SỰ hay SỰ mà không LÝ
đều không thể khiến tín căn Đại thừa phát khởi. SỰ
mà không LÝ thì không thể phát khởi niềm tin để thực hành.
Tin mà không thực hành để nhận lấy chỗ thực chứng thì
niềm tin ấy sẽ lụi tàn theo thời gian và tín căn Đại thừa
cũng không nẩy mầm để có cái quả là niết bàn Phật. LÝ
và SỰ phải đầy đủ dung thông thì tín căn Đại thừa mới
phát khởi và mang lại kết quả tốt đẹp, nên luận phân
đúng 5 phần.
Thế
nào là 5?
1.
Phần Nhân Duyên
2.
Phần Lập Nghĩa
3.
Phần Giải Thích
4.
Phần Tu Hành Tín Tâm
5.
Phần Khuyên Tu Và Lợi Ích
Đây
là 5 phần chính của luận. Tên của mỗi phần nêu bày ý
chủ yếu của phần đó.
Phần
NHÂN DUYÊN, là nêu bày nguyên nhân khiến Tổ làm ra bộ luận.
Pháp thế gian là pháp duyên khởi, nên pháp không tự xuất
hiện mà phải có nguyên do pháp mới xuất hiện. Nguyên do
ấy gọi là NHÂN DUYÊN. Nêu bày Nhân Duyên cũng có nghĩa là
nêu bày luôn ĐỐI TƯỢNG tu hành mà bộ luận nhắm đến.
Ngoài những đối tượng ấy thì bộ luận không có giá trị
và tác dụng. Đây là lý do vì sao toàn bộ kinh luận đều
có phần Duyên Khởi. Thấy pháp của Phật đối nghịch, lộn
xộn hay Tam thừa không nhất quán cũng vì không nắm được
mặt duyên khởi này.
LẬP
NGHĨA là nêu bày tông bổn của luận. Đây là phần chính
của luận, là phần LÝ nhằm giải quyết bớt cái nghi của
người đời. Nêu tông bổn không chưa đủ, còn phải giải
thích phần tông bổn đó cho rõ ràng, chúng sanh mới có thể
kham nhận, nên có thêm phần GIẢI THÍCH.
Tạo
luận và giải thích là cốt chúng sanh nhận hiểu được rõ
ràng mà phát tâm tu hành. Đó là mục đích chính của kinh
luận. Không có phần tu hành này thì pháp Phật chỉ là một
môn triết học, không phải là đạo học như chính cái tên
đạo Phật nữa. Vì thế, 2 phần cuối mà bộ luận đề cập
đến là TU HÀNH TÍN TÂM và KHUYẾN TU. Đây chỉ cho phần SỰ.
LÝ
và SỰ phải đầy đủ dung thông thì tín căn Đại thừa mới
phát, nên luận chỉ đúng 5 phần, không thiếu cũng không dư.
Thâm hiểu được bộ luận qua kinh nghiệm tu hành của bản
thân, ta sẽ phát khởi được tín căn Đại thừa. Phát được
tín căn Đại thừa là nhân Phật tánh xuất hiện, thì chủng
Phật chẳng đoạn mất, khổ mới thật chấm dứt. Nên cần
diễn bày đầy đủ để mọi người cùng hiểu.
Kế
là giải thích phần Nhân Duyên.
Phần NHÂN
DUYÊN
Đầu
tiên nói về phần Nhân Duyên
Hỏi
: Do nhân duyên gì mà tạo luận này ?
NHÂN
DUYÊN là nói về nguyên nhân làm ra bộ luận. Nguyên nhân
nào mà bộ luận được tạo ra?
Đáp
: Nhân duyên ấy có 8. Thế nào là 8?
1.
Tổng tướng của nhân duyên. Đó là để chúng sanh lìa tất
cả khổ, được cái lạc rốt ráo, chẳng phải vì cầu danh
lợi và sự cung kính ở thế gian.
TỔNG
TƯỚNG là nói đến tướng chung, tướng tổng quát. Tuy nguyên
nhân có 8, nhưng đây là phần nguyên nhân chung hết. Gọi là
chung vì nguyên nhân này lồng trong 7 nguyên nhân kia. TƯỚNG
là từ nhà Phật dùng để phân biệt với THỂ, tạm hiểu
nó như từ ‘hình thức’ hiện nay. Nguyên nhân khiến bộ
luận xuất hiện là do lòng thương xót đối với chúng sanh.
Không phải vì danh lợi hay sự cung kính của bản thân mà
chỉ vì muốn chúng sanh lìa tất cả khổ, được cái vui rốt
ráo mà Luận chủ tạo luận này.
Luận
này không chỉ giúp người đạt được cái vui, mà còn là
cái vui rốt ráo. VUI RỐT RÁO là vui mà không còn một chút
khổ nào hết. Nó không phải là cái vui duyên khởi với cái
khổ ở thế gian, nên nó là cái vui rốt ráo. Vui đã RỐT
RÁO thì khổ phải lìa TẤT CẢ.
TẤT
CẢ KHỔ là chỉ cho cái khổ của phàm phu, ngoại đạo, Nhị
thừa và Bồ tát. Nhị thừa tuy nói chứng niết bàn, nhưng
niết bàn ấy vẫn còn bị ‘biến dịch sanh tử vi tế khổ’
chi phối. VI TẾ nghĩa là nhỏ nhiệm. Phải qua luôn cái biến
dịch sanh tử ấy mới gọi là được cái vui rốt ráo.
2.
Vì muốn giải thích nghĩa căn bản của Như Lai để chúng
sanh nhận hiểu được chân chánh không lầm.
NGHĨA
CĂN BẢN CỦA NHƯ LAI là tất cả những gì được nói trong
phần Lập Nghĩa và Giải Thích.
Đây
bắt đầu đi vào chi tiết. Nguyên nhân thứ hai khiến bộ
luận ra đời là để giải thích nghĩa căn bản của Như Lai.
Giải thích để làm gì? Để chúng sanh nắm được vấn đề
rõ ràng. Có nắm được rõ ràng, mới đủ niềm tin mà tu
hành. Đã gọi là CỦA NHƯ LAI thì chỗ ấy không phải là
chỗ mà phàm phu, Nhị thừa và Bồ tát có thể nhận hiểu
hoàn toàn, nên cần phải giải thích.
3.
Vì muốn khiến chúng sanh căn lành thành thục có thể kham
nhận Đại thừa, chẳng thối mất niềm tin.
Đây
là nguyên nhân thứ ba khiến bộ luận xuất hiện. Ngài Hám
Sơn cho những CHÚNG SANH CĂN LÀNH THÀNH THỤC này là những
vị ở cấp cuối bậc Thập Tín bước vào Thập Trụ. Căn
cứ vào phần nhiễm tâm dưới thì mãn tâm Thập Tín đây
là chỉ cho những vị đã phá bỏ được sự chấp thủ đối
với ngoại cảnh. Nghĩa là, dù đối cảnh tâm có khởi phân
biệt yêu ghét chăng nữa, thì cũng không vì cái yêu ghét ấy
mà tìm cách ôm giữ hay tống đi để tạo thành ác nghiệp,
mà chịu quả báo khổ đau trong 3 đường dữ.
Thập
Tín rồi mà không chịu tu tập thì niềm tin ấy cũng không
tới đâu. Vì thế, những vị này tuy được liệt vào hạng
‘thiện căn thành thục’, nhưng vẫn chưa được gọi là
hạng bất thối. BẤT THỐI là không rơi vào phàm phu hay Nhị
thừa nữa. Dù ra đời trong hoàn cảnh nào thì tâm tu hành
theo Đại thừa vẫn hiển lộ. Vì thế, việc tạo luận là
cần thiết để giúp người tu tập mà nuôi dưỡng tín tâm.
KHAM
NHẬN, diễn tả cho việc nhận lãnh có sự chịu đựng và
kiên trì trong đó. Vì sao phải kham nhận? Vì tu Đại thừa
thì phải lấy lợi ích của muôn loài làm trọng. Muốn vậy
thì việc tu hành không đơn giản, không thể tu qua loa, vui
vui như tu phước mà phải tập trung phá trừ bản ngã tập
nghiệp. Bản ngã phải không thì việc lợi ích cho muôn loài
mới thật sự có. Bản ngã phải trừ thì mới thể nhập
lại được cái không của Đại thừa. Cái lạc của niết
bàn phải bỏ thì mới có thể thấy được Phật tánh của
mình. Không có sự kiên trì, nhẫn nại, chịu khó, chịu khổ
thì không làm được nên nói KHAM NHẬN. Gặp khó mà không
nản thì niềm tin mới không thối, nên nói “Có thể kham
nhận … chẳng thối mất niềm tin”.
4.
Vì muốn khiến chúng sanh căn lành ít ỏi tu tập tín tâm.
CĂN
LÀNH ÍT ỎI là chỉ cho những vị cũng có thiện căn, nhưng
loại thiện căn này không được như loại thiện căn trên.
Tin nhân quả, làm lành tránh ác, cúng dường, bố thí ... nhưng
lúc được lúc mất. Nghe nói tâm mình là Phật thì cũng không
phản đối, nhưng tin thì cũng chưa tin v.v... đều thuộc địa
vị này. Luận lập ra là để giải thích và nêu bày phương
tiện khiến các vị tu tập mà củng cố thêm niềm tin đối
với Đại thừa.
6.
Vì chỉ bày phương tiện tiêu trừ các chướng của ác nghiệp,
khéo giữ tâm mình, xa lìa si mạn, ra khỏi lưới tà.
Mục
đích thứ năm khiến Luận chủ tạo luận là vì chỉ bày
phương tiện tu hành. Phương tiện ấy là tiêu trừ cái chướng
của ác nghiệp. ÁC NGHIỆP là chỉ cho những hành động mang
lại đau khổ cho muôn loài. Nhân là khổ thì quả là khổ.
CHƯỚNG là chướng ngại, không thuận hoặc ngăn che. Ác nghiệp
khiến tâm mình xa dần thiện tâm, ngăn không cho mình thể
nhập Phật tánh, nên nói là CHƯỚNG.
SI
MẠN là chỉ chung cho tất cả những loại tà chấp.
Gọi
là LƯỚI TÀ, vì cái tà này nối tiếp cái tà kia, phủ xuống
đời người như một tấm lưới. Ác quả này là nhân cho
một ác quả kế tiếp. Ác quả kế tiếp là nhân cho một
ác quả kế tiếp nữa. Cứ vậy mà nối dài chằng chịt xoay
quanh. Một khi vướng vào si mạn và các ác nghiệp thì như
cá mắc trong lưới. Nếu không chỉ bày phương tiện thì khó
mà thoát được tấm lưới ấy nên phải tạo luận để chỉ
bày. Phương tiện này nhắm vào những vị chưa có thiện căn
hay thiện căn ít ỏi.
Giữ
được tâm không khởi niệm ác thì ác nghiệp không sanh, nên
nói KHÉO GIỮ TÂM MÌNH.
6.
Vì chỉ bày tu tập Chỉ Quán, đối trị tâm sai lầm của
phàm phu và Nhị thừa.
Phương
tiện này nhắm vào những vị thiện căn khá thuần thục nên
nói “ĐỐI TRỊ tâm sai lầm của phàm phu và Nhị thừa”.
Nói thiện căn thành thục mà có PHÀM PHU, là chỉ chung cho
những vị phát tâm tu Phật, không kể là tăng hay tục. Nhị
thừa là chỉ cho những vị lấy quả vị A La Hán và Bích
Chi Phật làm cứu cánh. Chỗ rốt ráo thật sự không phải
là những quả vị ấy nên nói SAI LẦM. Không CHỈ không QUÁN
thì không thể lắng tâm, dứt vọng tưởng mà ngộ nhập lại
Phật tánh của mình, nên phải nêu bày môn CHỈ - QUÁN để
tu tập.
7.
Vì chỉ bày phương tiện “chuyên niệm” để sanh về trước
Phật, nhất định chẳng còn thối mất tín tâm.
Đây
cũng nhắm vào những vị đã có thiện căn. Song hạng thiện
căn này không hợp với phương tiện CHỈ - QUÁN trên, nên
phải chỉ bày phương tiện ‘chuyên niệm’. CHUYÊN NIỆM
là chỉ cho việc niệm Phật. Không nói là niệm Phật mà gọi
là CHUYÊN NIỆM vì cái niệm Phật này cần chuyên cần không
gián đoạn. CHUYÊN thì mới đánh bật được dòng vọng tưởng.
NIỆM mà toàn là Phật niệm thì cảnh giới mới là cảnh
giới Phật.
Việc
CHUYÊN NIỆM này cũng có công năng giúp gạt bỏ dòng vọng
tưởng như phương tiện CHỈ - QUÁN. Song nó dễ dùng và mang
tính đại trà hơn, vì nó thuận với cái HAY KHỞI của chúng
sanh. Thay vì nói chuyện hay suy nghĩ lan man thì ta niệm Phật.
Vậy thì vẫn được khởi, mà khởi cái NIỆM Phật.[5]
Tạo luận là để mọi căn cơ có được phương tiện thoát
khổ, nên không thể chỉ lập bày phương tiện CHỈ - QUÁN
mà cần phải có thêm phần CHUYÊN NIỆM này.
8.
Vì chỉ bày sự lợi ích và khuyên tu hành.
Đây
là nguyên nhân cuối khiến Luận chủ tạo luận. KHUYÊN TU
là đọc, học, hiểu rồi thì … nhớ tu! Tu mới là chính.
Vì đọc học nhiều bao nhiêu mà không tu thì không thể hết
khổ. Trong khi khổ là nhân duyên tổng quát khiến Luận chủ
tạo luận. Nên phải khuyên tu. KHUYÊN nghĩa là không bắt buộc,
không ép uổng mà giải thích rõ ràng mọi việc, đồng thời
nêu bày sự lợi ích của việc tu hành để người người
tự phát tâm. Vì thế, CHỈ BÀY SỰ LỢI ÍCH của việc tu
hành là điều tất nhiên phải có trong bộ luận.
Vì
các nhân duyên như vậy mà tạo luận.
Đây
là tổng kết nhân duyên tạo luận. Bởi bản ý của Bồ tát
là độ chúng sanh, nên vì chúng sanh phát khởi nhân duyên tạo
luận. Trong 8 nhân duyên này, duyên đầu là nói chung, 7 biệt
duyên còn lại là bao quát toàn luận. Sẽ nói lại đầy đủ
ở văn dưới. [6]
Dưới,
hỏi để khai triển rộng nhân duyên tạo luận.
Hỏi
: Tudala đã có đủ pháp ấy, sao còn lập lại?
Trong
Khế kinh đã có đủ, vì sao còn phải tạo luận?
Đáp
: Trong Tudala tuy có pháp ấy, nhưng do chúng sanh căn hạnh chẳng
đồng nên nhân duyên nhận hiểu có khác. Nghĩa là, khi Như
Lai còn tại thế, chúng sanh thì căn tánh lanh lợi, người
thuyết thì nghiệp của thân tâm thù thắng, viên âm một khi
nói ra, mọi loài khác nhau đều cùng nhận hiểu nên chẳng
cần tạo luận.
TUDALA
là khế kinh, là chỉ chung cho kinh Phật. KHẾ có 2 nghĩa là
khế lý và khế cơ. KINH có 2 nghĩa là xâu lõi pháp tướng
không rời rạc và nắm giữ điều giáo hóa.
PHÁP
ẤY là “Nghĩa căn bản của Như Lai”.
CĂN
HẠNH CHẲNG ĐỒNG là chỉ cho mức độ thanh tịnh tâm ở
mỗi người có sai khác. VIÊN ÂM là chỉ cho âm thanh của Phật.
Gọi là viên âm vì cái dụng dung thông và tròn khắp của
nó. Nghiệp càng thanh tịnh thì dụng càng rộng. Nghiệp càng
thanh tịnh thì việc nhận hiểu đại pháp càng sâu. Người
gặp được Phật tức căn lành đã khá sâu, nên thời Phật
còn tại thế, việc giáo hóa rộng rãi đến muôn loài mà
việc nhận hiểu đại pháp cũng dễ dàng thông suốt. Việc
tạo luận lúc ấy không còn cần thiết.
Nhưng
sau khi Như Lai nhập diệt, hoặc có chúng sanh lấy việc tự
lực nghe nhiều mà nhận hiểu. Hoặc có chúng sanh cũng lấy
việc tự lực, nghe ít mà hiểu nhiều.
Đây
là tình trạng chúng sanh sau khi Phật đã nhập diệt. TỰ LỰC
là, không cần nương nhờ sự giải thích nào khác mà tự
mình đọc học kinh điển, rồi nhận lấy nghĩa Như Lai đã
nói. TỰ LỰC được vì tâm ít loạn động, phiền não lại
mòn mỏng. 2 hạng này căn tánh còn sáng sủa nên có thể tự
nghe hay đọc khế kinh mà nhận lấy tâm Phật của mình.
Hoặc
có chúng sanh không tự tâm lực, phải nhờ vào những
bộ luận rộng mới nhận hiểu được. Cũng có chúng sanh
lại thấy việc “luận rộng văn nhiều” là phiền phức,
tâm muốn thâu tóm “văn ít mà thu nhiếp nhiều nghĩa” để
có thể nhận hiểu.
Những
vị này thì tâm ít sáng sủa hơn, không tự mình hiểu được
lời Phật dạy trong kinh. Nghe kinh như vịt nghe sấm, nên chư
Tổ phải tạo luận. Tạo luận là cốt cắt nghĩa, biện rõ
từng chi tiết bằng ngôn ngữ của mỗi thời, sao cho phù hợp
với từng căn cơ để người dễ nhận hiểu. Đây chia làm
2 hạng. Một là hạng phải nhờ vào các bộ luận rộng mới
hiểu được. Hạng này tuy đọc kinh không hiểu, nhưng đọc
những bộ luận dài và rộng vẫn hiểu được. Hạng thứ
hai là hạng sợ chữ nhiều nhưng lại muốn nắm được nhiều
thứ. Tâm muốn nhiều nhưng nhẫn lực không đủ, nên không
kham nỗi những bộ luận dài mà nghĩa lý lại quá mênh mông
và chi tiết. Vì thế phải tạo loại luận chữ ít mà nghĩa
thật nhiều để đáp ứng.
Luận
này là như vậy. Vì muốn tổng nhiếp pháp thâm sâu rộng
lớn vô biên nghĩa của Như Lai mà nói luận này.
“LUẬN
NÀY là như vậy” là loại luận chữ ít mà nghĩa thật nhiều,
được làm ra để đáp ứng cho hạng căn cơ sau cùng. Dịch
và giải ra đây thấy còn nhiều chứ phần Hán văn chỉ hơn
11.000 chữ. Song tất cả nghĩa lý mà Như Lai đã nói đều
gom đủ trong ấy. Quả tình là chữ rất ít mà nghĩa rất
rộng. CHỮ RẤT ÍT vì những chi tiết đã được giản lược
và tóm gọn. NGHĨA RẤT RỘNG vì tuy giản lược nhưng nghĩa
lý sâu xa vẫn đầy đủ. Ngài Hám Sơn nói “Trong ấy đã
tổng nhiếp hết cả pháp thâm sâu, rộng lớn, vô biên diệu
nghĩa của Như Lai. Nghĩa là, gom hết nghĩa sâu xa của
trăm bộ Đại thừa một cách bao quát vô biên, mở rộng pháp
giới nhất tâm như nhìn thấy trái cây trong lòng bàn tay. Thật
là huyền môn nhập lý, diệu chỉ tu hành! Người học há
chẳng hết lòng ư?”.
“Há
chẳng hết lòng ư?” vì luận này không chê vào đâu được.
LÝ thì bao quát rõ ràng. SỰ thì chỉ bày đầy đủ. Ứng
hợp cho mọi căn cơ từ thấp đến cao, nên cần phải hết
lòng đọc học tu tập để khỏi phụ lòng bậc Cổ đức.
Đã
nói Nhân Duyên, kế nói phần Lập Nghĩa.
Đây
là kết phần trước, giới thiệu phần sau.
Phần LẬP
NGHĨA
Đại
thừa, nói tổng quát có 2 thứ. Thế nào là 2? Một là
pháp, hai là nghĩa.
NÓI
TỔNG QUÁT là nói sơ qua hay nhìn chung. Phân 2 là để rõ vấn
đề.
I.
PHÁP : Gọi là pháp ấy, là tâm
chúng sanh. Tâm này nhiếp tất cả pháp thế gian và xuất thế
gian. Y nơi tâm này hiển thị nghĩa Đại thừa. Vì cớ sao?
Vì tướng chân như của tâm ấy tức chỉ cái thể của Đại
thừa, tướng nhân duyên sanh diệt của tâm ấy thì chỉ tự
thể, tướng và dụng của Đại thừa.
Ngoài
Phật ra, tất cả đều gọi là CHÚNG SANH.
PHÁP
ẤY là chỉ cho cái THỂ chân như thường hằng không biến
đổi, là pháp thể của Đại thừa. Ngài Hám Sơn nói “PHÁP
ấy là THỂ của nhất chân pháp giới đại tổng tướng pháp
môn”.
Hỏi
: Phần chánh văn nói “Pháp ấy là tâm chúng sanh”, vì sao
lại giải thích PHÁP ẤY là THỂ của nhất pháp giới? Nếu
là THỂ chân thường thì không sanh không diệt, trong khi tâm
chúng sanh thì có sanh diệt. Nếu PHÁP ẤY là thể của nhất
pháp giới, vì sao không nói thẳng pháp ấy là THỂ của nhất
pháp giới mà nói “Pháp ấy là tâm chúng sanh”?
Đáp
: Nói là THỂ của “Nhất pháp giới đại tổng tướng pháp
môn” là muốn nói đến phần thâm nghĩa của Đại thừa.
Tu hành là cả một quá trình chuyển hóa từ phàm đến thánh,
từ chỗ sanh diệt đến chỗ không sanh diệt. Đại thừa nhơn
đó mà có cạn sâu. Vì vậy không nói thẳng PHÁP ẤY là THỂ
của nhất pháp giới. Không nói thẳng nhưng biết chắc PHÁP
ẤY không phải chỉ cho tâm vọng tưởng. Vì mở đầu Luận
chủ nói “Đại thừa có 2 thứ. Một là pháp, hai là nghĩa”.
Phần NGHĨA sau nói về 3 ĐẠI cũng là 3 cái ĐẠI của thiện
pháp thế gian và xuất thế gian.
Nói
tâm chúng sanh mà không nói thẳng cái thể chân thường là
để chúng sanh biết PHÁP ẤY không ngoài tâm chúng sanh mà
có. Tâm ấy chính là chỗ y cứ để lập ra Đại thừa. Không
có tâm ấy thì Đại thừa cũng chẳng lập. Vì thế nói PHÁP
mà trước nói là tâm chúng sanh. Lấy THỂ ra giải thích là
muốn hiển bày ngay nơi cái sanh diệt chính là cái không sanh
diệt. Dù sanh diệt nhiễm ô bao nhiêu, là phàm hay thánh, là
địa ngục hay súc sanh thì tâm ấy vẫn đó, muôn đời bất
tận. Chẳng qua vì mê hay ngộ mà thấy có khác chứ không
hề có tâm khác. Như sợi dây, do mờ tối mà người thấy
thành rắn, người thấy thành nhánh cây khô. Tùy cái thấy
lầm của mỗi người mà sợi dây thành rắn hay nhánh cây
khô, còn bản chất thật của nó vẫn là sợi dây. Khi giải
thích, nói sợi dây mà không nói con rắn hay cây khô là muốn
hiển bày đúng như chính nó. Cũng vậy! Dù là tâm chúng sanh
thì từ vô thủy đến nay, tâm ấy vẫn là pháp thể chân
như thường hằng không biến đổi. Cho nên, dù “Pháp ấy
là tâm chúng sanh” thì PHÁP ẤY vẫn là “Thể của nhất
pháp giới đại tổng tướng pháp môn”.
“TÂM
NÀY nhiếp tất cả pháp thế gian và xuất thế gian” vì thể
và tướng của tâm này không chướng ngại nhau. Nhiễm và
tịnh cùng nương tâm này. Theo dòng bất giác hoặc ngược
dòng hoàn tịnh chỉ một tâm này mà chuyển. Nếu theo duyên
nhiễm thì thành bất giác, thu nhiếp pháp thế gian. Nếu là
bản giác và thủy giác thì nhiếp pháp xuất thế gian.
“Y
NƠI TÂM NÀY hiển thị nghĩa Đại thừa” vì không có tâm
chúng sanh thì nghĩa Đại thừa cũng chẳng lập. Vì có tâm
chúng sanh, y tâm đó mà lập nghĩa Đại thừa. Tâm chúng sanh
là chỗ y cứ lập nên Đại thừa, nên nói là Y TÂM ĐÓ. Ngay
tâm đó mà lập nghĩa Đại thừa nên ai cũng có thể phát
niềm tin chân chánh đối với Đại thừa, ai cũng có khả
năng thành Phật, và tu hành thì phải ngay tâm đó mà tu, không
thể nương cầu bên ngoài.
TƯỚNG
và THỂ - còn gọi là TÁNH - là từ nhà Phật dùng để chỉ
hình tướng và bản chất của một pháp. Người đời thường
cho thế giới và vạn pháp hiện có đây là thật, tức nhập
TƯỚNG và TÁNH làm một, cho TƯỚNG chính là TÁNH. Dưới cái
nhìn của nhà Phật, TƯỚNG là thứ có thể thấy ở được
ở một pháp, nhưng TÁNH thì không. Kinh hay gọi là TÁNH KHÔNG.
Nói pháp KHÔNG không phải vì tướng nó không mà vì cái tướng
ấy không có chất thật, cái không ấy không phải là tướng
mình có thể thấy. Thứ gì còn là đối tượng của cái thấy
đều là vọng dù đó là tướng không. Vạn pháp vì đó, chỉ
như sóng nắng hay hoa đốm trên không, có hình mà không có
chất.
Pháp
nào ở thế gian cũng có 2 phần tướng và tánh đó. Song nói
TÁNH nói TƯỚNG là để nắm được vấn đề, không phải
có thể tách chúng làm 2 như TƯỚNG và TÁNH đang phân đây.
Vì cái không thể tách lìa được này mà trong ‘Tướng nhân
duyên sanh diệt của tâm ấy’ không phải chỉ có 2 phần
TƯỚNG và DỤNG mà phải gom luôn cái THỂ đã phân trong phần
Tướng Chân Như.
Như
nước, nước đá và hơi nước đều có bản chất là H2O.
H2O gọi là THỂ của 3 thứ đó. Hình thức nước, nước đá
hay hơi nước mà ta đang cảm nhận đó gọi là TƯỚNG. Tuy
cùng một THỂ mà TƯỚNG lại khác nhau vì tùy duyên. Trong
cái duyên là nhiệt độ bình thường, ta có nước. Trong cái
duyên nhiệt độ cao, ta có hơi nước. Trong cái duyên nhiệt
độ thấp, ta có nước đá. Song dù mang hình tướng nào, chúng
vẫn không rời cái THỂ H2O. Không có cái THỂ này thì không
thể có các tướng và dụng ấy. Vì vậy tướng nhân duyên
thì đủ cả 3 thứ là THỂ, TƯỚNG và DỤNG mà không phải
2, dù đã phân phần THỂ qua phần Tướng Chân Như .
Duyên
khởi mới có TƯỚNG, nên gọi là TƯỚNG NHÂN DUYÊN. Tướng
do nhân duyên sanh nên không tánh. Không tánh nên pháp không
có tướng cố định mà sanh diệt sanh diệt thay đổi liên
tục. Bởi cớ sự ấy mà nói là TƯỚNG NHÂN DUYÊN SANH DIỆT.
DỤNG
là chỉ cho mặt tác dụng của pháp. Pháp nào cũng có cái
dụng của riêng nó. Như nước để uống, nước đá để
chườm đầu, hơi nước dùng chạy tàu v.v… Phải có THỂ
thì mới có TƯỚNG. Đã có THỂ và TƯỚNG thì có DỤNG.
Pháp
XUẤT THẾ GIAN là chỉ cho 4 thánh : Thanh văn, Duyên giác, Bồ
tát và Phật. Pháp THẾ GIAN là chỉ cho 6 phàm : Địa ngục,
ngạ quỉ, súc sanh, người, trời, atula. Vì tâm này vốn là
chân như nên nó nhiếp pháp xuất thế gian. Vì y nơi nghiệp
thức mà có sanh tử nên nó nhiếp pháp thế gian. NHIẾP nghĩa
là thu gom, nắm giữ.
Trên
đã chỉ ra tâm pháp chân vọng, làm rõ pháp thể Đại thừa.
Dưới nói rõ về NGHĨA của pháp ấy.
II.
NGHĨA : có 3 thứ. Thế nào là 3?
1.
THỂ đại, vì là chân như bình đẳng chẳng tăng chẳng giảm
của tất cả pháp.
2.
TƯỚNG đại, vì Như Lai Tạng đầy đủ vô lượng tánh công
đức.
3.
DỤNG đại, vì hay sanh tất cả thiện nhân quả của thế
gian và xuất thế gian.
Đây
là chỗ nương gốc của tất cả chư Phật. Tất cả Bồ tát
đều nương nơi pháp này mà đến đất Như Lai.
NGHĨA,
tương đương với từ ‘nghĩa lý’ hay ‘nội dung’. Phần
NGHĨA này được lập ra là để hiểu vì sao có tên Đại
thừa. Gọi là ĐẠI vì nó có 3 nghĩa thể, tướng và dụng
lớn không có bờ mé. Gọi là THỪA vì nhờ nó, chư Phật
và Bồ tát mới có thể viên mãn Phật quả. THỪA, nghĩa của
nó là nương, vận chuyển. Nương đó mà đi nên gọi là THỪA.
Ngài Hám Sơn nói “Nương nơi 2 pháp chân vọng mà có 2 chuyển
y nên gọi là THỪA”. 2 chuyển y là chuyển phiền não thành
niết bàn, chuyển sở tri thành bồ đề. Chư Phật và Bồ
tát nương 2 cái chuyển ấy để đến đất Như Lai nên gọi
là THỪA. Thừa ấy chư Phật và Bồ tát mới kham nhận được
nên gọi là ĐẠI.
3 thứ
thể, tướng và dụng này đã có phần Giải Thích giải rõ
nên đây không đi vào chi tiết.
CHỖ
NƯƠNG GỐC là chỉ cho Đại thừa. GỐC vì không có nó thì
không có việc thành Phật.
ĐẤT
NHƯ LAI là chỉ cho ‘pháp tánh chân như’ sẵn đủ trong mỗi
chúng sanh. Nói là ĐẾN nhưng ngay đó mà nhận, ngay đó mà
tu, ngay đó mà thể nhập. Ngay đó là ngay nơi cái tâm sanh
diệt mình đây. Buông hết những phân biệt, vui, buồn, suy
nghĩ, nhớ mong v.v… thì ngay đó là đất Như Lai.
Đã
nói phần Lập Nghĩa, kế là phần Giải Thích.
Đây
là kết phần trước, giới thiệu phần sau.