Thành
kính tri ân
Sư
ông - Hòa thượng Thích Thanh Từ
Bổn
sư - Hòa thượng Thích Nhật Quang
Đã
giúp chúng con đầy đủ niềm tin để hoàn thành việc dịch
giải bộ luận.
Chân
thành cảm ơn
Chư
vị Hòa thượng, Thượng tọa, Tăng, Ni, Cư sĩ, Học giả đã
giúp chúng tôi trong việc dịch thuật, hỗ trợ tài liệu tham
cứu, cũng như có các công trình nghiên cứu, dịch thuật giúp
chúng tôi có được kiến thức cần thiết
cho
việc dịch giải bộ luận.
Kính
dâng Thầy với tất cả lòng thành kính của con
Kỷ
niệm ngày 20.11.2004
MỤC LỤC
Lời
giới thiệu
Thay
lời tựa
Cương
Yếu Pháp Giới Duyên Khởi của Đ.S Hám Sơn
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN Phần I.
Giải
thích nghĩa Đại Thừa Khởi Tín Luận
Kệ
mở đầu
Vào
luận
PHẦN
NHÂN DUYÊN.
PHẦN
LẬP NGHĨA.
I.
Pháp
II.
Nghĩa
PHẦN
GIẢI THÍCH.
I.
Hiển thị chánh nghĩa
A.
Tâm chân như
A1.
Không
A2.
Bất không
B.
Tâm sanh diệt
B1.
Giác (Thủy giác, 4 tướng và 4 không kính)
B2.
Bất giác (3 tế và 6 thô)
Nhân
duyên sanh diệt
5
loại ý và ý thức
6
loại nhiễm tâm
Tướng
sanh diệt
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN LUẬN Phần II.
Nghĩa
của huân tập
Huân
tập khởi nhiễm pháp chẳng dứt
A.
Vọng tâm huân tập
B.
Vô minh huân tập
Huân
tập khởi tịnh pháp chẳng dứt
A.
Vọng tâm huân tập
B.
Chân như huân tập
II.
Đối trị tà chấp
A.
Nhân ngã kiến
B.
Pháp ngã kiến
III.
Phân biệt tướng đạo phát tâm
A.
Tín thành tựu phát tâm
B.
Giải hạnh phát tâm
C.
Chứng phát tâm
PHẦN
TU HÀNH TÍN TÂM.
4
loại tín tâm
5
môn tu hành
Phần
Chỉ - Quán
Phần
Niệm Phật
PHẦN
LỢI ÍCH VÀ KHUYÊN TU.
Sách
tham khảo
Họa
đồ Nhất Pháp Giới Tâm của P.S Quán Đỉnh
Lời giới
thiệu
Con
đường Phật đạo dài lâu nghiêm tuấn, cũng kỳ khu khúc
khuỷu, không kém nguy nan. Đi vào con đường này, hành giả
phải trải qua những nhân duyên xa gần. Từ đó mở lòng đón
nhận, xây dựng một niềm tin, không kể thời gian là bao lâu.
Một niềm tin chân chánh vừa vặn vuông tròn. Niềm tin Phật
đạo.
Lời
đức Thế Tôn vẫn còn đó, trải qua ba vô số kiếp quên
thân hành đạo mới có thể viên thành Phật đạo. Là người
con Phật đã phát nguyện đi con đường Phật, từng chút vun
bồi nguyện lực lớn dần, nỗ lực cùng các Pháp hữu nhịp
nhàng tiến bước ; từng phút sống trong chánh pháp dồi mài
tinh luyện, nghiên tầm giáo điển, một dạ chí thành vì sự
tu tập cho mình, cho người. Có thế mới mong thu ngắn đoạn
đường dài lâu vô kể.
Trên
tinh thần đó, bản Đại Thừa Khởi Tín Luận này của Bồ
tát Mã Minh được phật tử Chân Hiền Tâm chuyển dịch từ
chữ Hán sang chữ Việt, cũng không ngoài mục đích dò theo
dấu vết nghìn năm cũ của các bậc Bồ tát, tìm lại nơi
chính mình mạng mạch sống chân thật muôn đời. Tuy phần
dịch & giải chưa toát hết được lời Phật ý Tổ, song
cũng là thiện chí và lòng nhiệt thành của một phật tử.
Chúng tôi xin có đôi lời giới thiệu cùng độc giả.
Kính
ghi
Thiền
viện Thường Chiếu, cuối Hạ 2548
Thích
Nhật Quang
Thay lời
tựa
Luận
ĐẠI
THỪA KHỞI TÍN được Bồ tát Mã Minh làm vào khoảng
600 năm sau khi Phật nhập diệt, nhằm phá bỏ cái thấy thiên
lệch của Tiểu thừa cũng như những định kiến sai lầm
của Ngoại đạo. Ngày nay bộ luận không chỉ mang ý nghĩa
ấy mà nó còn có giá trị tích cực đối với người tu Đại
thừa. Giá trị ấy nằm ở chỗ : Ngoài phần thâm nghĩa được
trình bày bao quát đầy đủ trong phần Lập Nghĩa và Giải
Thích, còn có phần Phân Biệt Tướng Đạo Phát Tâm, là phần
giúp người tu chúng ta phân biệt và xác định được vị
trí cũng như mức độ tu hành của chính mình, tránh tình trạng
lầm lẫn giữa LÝ và SỰ, giữa kiến giải với chỗ thực
chứng, được ít cho là nhiều, chưa được mà tưởng được
v.v…
Bản
dịch đây được dịch từ bản Hán văn của ngài Hám Sơn.
Vì muốn giữ nguyên phong cách cũng như ý nghĩa của chánh
văn, tránh đưa ý mình vào lời của người xưa nhiều chừng
nào tốt chừng nấy, nên tôi cố gắng dịch sao cho sát với
văn từ chữ Hán. Sát quá thì lời văn không được chải
chuốt. Bù lại, nó sẽ giúp độc giả có thể nghiền ngẫm
trực tiếp lời dạy của bậc Cổ đức bằng tư duy của
chính mình, không vì sự chải chuốt văn từ của dịch giả
mà ý nghĩa của văn có khi thành sai lệch. Về phần giải
thích, tôi có tham khảo 3 bản : Đại Thừa Khởi Tín Luận
Nghĩa Ký của ngài Hiền Thủ. Đại Thừa Khởi Tín Luận Trực
Giải của ngài Hám Sơn và Đại Thừa Khởi Tín Luận Giảng
Ký của ngài Ấn Thuận. Song do cái nhìn có chỗ đồng khác
nên phần trích dịch cũng như giải thích, tôi chỉ lấy bản
sớ giải của ngài Hiền Thủ và Hám Sơn làm chỗ y cứ cho
luận giải của mình.
“Cương
Yếu Pháp Giới Duyên Khởi Tông Hoa Nghiêm” và bản họa
đồ “Pháp giới nhất tâm đều được trích từ
Đại Thừa Khởi Tín Luận Trực Giải của ngài Hám Sơn. Bản
họa đồ là của pháp sư Quán Đĩnh tổng hợp nghĩa của
toàn luận mà tạo thành, được cư sĩ Tào Hiển Tông hiệu
chú thêm cho đầy đủ. Bản Việt văn là của Từ Mãn Nguyện.
Tuy
chủ đích của bộ luận là giúp người đời phát khởi niềm
tin đối với Đại thừa, song vì là “Tổng nhiếp tất cả
nghĩa lý sâu mầu vi diệu mà Như Lai đã nói”, chỗ sâu mầu
ấy lại là chỗ ngôn từ không thể đến, chỉ do sự nhận
hiểu của chúng sanh chưa thể rời ngôn từ mà chư Phật Tổ
tạm mượn ngôn từ để hiển bày, nên phần nghĩa lý cũng
có những chỗ không thể giải thích rõ ràng, cũng không thể
phương tiện thấp hơn để dễ nhận hiểu. Song là bộ luận
được làm cho người chưa có niềm tin đối với Đại thừa,
nên nghĩa lý chung của toàn luận không phải là thứ khó hiểu
một khi ta nắm được tinh thần tổng quát của nó.
NGHĨA
LÝ THÂM SÂU VI DIỆU mà Như Lai nói cũng chỉ là những gì
mà các triết gia cũng như các nhà đạo học vẫn và đang
tìm kiếm : Bản chất thật của cái gọi là thế gian, vũ
trụ và con người đây là gì? Ta là ai và thế giới này từ
đâu mà có? Cội nguồn chân thật của mọi hiện tượng và
muôn loài sống trên thế gian này là gì? Triết gia tìm kiếm
và dựng lập nó bằng chính những tri thức của mình. Mọi
thứ đều quanh quẩn trong ngôn từ. Song cội nguồn ấy lại
là thứ nằm ngoài ngôn từ. Ngôn từ chỉ là phương tiện
tạm dùng của Như Lai để dẫn đường cho chúng sanh. Ngài
ví chúng như ngón tay chỉ mặt trăng. Ngón tay không phải là
mặt trăng. Song nhờ ngón tay ta mới thấy được mặt trăng.
Vì thế luận đây, ngoài phần giải thích nghĩa lý sâu mầu
mà Như Lai đã nói, còn có phần hướng dẫn tu hành.
Phần tu hành này chính là cỗ xe đưa chúng ta trực nhận lại
cội nguồn chân thật của vạn pháp. LẬP NGHĨA và GIẢI THÍCH
là để ta nắm được những gì mà Như Lai đã nói. Song phải
áp dụng những gì đã lập bày trong phần TU HÀNH TÍN TÂM,
trải qua 3 giai đoạn trong phần PHÂN BIỆT TƯỚNG ĐẠO PHÁT
TÂM, ta mới trở về được cội nguồn chân thật của chính
mình.
CỘI
NGUỒN ấy - kinh luận gọi là thật tướng hay thật tánh của
vạn pháp - chính là TÂM THỂ mà tất cả chư Phật cùng chúng
sanh đồng có. Tâm thể ấy không ngoài những thứ như suy
nghĩ và những cảm giác vui, buồn, thương, ghét mà mình đang
nhận là tâm mình đây, song nó không phải là những thứ ấy.
Những thứ ấy chỉ là đầu não làm phát sinh vô vàn thế
giới với vô vàn chủng loại sai biệt hiện nay. Luận lập
TÂM CHÂN NHƯ là để chỉ cho cái cội nguồn chung cùng ấy,
TÂM SANH DIỆT với 3 tế, 6 thô, 6 nhiễm là để chỉ cho quá
trình hình thành phát sinh vô vàn thứ sai biệt ấy.
“Tam
giới duy tâm, vạn pháp duy thức”. Những thế giới mình
thấy được như thế giới mình đang sống đây, hoặc những
thế giới mình không thấy được như thế giới của ngạ
quỉ, chư thiên v.v... Tất cả đều không ngoài tâm mà có,
nên nói DUY TÂM. Vạn pháp với muôn hình vạn trạng biến
đổi vô cùng vô tận của thế giới này đều do phân biệt
- gọi là thức - mà ra, nên nói DUY THỨC. Những người bạn
tốt, một cuộc sống ấm no hay một đời sống vô vàn khổ
cực với một gia đình bất hạnh, một thế giới bình an
hay đầy đau thương chiến tranh đều là chỗ hiện của tự
tâm. Một niệm tâm thiện là cái nhân để có một cảnh giới
thiện. Một niệm tâm bất thiện là cái nhân để có một
cảnh giới bất thiện. Thiên đàng hay địa ngục đều không
lìa tâm. Lý duy tâm, duy thức được hiển rõ trong toàn luận,
nhất là trong phần SỞ KIẾN PHẬT THÂN ở phần II, mà sự
HUÂN TẬP chính là nguyên nhân khiến chân thể thanh tịnh phát
sinh thành cảnh giới chúng sanh, cũng là điều kiện để một
chúng sanh có thể thành Phật. Đây là lý do vì sao nhà thiền
dạy người “Phản quan tự kỷ bổn phận sự”. Có gì không
từ tâm sanh mà không quay lại tâm mình?
Luận
này đề cập đến chỗ sâu mầu của Phật pháp nên với
đa số là điều khó tin, khó hiểu. Khó tin, khó hiểu vì chỗ
sâu mầu ấy vượt ngoài suy nghĩ thường tình của người
đời. Song cái mình không thấy không hẳn nó không có. Kinh
Hoa Nghiêm nói “Mặt trời chiếu khắp nhưng người mù chẳng
thấy. Chẳng thấy nhưng vẫn được lợi ích”. Cho nên, dù
khó tin, khó hiểu thì ta có quyền thắc mắc, tìm hiểu nhưng
không nên phỉ báng, chê bai. Vì chê bai là ta đang bít con đường
dẫn đến chân lý của chính mình. Một khi chân lý đã bít
thì khổ nạn không bao giờ chấm dứt. Không phải do mê chân
lý ấy mà chúng sanh đang chịu vô vàn khổ não như hiện nay
sao? Vì thế, trong phần cuối là LỢI ÍCH VÀ KHUYÊN TU, Tổ
Mã Minh nói “Có chúng sanh nào đối với luận này sinh lòng
hủy báng chẳng tin, sẽ bị tội báo qua vô lượng kiếp và
chịu vô vàn khổ não. Cho nên, chúng sanh chỉ nên kính tin,
chẳng nên hủy báng”.
Chân
Hiền Tâm
CƯƠNG
YẾU
PHÁP
GIỚI DUYÊN KHỞI TÔNG HOA NGHIÊM
Đại
sư Hám Sơn Thích Đức Thanh
Trong
bảy vị Tổ của tông Hoa Nghiêm, Mã Minh là Sơ Tổ. [1]
Song trong luận này chưa đề cập đến yếu chỉ VIÊN DUNG.
Vì sao? Vì trước đây chưa có người biết về thuyết này,
còn kẻ hậu học thì lại mù mờ chẳng thể phân biện, nên
tôi hoàn toàn chẳng thêm ý nào. Lại, cổ nhân kiến lập
tông chỉ đâu cần phải nói đầy đủ rõ ràng hết với
người đời. Nên nay tôi chỉ lược nói về những chỗ then
chốt để người biết tông chỉ của nó.
Tông
Hoa Nghiêm viên giáo lấy nhất chân pháp giới gồm thâu BỐN
PHÁP GIỚI. Y bốn pháp giới lập MƯỜI HUYỀN MÔN. Tuy là
bốn giới mười huyền nhưng đều nhơn LỤC TƯỚNG mà lập.
Vì thế lục tướng trở thành mấu chốt của VIÊN DUNG vô
ngại. Luận này nói rõ toàn bộ lục tướng là bao quát hết
lý thú của bốn giới, mười huyền. Vì lục tướng là giềng
mối của VIÊN DUNG nên luận này nhiếp pháp giới vô tận
vậy. Vì thế, đầu tiên nêu ra nhất tâm chân như là THỂ
của “Đại tổng tướng pháp môn”.
Lại,
luận này y cứ hàng trăm bộ Đại thừa mà làm ra, song trăm
bộ Đại thừa là do hóa thân Phật kiến lập, tức thật
là quyền. Nay luận này tổng nhiếp quyền thừa qui về một
cái thật, chủ ý muốn hiển tức quyền là thật, dẫn qui
về biển quả VIÊN DUNG tột cùng. Trong luận tuy chưa hiển
rõ về ý chỉ VIÊN DUNG, song tam thừa, năm tánh, đốn tiệm,
tu chứng đều gom về cội nguồn biển quả nhất tâm, mà
công đức viên dung đầy đủ đều là sự vi diệu của nhất
tâm. (Đã nói đầy đủ trong tông Hoa Nghiêm nên đây chẳng
nói). Chỉ là nhiếp dẫn qui về biển tánh, nên trong luận,
chỗ qui về đầu tiên là báo thân Phật, cho đến sở kiến
của người đoạn hoặc cũng là báo thân Phật.
Nghĩa
của luận đã nói đầy đủ nhiễm và tịnh - cùng đồng
một chân - là tướng dụng của nhất tâm. Bởi nhất niệm
làm duyên khởi cho nhiễm tịnh nên hoàn toàn giống như trong
Hoa Nghiêm lấy “Pháp giới duyên khởi” làm tông, mà Thập
nhị duyên sanh tức là Như Lai Phổ Quang Minh Trí. Thì biết,
yếu chỉ nhập pháp giới của tông Hoa Nghiêm ắt hẳn lấy
luận này làm cửa nhập pháp giới vậy.
LỤC
TƯỚNG là các tướng tổng, biệt, đồng, dị, thành, hoại.
1.
TƯỚNG TỔNG, chính là nhất tâm chân như, là thể của “Pháp
giới đại tổng tướng pháp môn”.
2.
TƯỚNG BIỆT, tức nhất tâm, 2 môn, 3 tế, 6 thô, 5 ý, 6 nhiễm,
tu đoạn sai biệt.
3.
TƯỚNG ĐỒNG, tức thánh, phàm, nhiễm, tịnh, nhân, quả, tánh,
tướng đồng một chân như. Dụ như đồ gốm cùng đồng
vi trần.
4.
TƯỚNG DỊ, tức các pháp nhiễm tịnh, mỗi mỗi sai biệt,
chẳng một chẳng khác. Dụ như các loại đồ gốm đều từ
vi trần mà có, nhưng chẳng phải là một.
5.
TƯỚNG THÀNH, tức các pháp nhiễm tịnh, đều từ một niệm
duyên khởi mà thành.
6.
TƯỚNG HOẠI, tức các pháp nhiễm tịnh, mỗi thứ đều có
vị trí của nó, nhưng mỗi mỗi không tánh, không thể tự
dựng lập.
BỐN
PHÁP GIỚI là lý pháp giới, sự pháp giới, lý sự vô ngại
pháp giới, sự sự vô ngại pháp giới.
1.
LÝ PHÁP GIỚI tức nhất tâm chân như không có pháp sai biệt,
một chân lý toàn nhất.
2.
SỰ PHÁP GIỚI là tất cả thánh, phàm, nhiễm, tịnh y nơi
chánh nhân quả và các sự pháp sai biệt.
3.
LÝ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI, do LÝ SỰ ở trên cùng thành, cộng
lại có 10 môn. Vì SỰ thấu LÝ thành nên toàn LÝ thành SƯï.
Bởi LÝ thành SƯï nên toàn SƯï tức LÝ. Bởi LÝ hay thành
SƯï, nên SƯï chẳng ngại LÝ mà hay hiển LÝ. Vì SỰ thấu
LÝ thành, nên LÝ chẳng ngại SƯï mà hay dung SỰ. LÝ hay thành
SỰ nên toàn SỰ tức LÝ. SƯï hay hiển LÝ nên toàn LÝ tức
SƯï. Vì LÝ SỰ tương tức nên được LÝ SỰ dung hòa vô
ngại. Trong Thập Môn của Pháp Giới Quán phân biệt rất là
rõ rệt, đây chỉ lược nêu yếu chỉ của nó.
4.
SỰ SỰ VÔ NGẠI PHÁP GIỚI, vì LÝ SỰ vô ngại, nay toàn LÝ
thành SỰ nên bất tất lại nói lý của nó. Vì toàn SỰ toàn
LÝ nên sự sự dung nhiếp, không chướng không ngại. Chỉ
vì LỤC TƯỚNG thâu gom tất cả sự pháp thì pháp pháp viên
dung nên thành 10 tầng huyền môn. Vì hiển bày đại dụng
của pháp giới nên nghĩa của luận này hội lục tướng là
đã nhiếp tông Viên Dung Cụ Đức sự sự vô ngại. Nghĩa
của mười huyền môn đã nói đầy đủ trong Hoa Nghiêm Huyền
Đàm. Nay chỉ kể tên.
MƯỜI
HUYỀN MÔN
1.
Đồng thời cụ túc tương ưng môn
2.
Quảng hiệp tự tại vô ngại môn
3.
Nhất đa tương dung bất đồng môn
4.
Chư pháp tương tức tự tại môn
5.
Ẩn mật liễu hiển câu thành môn
6.
Vi tế tương dung an lập môn
7.
Nhân đà la võng cảnh giới môn
8.
Thác sự hiển pháp sanh giải môn
9.
Thập thế cách pháp cộng thành môn
10.
Chủ bạn viên dung cụ đức môn
11.
Nghĩa của mười huyền môn này được nói rõ trong Pháp Giới
Quán và Huyền Đàm.
Lão
già ẩn dật núi Khuông Lô
Hám
Sơn Thích Đức Thanh
Xem
thêm:
Ðại
Thừa Khởi Tín Luận, Dịch Ngĩa Và Lược Giải, HT Thiện
Hoa
Đại
Thừa Luận Khởi Tín, HT. Thích Trí Quang
Chân
Như Quan Phật Giáo, Kimura Taiken -Việt Dịch: HT. Thích Quảng
Độ
06-11-2007
06:23:12