[06]
Kinh
Ðại Niệm Xứ
NAMO
TASSA BHAGAVATO ARAHATO SAMMASAMBUDDHASSA
Con
xin thành kính đảnh lễ Ðức Thế Tôn,
Ngài
là Bậc Alahán cao thượng, Ðấng Chánh Biến Tri
Tôi
nghe như vầy.
Một
thuở nọ, Ðức Thế Tôn ở tại xứ Kuru. Xứ này có một
thị trấn tên là Kamma-sadamma. Tại đó, Ðức Phật đã dạy
các thầy tỳ khưu như vầy: "Này các thầy tỳ khưu". Và các
thầy tỳ khưu thưa: "Xin vâng, Bạch thế Tôn". Và Ðức Thế
Tôn đã nói như sau:
Ðây
là con đường duy nhất để thanh lọc (tâm) chúng sanh, chấm
dứt lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, diệt khổ thân
và khổ tâm, đạt Thánh Ðạo và Giác ngộ Niết Bàn. Ðó
là Tứ Niệm Xứ.
Bốn
cách quán sát hay bốn Niệm Xứ đó là gì ?
Này
các thầy Tỳ khưu, ở đây, (trong lời dạy này), Tỳ khưu
quán sát thân trong thân, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm
để loại bỏ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi
đời. Thầy tỳ khưu quán sát thọ trong thọ, tinh cần, tỉnh
giác và chánh niệm để loại trừ mọi tham ái và ưu phiền
(sân hận) trong cõi đời. Thầy tỳ khưu quán sát tâm trong
tâm, tinh cần tỉnh giác và chánh niệm để loại trừ mọi
tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi đời. Thầy tỳ khưu
quán sát pháp trong pháp, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm
để loại trừ mọi tham ái và ưu phiền (sân hận) trong cõi
đời.
I.
Quán sát thân trong thân
A.
Chánh niệm hơi thở
Và,
này các thầy tỳ khưu, như thế nào tỳ khưu quán sát thân
trong thân? Này các thầy tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu đi vào
trong khu rừng, đến dưới cội cây, hoặc đi đến nơi thanh
vắng, ngồi xếp bằng, giữ lưng thẳng, chánh niệm vào đề
mục hành thiền. Chánh niệm, tỳ khưu thở vào, chánh niệm,
tỳ khưu thở ra."
Thở
vào một hơi dài, thầy tỳ khưu biết: "tôi thở vào dài";
thở ra một hơi dài, thầy tỳ khưu biết "tôi thở ra dài".
Thở
vào một hơi ngắn, thầy tỳ khưu biết: "tôi thở vào ngắn".
Thở ra một hơi ngắn, thầy tỳ khưu biết: "tôi thở ra ngắn".
"Nhận
thức rõ toàn thể hơi thở vào (khởi đầu, kéo dài và chấm
dứt), tôi sẽ thở vào", thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy
(nghĩa là thầy tỳ khưu tự huấn luyện như vậy). "Nhận
thức rõ toàn thể hơi thở ra (khởi đầu, kéo dài và chấm
dứt), tôi sẽ thở ra, thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy.
An
tịnh thân hành (an tịnh hơi thở vào thô tháo nhân duyên bởi
thân), tôi sẽ thở vào, Tỳ khưu tinh tấn như vậy. An tịnh
thân hành (an tịnh hơi thở ra thô tháo nhân duyên bởi thân),
tôi sẽ thở ra, Tỳ khưu tinh tấn như vậy.
(Theo
chú giải câu này có nghĩa: Khi thở vào trở nẽn an tịnh,
vi tế khó thấy, khó ghi nhận. Thầy Tỳ kheo phải cố gắng
chú tâm và tinh tấn nhiều hơn để thấy rõ. Khi hơi thở
ra trở nên an tịnh, vi tế khó thấy, khó ghi nhận. Thầy Tỳ
kheo phải cố gắng chú tâm và tinh tấn nhiều hơn để thấy
rõ)
Như
một người thợ tiện rành nghề và học trò của ông ta khi
quay một vòng dài thì biết rằng: "tôi quay một vòng dài",
khi quay một vòng ngắn thì biết rằng: "tôi quay một vòng
ngắn". Cũng vậy, Tỳ khưu khi thở vào một hơi dài biết
rằng: "tôi thở vào dài", Tỳ khưu khi thở ra một hơi dài
biết rằng: "tôi thở ra dài", Tỳ khưu khi thở vào một hơi
ngắn biết rằng: "tôi thở vào ngắn", Tỳ khưu khi thở ra
một hơi ngắn biết rằng: "tôi thở ra ngắn". "Nhận thức
rõ toàn thể hơi thở vào" (khởi đầu, kéo dài và chấm dứt)
tôi sẽ thở vào, thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy (nghĩa là
thầy tỳ khưu tự huấn luyện như vậy). "Nhận thức rõ toàn
thể hơi thở ra" (khởi đầu, kéo dài và chấm dứt) tôi sẽ
thở ra, thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy. "Tinh tấn chú tâm
vào hơi thở lúc hơi thở trở nên vi tế khi thở vào", tỳ
khưu thở vào. "Tinh tấn chú tâm vào hơi thở lúc hơi thở
trở nên vi tế khi thở ra", tỳ khưu thở ra.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của toàn
thể hơi thở, hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự
diệt tận) của toàn thể hơi thở, hoặc tỳ khưu quán sát
yếu tố sinh khởi và diệt tận (sự sinh khởi và sự diệt
tận) của toàn thể hơi thở.
Hoặc
Tỳ khưu chỉ thuần chánh niệm trên toàn thể hơi thở mà
thôi
(Chỉ
có hơi thở, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà,
cá nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về
tự ngã vv...)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến để khỏi lệ thuộc hay bám
níu vào bất cứ vật gì trên đời.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ gì trên thế gian hợp thành
do ngũ uẩn thủ.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
B.
Các tư thế của thân
Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, khi đang đi tỳ khưu biết "tôi
đang đi", khi đang đứng tỳ khưu biết "tôi đang đứng", khi
đang ngồi tỳ khưu biết "tôi đang ngồi", khi đang nằm tỳ
khưu biết "tôi đang nằm", hoặc khi cơ thể làm gì tỳ khưu
biết cơ thể như vậy.
Như
thế, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng " chỉ có thân mà thôi" (Nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v..v...)
Và
sự chánh niệm này được thiết lập để giúp cho sự phát
triển chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến để khỏi bị lệ thuộc hay
bám níu vào bất cứ vật gì trên đời.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ điều gì trên thế gian do
ngũ uẩn hợp thành.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
C.
Chánh niệm và tỉnh giác
Lại
nữa, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu tỉnh giác trong khi đi
tới, đi lui. Tỳ khưu tỉnh giác khi nhìn thẳng tới trước
và khi nhìn sang hai bên. Tỳ khưu tỉnh giác trong khi co tay hay
duỗi tay. Tỳ khưu tỉnh giác khi mặc y tăng già lê và các
y khác, và trong khi mang bát. Tỳ khưu tỉnh giác trong khi ăn,
uống, nhai, mút. Tỳ khưu tỉnh giác trong khi đại tiện, tiểu
tiện. Tỳ khưu tỉnh giác trong khi đi, đứng, nằm, ngồi,
nói năng và im lặng.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng " chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ vật gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
D.
Quán sát thân ô trược
Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát trên cơ thể
này từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống bao
bọc bởi da và đầy các loại bất tịnh khác nhau. Trong cơ
thể này có:
- Tóc,
lông, móng, răng, da
-
Thịt, gân, xương, tủy, thận
-
Tim, gan, ruột, lá lách, phổi
-
Phèo, bao tử, thực phẩm chưa tiêu, phẩn, óc
-
Mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ
-
Nước mắt, nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước
mũi, nước khớp xương, nước tiểu.
Như
một túi có hai miệng chứa đầy các loại hạt như lúa rừng,
lúa, đậu xanh, đậu bò, mè, gạo lức. Một người mắt tốt
đổ túi ra xem xét: "Ðây là lúa rừng, đây là lúa, đây là
đậu xanh, đây là đậu bò, đây là mè, đây là gạo lức."
Cũng vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát trên cơ
thể này từ gót chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống
bao bọc bởi da và đầy các loại bất tịnh khác nhau. Trong
cơ thể này có:
Tóc,
lông, móng, răng, da ,thịt, gân, xương, tủy, thận, tim, gan,
ruột, lá lách, phổi, phèo, bao tử, thực phẩm chưa tiêu,
phẩn, óc, mật, đàm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt,
nước mỡ (huyết tương), nước miếng, nước mũi, nước
khớp xương, nước tiểu.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu
quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân hay tỳ
khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của thân,
hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận (sự
sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ vật gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ vật gì trên thế gian do
ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
E.
Quán sát tứ đại
"Lại
nữa, nầy các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát chính thân
thể này
vị
thế và sự sử dụng đối với tứ đại. Trong thân này có
địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại (đất, nước,
lửa, gió).
Như
một người đồ tể thiện nghệ hay học trò của người
này giết một con bò và xẻ ra nhiều phần, ngồi ở ngã tư
đường. Cũng vậy, nầy các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán
sát chính thân thể này về phần tứ đại: Trong thân này
có địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại (đất,
nước, lửa, gió)."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng " chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ điều gì trên thế gian do
ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
F.
Chín đề mục quán sát Tử thi
1.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi, chết một ngày, hai ngày hay ba ngày, trương phình,
màu xanh , rã mục, vất trong nghĩa địa, thầy tỳ khưu áp
dụng tri giác (tưởng) này vào chính cơ thể mình: "Thật vậy,
cơ thể này (của ta) cũng có cùng bản chất như thế, nó
sẽ trở nên như vậy, không thể nào thoát khỏi đặc tính
đó".
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
2.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi vất bỏ trong nghĩa địa bị quạ, diều hâu, kên kên...
chó, báo, cọp, chồn ăn và bị đục khoét bởi dòi, thầy
tỳ khưu bèn áp dụng sự quán sát vào chính cơ thể mình
như sau: "Thật vậy, cơ thể này (của ta) cũng có cùng đặc
tính như vậy, nó cũng sẽ trở nên như cơ thể kia và không
vượt ra ngoài đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
3.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
Tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại xương nối
nhau bởi gân với chút ít thịt dính vào đó, thầy tỳ khưu
bèn áp dụng sự quán sát vào chính cơ thể mình như sau: "Thật
vậy, cơ thể này (của ta) cũng có cùng đặc tính như vậy,
nó cũng sẽ trở nên như cơ thể kia và không vượt ra ngoài
đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
4.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại xương nối
liền bởi gân, bê bết máu, không thịt, thầy tỳ khưu bèn
áp dụng sự quán sát vào chính cơ thể mình như sau: "Thật
vậy, cơ thể này (của ta) cũng có cùng đặc tính như vậy,
nó cũng sẽ trở nên như cơ thể kia và không vượt ra ngoài
đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
5.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại xương nối
liền bởi gân, không thịt, không máu, thầy tỳ khưu bèn áp
dụng tri giác này vào chính cơ thể mình: "Thật vậy, cơ thể
này (của ta) cũng có cùng đặc tính như vậy, nó cũng sẽ
trở nên như cơ thể kia và không vượt ra ngoài đặc tính
đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
6.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại xương rời
rã, rãi rác khắp nơi: đây là xương tay, đây là xương chân,
xương cằm, xương vế, xương đùi, xương sống và sọ, thầy
tỳ khưu bèn áp dụng sự quán sát vào chính cơ thể mình
như sau: "Thật vậy, cơ thể này (của ta) cũng có cùng đặc
tính như vậy, nó cũng sẽ trở nên như cơ thể kia và không
vượt ra ngoài đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
7.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
Tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại xương trơ bạc
màu như vỏ sò ốc, thầy tỳ khưu bèn áp dụng sự quán sát
vào chính cơ thể mình như sau: "Thật vậy, cơ thể này (của
ta) cũng có cùng đặc tính như vậy, nó cũng sẽ trở nên
như cơ thể kia và không vượt ra ngoài đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
8.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
Tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn những xương cũ
trên một năm, nằm thành đống, thầy tỳ khưu bèn áp dụng
sự quán sát vào chính cơ thể mình như sau: "Thật vậy, cơ
thể này (của ta) cũng có cùng đặc tính như vậy, nó cũng
sẽ trở nên như cơ thể kia và không vượt ra ngoài đặc
tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
9.
Lại nữa, này các thầy tỳ khưu, khi thầy tỳ khưu thấy
tử thi vất bỏ trong nghĩa địa chỉ còn lại những xương
vụn nát như bụi, thầy tỳ khưu bèn áp dụng sự quán sát
vào chính cơ thể mình như sau: "Thật vậy, cơ thể này (của
ta) cũng có cùng đặc tính như vậy, nó cũng sẽ trở nên
như cơ thể kia và không vượt ra ngoài đặc tính đó được."
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thân
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thân, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thân.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thân mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thân mà thôi)
(Chỉ
có thân, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
II.
Quán sát thọ trong thọ
Và
này các thầy tỳ khưu, thầy tỳ khưu quán sát thọ trong thọ
như thế nào?
Ở
đây, này các thầy tỳ khưu,
- khi
có lạc thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có lạc thọ";
- khi
có khổ thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có khổ thọ";
- khi
có vô ký thọ (cảm thọ không khổ không lạc), thầy tỳ
khưu biết: "Tôi có vô ký thọ".
- khi
có thế tục lạc thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có thế
tục lạc thọ";
- khi
có phi thế tục lạc thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có phi
thế tục lạc thọ";
- khi
có thế tục khổ thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có thế
tục khổ thọ";
- khi
có phi thế tục khổ thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có phi
thế tục khổ thọ";
- khi
có thế tục vô ký thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có thế
tục vô ký thọ";
- khi
có phi thế tục vô ký thọ, thầy tỳ khưu biết: "Tôi có
phi thế tục vô ký thọ".
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thọ trong nội thọ hay tỳ khưu quán
sát thọ trong ngoại thọ hay tỳ khưu quán sát thọ trong nội
thọ và ngoại thọ.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của thọ
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
thọ, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của thọ.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có thọ mà thôi". (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên thọ mà thôi)
(Chỉ
có thọ, không có người, chúng sinh, đàn ông, đàn bà, cá
nhân, tôi, của tôi, tự ngã, không có cái gì thuộc về tự
ngã v.v..)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thọ trong thọ.
III.
Quán sát tâm trong tâm
Và
này các thầy tỳ khưu, thầy tỳ khưu quán sát tâm trong tâm
là như thế nào?
Ở
đây, này các thầy tỳ khưu,
- khi
tâm có tham, biết rằng tâm có tham;
- khi
tâm không tham, biết rằng tâm không tham;
- khi
tâm có sân, biết rằng tâm có sân;
- khi
tâm không sân, biết rằng tâm không sân;
- khi
tâm có si, biết rằng tâm có si;
- khi
tâm không si, biết rằng tâm không si;
- khi
tâm co rút biết rằng tâm co rút;
- khi
tâm không co rút biết rằng tâm không co rút;
- khi
tâm tán loạn, biết rằng tâm tán loạn;
- khi
tâm không tán loạn, biết rằng tâm không tán loạn;
- khi
tâm quảng đại, biết rằng tâm quảng đại;
- khi
tâm không quảng đại, biết rằng tâm không quảng đại;
- khi
tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn;
- khi
tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng;
- khi
tâm định, biết rằng tâm định;
- khi
tâm không định, biết rằng tâm không định.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát tâm trong nội tâm hay tỳ khưu quán
sát tâm trong ngoại tâm hay tỳ khưu quán sát tâm trong nội
tâm và ngoại tâm.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của tâm hay
tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
tâm, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của tâm.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có tâm mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên tâm mà thôi)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát tâm trong tâm.
IV.
Quán sát pháp trong pháp
Và,
này các thầy tỳ khưu; tỳ khưu quán sát pháp trong pháp là
như thế nào?
1.
Năm chướng ngại
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây thầy tỳ khưu quán sát pháp trong
pháp qua năm chướng ngại.
Và,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
năm chướng ngại là như thế nào?
Ở
đây, này các tỳ khưu, khi tham ái có mặt thầy tỳ khưu biết
rằng: "Có tham ái trong tôi", hay khi tham ái vắng mặt, thầy
tỳ khưu biết: "Không có tham ái trong tôi"; thầy tỳ khưu
cũng biết lý do tham ái chưa sanh được sanh khởi, thầy tỳ
khưu cũng biết ý lý do tham ái đã sanh bị diệt trừ; thầy
tỳ khưu cũng biết lý do tham ái đã được diệt trừ không
còn khởi sanh nữa trong tương lai.
Khi
sân hận có mặt, thầy tỳ khưu biết, "có sân hận trong tôi".
Khi sân hận vắng mặt, thầy tỳ khưu biết "Không có sân
hận trong tôi". Thầy tỳ khưu cũng biết lý do sân hận chưa
sanh được sanh khởi; thầy tỳ khưu cũng biết lý do sân hận
đã sanh bị diệt trừ; thầy tỳ khưu cũng biết lý do sân
hận đã được diệt trừ không còn khởi sanh nữa trong tương
lai.
Khi
dã dượi buồn ngủ có mặt, thầy tỳ khưu biết, "có dã
dượi buồn ngủ trong tôi". Khi dã dượi buồn ngủ không có
mặt, thầy tỳ khưu biết, "không có dã dượi buồn ngủ trong
tôi". Thầy tỳ khưu cũng biết lý do dã dượi buồn ngủ chưa
sanh được sanh khởi; thầy tỳ khưu cũng biết lý do dã dượi
buồn ngủ đã sanh bị diệt trừ; thầy tỳ khưu cũng biết
lý do dã dượi buồn ngủ đã được diệt trừ không còn
khởi sanh nữa trong tương lai.
Khi
bất an và hối hận có mặt, thầy tỳ khưu biết, "có bất
an và hối hận trong tôi". Khi bất an và hối hận vắng mặt,
thầy tỳ khưu biết "không có bất an và hối hận trong tôi".
Thầy tỳ khưu cũng biết lý do bất an và hối hận chưa sanh
được sanh khởi; thầy tỳ khưu cũng biết lý do bất an và
hối hận đã sanh bị diệt trừ; thầy tỳ khưu cũng biết
lý do bất an và hối hận đã được diệt trừ không còn
khởi sanh nữa trong tương lai.
Khi
hoài nghi có mặt, thầy tỳ khưu biết, "có hoài nghi trong tôi".
Khi hoài nghi vắng mặt, thầy tỳ khưu biết "không có hoài
nghi trong tôi". Thầy tỳ khưu cũng biết lý do hoài nghi chưa
sanh được sanh khởi; thầy tỳ khưu cũng biết lý do hoài
nghi đã sanh bị diệt trừ; thầy tỳ khưu cũng biết lý do
hoài nghi đã được diệt trừ không còn khởi sanh nữa trong
tương lai.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát pháp trong nội pháp hay tỳ khưu quán
sát pháp trong ngoại pháp hay tỳ khưu quán sát pháp trong nội
pháp và ngoại pháp.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của pháp
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
pháp, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của pháp.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có pháp mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên pháp mà thôi)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát pháp trong pháp
qua năm chướng ngại..
2.
Ngũ uẩn thủ
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây thầy tỳ khưu quán sát pháp trong
pháp qua ngũ uẩn thủ.
Và,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
ngũ uẩn thủ là như thế nào?
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây, thầy tỳ khưu biết: "đây là
sắc, đây là sự khởi sinh hay nguyên nhân khởi sinh của sắc,
đây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt tận của sắc;
đây là thọ, đây là sự khởi sinh hay nguyên nhân khởi sinh
của thọ, đây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt tận
của thọ; đây là tưởng, đây là sự khởi sinh hay nguyên
nhân khởi sinh của tưởng, đây là sự diệt tận hay nguyên
nhân diệt tận của tưởng; đây là hành, đây là sự khởi
sinh hay nguyên nhân khởi sinh của hành, đây là sự diệt tận
hay nguyên nhân diệt tận của hành; đây là thức, đây là
sự khởi sinh hay nguyên nhân khởi sinh của thức, đây là
sự diệt tận của thức hay nguyên nhân diệt tận của thức".
Như
vậy, tỳ khưu quán sát pháp trong nội pháp hay tỳ khưu quán
sát pháp trong ngoại pháp hay tỳ khưu quán sát pháp trong nội
pháp và ngoại pháp.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của pháp
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
pháp, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của pháp.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có pháp mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên pháp mà thôi)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp
qua ngũ uẩn thủ.
3.
Sáu căn và sáu trần
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây thầy tỳ khưu quán sát pháp trong
pháp qua sáu căn và sáu trần.
Và,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
sáu căn và sáu trần là như thế nào?
Tỳ
khưu biết mắt, biết vật thấy và cũng biết được những
thằng thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy thuộc vào cả hai.
Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc (dây trói buộc)
chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do những
thằng thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại trừ. Và
tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại trừ
không còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Tỳ
khưu biết tai, biết âm thanh và cũng biết được những thằng
thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy thuộc vào cả hai. Tỳ
khưu cũng biết lý do những thằng thúc (dây trói buộc) chưa
sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng
thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại trừ. Và tỳ khưu
cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại trừ không
còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Tỳ
khưu biết mũi, biết mùi và cũng biết được những thằng
thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy thuộc vào cả hai. Tỳ
khưu cũng biết lý do những thằng thúc (dây trói buộc) chưa
sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng
thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại trừ. Và tỳ khưu
cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại trừ không
còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Tỳ
khưu biết lưỡi, biết vị và cũng biết được những thằng
thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy thuộc vào cả hai. Tỳ
khưu cũng biết lý do những thằng thúc (dây trói buộc) chưa
sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng
thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại trừ. Và tỳ khưu
cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại trừ không
còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Tỳ
khưu biết thân, biết vật xúc chạm và cũng biết được
những thằng thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy thuộc vào
cả hai. Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc (dây trói
buộc) chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do
những thằng thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại trừ.
Và tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại
trừ không còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Tỳ
khưu biết tâm, biết pháp (đối tượng của tâm) và cũng
biết được những thằng thúc (dây trói buộc) khởi sinh tùy
thuộc vào cả hai. Tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc
(dây trói buộc) chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết
lý do những thằng thúc (dây trói buộc) đã sinh được loại
trừ. Và tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc đã bị
loại trừ không còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát pháp trong nội pháp hay tỳ khưu quán
sát pháp trong ngoại pháp hay tỳ khưu quán sát pháp trong nội
pháp và ngoại pháp.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của pháp
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
pháp, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của pháp.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có pháp mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên pháp mà thôi)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp
qua sáu căn và sáu trần.
4.
Bảy yếu tố giác ngộ
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây thầy tỳ khưu quán sát pháp trong
pháp qua bảy yếu tố giác ngộ.
Và,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
bảy yếu tố giác ngộ là như thế nào?
Ở
đây, này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có niệm giác chi,
thầy tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có niệm giác chi", hay khi
nội tâm không có niệm giác chi, thầy tỳ khưu biết: "nội
tâm tôi không có niệm giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý do
của niệm giác chi chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng
biết lý niệm giác chi được hoàn hảo do sự tu tập.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có trạch pháp giác
chi, thầy tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có trạch pháp giác
chi", hay khi nội tâm không có trạch pháp giác chi, thầy tỳ
khưu biết: "nội tâm tôi không có trạch pháp giác chi". Tỳ
khưu cũng biết lý do trạch pháp giác chi chưa sinh được sinh
khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do sự tu tập trạch pháp giác
chi được hoàn hảo.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có tinh tấn giác
chi, thầy tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có tinh tấn giác chi",
hay khi nội tâm không có tinh tấn giác chi, thầy tỳ khưu biết:"nội
tâm tôi không có tinh tấn giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý
do tinh tấn giác chi chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng
biết lý do sự tu tập tinh tấn giác chi được hoàn hảo.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có hỉ giác chi, thầy
tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có hỉ giác chi", hay khi nội
tâm không có hỉ giác chi, thầy tỳ khưu biết:"nội tâm tôi
không có hỉ giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý do hỉ giác chi
chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do sự tu
tập hỉ giác chi được hoàn hảo.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có thư thái giác
chi, thầy tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có thư thái giác chi",
hay khi nội tâm không có thư thái giác chi, thầy tỳ khưu biết:"nội
tâm tôi không có thư thái giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý
do thư thái giác chi chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng
biết lý do sự tu tập thư thái giác chi được hoàn hảo.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có định giác chi,
thầy tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có định giác chi", hay
khi nội tâm không có định giác chi, thầy tỳ khưu biết:"nội
tâm tôi không có định giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý do
định giác chi chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết
lý do sự tu tập định giác chi được hoàn hảo.
Ở
đây này các thầy tỳ khưu, khi nội tâm có xả giác chi, thầy
tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có xả giác chi", hay khi nội
tâm không có xả giác chi, thầy tỳ khưu biết:"nội tâm tôi
không có xả giác chi". Tỳ khưu cũng biết lý do xả giác chi
chưa sinh được sinh khởi. Tỳ khưu cũng biết lý do sự tu
tập xả giác chi được hoàn hảo.
Như
vậy, thầy tỳ khưu quán sát pháp trong nội pháp hay thầy
tỳ khưu quán sát pháp trong ngoại pháp hay tỳ khưu quán sát
pháp trong nội pháp và ngoại pháp.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của pháp
hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự diệt tận) của
pháp, hoặc tỳ khưu quán sát yếu tố sinh khởi và diệt tận
(sự sinh khởi và sự diệt tận) của pháp.
Hoặc
Tỳ khưu chánh niệm rằng "chỉ có pháp mà thôi" (nghĩa là
chỉ thuần chánh niệm trên pháp mà thôi)
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu không dính mắc vào bất cứ đìều gì trên thế gian
do ngũ uẩn hợp thành này.
Như
vậy, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp
qua bảy yếu tố giác ngộ.
5.
Tứ Thánh Ðế
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây thầy tỳ khưu quán sát pháp trong
pháp qua Tứ Thánh Ðế.
Và,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
Tứ Thánh Ðế là như thế nào?
Này
các thầy tỳ khưu, ở đây tỳ khưu biết như thật "đây
là khổ"; tỳ khưu biết như thật "đây là nguyên nhân của
sự khổ"; tỳ khưu biết, như thật "đây là sự chấm dứt
khổ"; và tỳ khưu biết, như thật "đây là con đường dẫn
đến nơi dứt khổ".
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là chân lý cao thượng về
sự khổ? Sinh là khổ, già là khổ, chết là khổ, lo âu phiền
muộn, uất ức than khóc, khổ thân, khổ tâm và quá suy sụp
tinh thần là khổ, gần cái không ưa là khổ, xa cái ưa thích
là khổ; tóm lại, ngũ uẩn thủ là khổ.
Bây
giờ thế nào là sinh? Sự sinh của một chúng sanh tùy thuộc
vào giới loại của chúng sanh, sự ra đời của chúng, nguồn
gốc của chúng, sự vào thai bào của chúng, sự xuất hiện
các uẩn của chúng, sự thụ đắc các căn của chúng; này
các thầy tỳ khưu, như vậy được gọi là sinh.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là già? Sự già của một
chúng sanh tùy thuộc vào giới loại của chúng sanh, sự già
của chúng, sự suy thoái, sự rụng răng, sự bạc tóc, sự
nhăn da, sự suy sụp sức khỏe, sự suy mòn các căn; này các
thầy tỳ khưu, như vậy là già.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là chết. Sự ra đi và sự
biến mất của chúng sanh khỏi các giới loại mà chúng đang
sống, sự suy tàn, sự biến mất, sự đang chết, sự chết,
sự hoàn toàn chấm dứt đời sống, sự diệt của ngũ uẩn,
sự vất bỏ tử thi, sự suy tàn của các căn kiểm soát sức
sống, này các thầy tỳ khưu, như vậy là sự chết.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là lo âu phiền muộn? Những
ai gặp phải sự mất mát này hay mất mát khác, gặp phải
sự đau khổ này hay đau khổ khác, sự ăn năn, sự âu sầu,
tâm sầu muộn, sự sầu khổ bên trong, này các thầy tỳ khưu,
như vậy gọi là lo âu phiền muộn.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là uất ức than khóc? Những
ai gặp phải sự mất mát này hay mất mát khác, gặp phải
sự đau khổ này hay đau khổ khác, sự than khóc, sự bi thảm
và than khóc, trạng thái bi thảm và than khóc, này các thầy
tỳ khưu, như vậy gọi là uất ức than khóc.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là khổ thân? Sự đau khổ
về thân và sự không sảng khoái về thân, sự đau khổ, sự
không sảng khoái do thân xúc, này các thầy tỳ khưu, như vậy
gọi là khổ thân.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là khổ tâm (ưu phiền)?
Sự khổ tâm và sự không sảng khoái về tâm, sự khổ và
sự không sảng khoái do tâm xúc, này các thầy tỳ khưu, như
vậy gọi là khổ tâm.
Và
này, các thầy tỳ khưu, thế nào là sầu não? Những ai gặp
phải sự mất mát này hay mất mát khác, gặp phải sự đau
khổ này hay đau khổ khác, sự áo não, sự sầu não, trạng
thái của chúng sinh đang có sự áo não, trạng thái của chúng
sinh đang có sự sầu não, này các thầy tỳ khưu, như vậy
gọi là sầu não.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là đau khổ khi phải gần
những gì mà mình không ưa thích. Ở đây, bất kỳ những
gì không đáng yêu, không vừa lòng, không thích thú (sảng
khoái), hình sắc, âm thanh, mùi, vị và vật xúc chạm hoặc
bất kỳ vật gì mà mình muốn chúng mất, muốn chúng bị
hư hoại, muốn chúng không được thoải mái, muốn chúng không
tránh khỏi điều bất hạnh, nhưng mà mình lại phải sống
với chúng, chung đụng với chúng, yêu thương chúng, cùng hòa
lẫn với chúng. Này các thầy tỳ khưu, như vậy là gần với
những gì mà mình không ưa thích.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là xa cái mình ưa thích. ở
đây, bất kỳ cái gì đáng yêu, đáng ưa thích, dễ thương,
sắc, thinh, hương, vị, xúc hay những ai mà mình muốn cho họ
có sự an lạc, muốn cho họ có sự lợi ích, muốn cho họ
có sự thoải mái, muốn cho họ tránh xa những điều bất
hạnh, cha mẹ, anh, chị, em, bạn bè, đồng nghiệp, bà con
gần, bà con xa, nhưng không thể sống gần với mình, không
thể đến với mình, không có thiện cảm với mình, không
hòa lẫn với mình. Này các thầy tỳ khưu, như vậy là đau
khổ vì phải xa cái mình ưa thích.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là không đạt được cái
mình mong cầu?
Bị
chi phối bởi sự sanh, sự mong cầu sau đây có thể khởi
sanh: "Mong rằng ta khỏi bị sự sanh chi phối, mong rằng ta
khỏi đi tái sanh", nhưng thực ra, những điều này không thể
do mong cầu mà được. Như vậy là sự đau khổ do không đạt
được cái gì mà mình mong cầu.
Bị
sự già chi phối có thể khởi sinh sự mong cầu: "Mong rằng
ta khỏi bị sự già chi phối". Nhưng thực ra, những điều
này không thể do mong cầu mà được. Như vậy là không đạt
được cái gì mà mình mong cầu, và đó cũng là đau khổ.
Bị
bệnh tật chi phối có thể khởi sinh sự mong cầu: "Mong rằng
ta khỏi bị bệnh tật chi phối". Nhưng thực ra, những điều
này không thể do mong cầu mà được. Như vậy là không đạt
được cái gì mà mình mong cầu, và đó cũng là đau khổ.
Bị
sự chết chi phối có thể khởi sinh sự mong cầu: "Mong rằng
ta khỏi bị sự chết chi phối". Nhưng thực ra, những điều
này không thể do mong cầu mà được. Như vậy là không đạt
được cái gì mà mình mong cầu, và đó cũng là đau khổ.
Bị
lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, khổ thân, khổ tâm và
sầu não chi phối có thể khởi sinh sự mong cầu: "Mong rằng
ta khỏi bị lo âu phiền muộn, uất ức than khóc, khổ thân,
khổ tâm và sầu não chi phối". Nhưng thực ra, những điều
này không thể do mong cầu mà được. Như vậy là không đạt
được cái gì mà mình mong cầu, và đó cũng là đau khổ.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là "một cách tóm tắt, ngũ
uẩn thủ là khổ". Ðó là sắc uẩn thủ, thọ uẩn thủ,
tưởng uẩn thủ, hành uẩn thủ, thức uẩn thủ. Này các
thầy tỳ khưu, chúng được gọi là "một cách tóm tắt, ngũ
uẩn thủ là khổ".
Này
các thầy tỳ khưu, đó là chân lý cao thượng về sự khổ.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là chân lý cao thượng về
nguyên nhân của sự khổ?
Ðó
là tham ái khiến khởi sinh cuộc sống mới và, tràn đầy
với sự vui thích và dục lạc, luôn luôn tìm kiếm một sự
thích thú mới lúc chỗ này, lúc chỗ kia, mong muốn dục lạc,
mong muốn có một đời sống (hữu ái), mong muốn không còn
có đời sống (vô hữu ái).
Và
này các thầy tỳ khưu, các tham ái này khi sinh thì sinh ra ở
đâu, khi trú thì trú ở đâu? Cái gì là vật đáng yêu, đáng
mến trên cõi đời, tham ái này khi khởi sinh thì khởi sinh
ở nơi ấy và khi trú thì trú ở nơi ấy.
Và
cái gì trên đời là những vật đáng yêu đáng mến?
Mắt
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Tai
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Mũi
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Lưỡi
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Thân
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Tâm
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Hình
sắc (sắc) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham
ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì
trú ở đấy.
Âm
thanh (thinh) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham
ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì
trú ở đấy.
Mùi
(hương) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Vị
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú
thì trú ở đấy.
Nhãn
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Nhĩ
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Tỉ
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Thiệt
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Thân
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Ý
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú
ở đấy.
Nhãn
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Nhĩ
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Tỉ
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Thiệt
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Thân
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Ý
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở
đấy.
Thọ
phát sinh từ nhãn xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Thọ
phát sinh từ nhĩ xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Thọ
phát sinh từ tỉ xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Thọ
phát sinh từ thiệt xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Thọ
phát sinh từ thân xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Thọ
phát sinh từ ý xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về hình sắc trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về âm thanh trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về mùi trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về vị trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về sự xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi
ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về ý trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú
thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến hình sắc trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến âm thanh trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến mùi trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến vị trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến sự xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi
ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Tác
ý liên quan đến pháp (đối tượng của tâm) trên cõi đời
là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì
sinh khởi ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Tham
ái hình sắc (sắc ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tham
ái âm thanh (thinh ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tham
ái mùi (hương ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi
trú thì trú ở đấy.
Tham
ái vị (vị ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú
thì trú ở đấy.
Tham
ái sự xúc chạm (xúc ái) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Tham
ái pháp (pháp ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy và khi trú
thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến hình sắc (sắc tầm) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi
ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến âm thanh (thinh tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến mùi (hương tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến vị (vị tầm) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến sự xúc chạm (xúc tầm) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi
ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến pháp (pháp tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến hình sắc (sắc tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến âm thanh (thinh tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến mùi (hương tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở
đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến vị (vị tứ) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến sự xúc chạm (xúc tứ) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi
ở đấy và khi trú thì trú ở đấy.
Sự
suy xét đến pháp (pháp tứ) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi sinh khởi thì sinh khởi ở đấy
và khi trú thì trú ở đấy.
Này
các thầy tỳ khưu, như vậy là chân lý cao thượng về nguyên
nhân của sự khổ.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là chân lý cao thượng về
sự chấm dứt khổ? Ðó là hoàn toàn diệt tắt, bằng cách
loại trừ, loại bỏ, hay vất bỏ hoặc giải thoát khỏi,
và không dính mắc vào, chính ái dục này.
Và
này, các thầy tỳ khưu, tham ái này khi bị loại trừ thì
loại trừ ở đâu và tham ái này khi bị diệt tận thì diệt
tận ở đâu? Bất kỳ vật gì trên đời là đáng yêu, đáng
mến, tham ái này khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Và
cái gì trên đời là những vật đáng yêu đáng mến?
Mắt
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Tai
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Mũi
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Lưỡi
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Thân
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Tâm
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Hình
sắc (sắc) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham
ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt
tận thì diệt tận ở đấy.
Âm
thanh (thinh) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham
ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt
tận thì diệt tận ở đấy.
Mùi
(hương) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Vị
trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi
bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt
tận ở đấy.
Sự
xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi
diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Nhãn
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Nhĩ
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Tỉ
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Thiệt
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Thân
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Ý
thức trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái
đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận
thì diệt tận ở đấy.
Nhãn
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Nhĩ
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Tỉ
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Thiệt
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Thân
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Ý
xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó,
khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì
diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ nhãn xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ nhĩ xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ tỉ xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ thiệt xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ thân xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Thọ
phát sinh từ ý xúc trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về hình sắc trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về âm thanh trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về mùi trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về vị trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về sự xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại
trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tưởng
hay tri giác về ý trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi
diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến hình sắc trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến âm thanh trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến mùi trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến vị trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến sự xúc chạm (xúc) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại
trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tác
ý liên quan đến pháp (đối tượng của tâm) trên cõi đời
là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ
thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái hình sắc (sắc ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái âm thanh (thinh ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái mùi (hương ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng
mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy,
khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái vị (vị ái) trên cõi đời là vật đáng yêu, đáng mến.
Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở đấy, khi
diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái sự xúc chạm (xúc ái) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Tham
ái pháp (đối tượng của tâm) (pháp ái) trên cõi đời là
vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì
loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến hình sắc (sắc tầm) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại
trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến âm thanh (thinh tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến mùi (hương tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến vị (vị tầm) trên cõi đời là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến sự xúc chạm (xúc tầm) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại
trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy nghĩ đến pháp (xúc tầm) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến hình sắc (sắc tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến âm thanh (thinh tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến mùi (hương tứ) trên cõi đời là vật đáng
yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ
ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến vị trên cõi đời (vị tứ) là vật đáng yêu,
đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại trừ ở
đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến sự xúc chạm (xúc tứ) trên cõi đời là vật
đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại trừ thì loại
trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận ở đấy.
Sự
suy xét đến pháp (đối tượng của tâm) (pháp tứ) trên cõi
đời là vật đáng yêu, đáng mến. Tham ái đó, khi bị loại
trừ thì loại trừ ở đấy, khi diệt tận thì diệt tận
ở đấy.
Này
các thầy tỳ khưu, như vậy là chân lý cao thượng về sự
chấm dứt khổ.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là chân lý cao thượng về
con đường dẫn đến nơi dứt khổ? Ðó là Bát Chánh Ðạo:
Chánh Kiến, Chánh Tư Duy, Chánh Ngữ, Chánh Nghiệp, Chánh Mạng,
Chánh Tinh Tấn, Chánh Niệm, Chánh Ðịnh.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Kiến? Biết về
sự khổ, biết nguyên nhân của sự khổ, biết về sự chấm
dứt khổ, biết về con đường dẫn đến nơi chấm dứt sự
khổ, này các thầy tỳ khưu, như thế gọi là Chánh kiến.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Tư Duy? Ly dục tưởng,
ly sân tưởng, ly hại tưởng. Này các thầy tỳ khưu, đó
là Chánh Tư Duy.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Ngữ? Không nói dối,
không nói đâm thọc, không nói lời nói dữ, không nói lời
vô ích. Này các thầy tỳ khưu, đó là Chánh Ngữ.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Nghiệp? Không sát
sanh, không trộm cắp, không tà hạnh. Này các thầy tỳ khưu,
đó là Chánh Nghiệp.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Mạng? ở đây, này
các thầy tỳ khưu, một vị thánh đệ tử loại bỏ tà mạng,
sống Chánh Mạng. Này các thầy tỳ khưu, đó là Chánh Mạng.
Và
này các thầy tỳ khưu, thế nào là Chánh Tinh Tấn? ở đây,
này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu với nhiệt tâm, thành khẫn,
nỗ lực, tinh tấn, cố gắng ngăn ngừa (không cho phát sinh)
những điều ác, những bất thiện pháp chưa phát sinh; với
nhiệt tâm, thành khẫn, nỗ lực, tinh tấn cố gắng diệt
trừ những điều ác, những bất thiện pháp đã phát sinh;
với nhiệt tâm, thành khẫn, nỗ lực, tinh tấn cố gắng làm
phát sinh những điều lành, những thiện pháp chưa phát sinh;
với nhiệt tâm, thành khẫn, nỗ lực, tinh tấn cố gắng củng
cố, kiện toàn, gia tăng, phát triển, làm cho sung mãn, làm
cho hoàn hảo những điều lành, những thiện pháp đã phát
sinh (Ngăn ngừa điều ác chưa có; đoạn trừ điều ác đã
có; làm điều lành chưa có; tăng trưởng điều lành đã có).
Này
các thầy Tỳ khưu, thế nào là Chánh Niệm?
Này
các thầy Tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu quán sát thân trong thân,
tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm để loại bỏ mọi tham
ái và (ưu phiền) sân hận trên đời. Thầy tỳ khưu quán
sát thọ trong thọ, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm để
loại trừ mọi tham ái và (ưu phiền) sân hận trong cõi đời.
Thầy tỳ khưu quán sát tâm trong tâm, tinh cần tỉnh giác và
chánh niệm để loại trừ mọi tham ái và (ưu phiền) sân
hận trong cõi đời. Thầy tỳ khưu quán sát pháp trong pháp,
tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm để loại trừ mọi tham
ái và (ưu phiền) sân hận trong cõi đời. Này các thầy tỳ
khưu, như vậy là Chánh Niệm.
Này
các thầy Tỳ khưu, thế nào là Chánh Ðịnh?
Ở
đây, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu hoàn toàn ly dục, hoàn
toàn ly bất thiện pháp, chứng đạt và an trú trong thiền
thứ nhất, kèm với Tầm, Tứ, Hỷ, Lạc phát sinh từ sự
ẩn cư. Loại bỏ Tầm, Tứ, tỳ khưu chứng đạt và an trú
trong thiền thứ hai, với nội tỉnh nhất tâm, không tầm,
không tứ và với Hỉ, Lạc phát sinh từ định tâm. Loại
bỏ Hỉ, tỳ khưu trú trong Xả, với chánh niệm và giác tĩnh,
thân tâm cảm nhận hạnh phúc, tỳ khưu chứng đạt và an
trú trong thiền thứ ba đúng như các bậc thánh đã tuyên bố:"tỳ
kheo trú hạnh phúc trong xả và niệm" (xả niệm lạc trú).
Loại bỏ Lạc và khổ, và với sự biến mất của Hỉ và
ưu trước đây tỳ khưu trú trong thiền thứ tư, không khổ
không lạc với chánh niệm thanh tịnh tạo nên b