[04]
Quán
Sát Pháp Trong Pháp
Ðến
đây chúng ta đã nghiên cứu ba trong bốn niệm xứ đó là:
Quán sát thân (hay niệm thân), quán sát thọ (hay niệm thọ),
quán sát tâm (hay niệm tâm). Bây giờ chúng ta bắt đầu nói
đến phần quán sát cuối cùng đó là quán sát pháp (hay niệm
pháp).
Quán
sát thân hay niệm thân là quán sát cơ thể vật lý hay phần
vật chất của cơ thể. Quán sát thọ là quán sát những gì
mà tâm kinh nghiệm được: "khổ, lạc, vô ký" của cảm giác
vật chất. Quán sát tâm cũng còn được gọi là quán sát
những sự việc thuộc về tâm, tâm sở. Quán sát pháp là
quán sát cả hai, vật chất cũng như tinh thần. Nếu xét theo
ngũ uẩn thì quán thân là quán sát sắc uẩn, quán thọ là
quán sát thọ uẩn, quán tâm là quán sát thức uẩn và quán
pháp là quán sát cả năm uẩn.
Chữ
dhamma được phiên âm là "pháp" chứ không dịch bởi vì thật
khó tìm ra một chữ bao trùm trọn vẹn nghĩa của chữ dhamma.
Chữ dhamma thường được dịch là những "đối tượng của
tâm". Ðiều này không chính xác cũng không rõ ràng bởi vì
đối tượng của thiền được nói đến trong Chương này
thuộc về hai nhóm thân cũng như tâm. Khi "đối tượng của
tâm" có ý nghĩa là đối tượng hay đề mục của tâm, thì
cơ thể cũng là đối tượng của tâm, cảm thọ và tâm cũng
là đối tượng của tâm. Khi "đối tượng của tâm" mang ý
nghĩa là đối tượng thuộc về phần tâm, thì vấn đề là
vật chất cũng là một trong những đối tượng quán niệm.
Vậy tốt nhất là để nguyên chữ dhamma, đừng dịch; hãy
cố gắng hiểu nghĩa chữ dhamma nói đến trong kinh Ðại Niệm
Xứ này.
Trong
Chương "Niệm Pháp" này, chúng ta sẽ nói đến: "năm chướng
ngại", "ngũ uẩn thủ", "sáu căn, sáu trần", "Thất giác chi",
"Tứ Diệu Ðế". "Năm chướng ngại" thuộc về tâm. "Ngũ uẩn
thủ" thuộc về vật chất và tâm. "Sáu căn, sáu trần" thuộc
về vật chất và tâm. "Thất giác chi" thuộc về tâm, và "Tứ
Diệu Ðế" bao gồm cả vật chất và tâm.
A.
Năm Chướng Ngại
Bất
kỳ bạn làm việc gì, bạn đều cảm thấy có một vài loại
chướng ngại hay cản trở cần phải vượt qua. Chướng ngại
là những yếu tố gây bất lợi cho việc hành thiền. Nó che
lấp hay cản trở khiến thiền sinh không thể tập trung tâm
ý được.
Ðức
Phật đã nói đến chướng ngại như sau :
Ở
đây này các tỳ khưu, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp qua
năm chướng ngại:
Thế
nào là thầy tỳ khưu quán pháp trong pháp qua năm chướng ngại?
Thế nào là năm chướng ngại?
1.
Tham ái
Ở
đây, này các tỳ khưu, khi tham ái có mặt thầy tỳ khưu biết
rằng: "Có tham ái trong tôi", hay khi tham ái vắng mặt, thầy
tỳ khưu biết: "Không có tham ái trong tôi", thầy tỳ khưu
cũng biết lý do tham ái chưa sanh được sanh khởi, thầy tỳ
khưu cũng biết lý do tham ái đã sanh bị diệt trừ, thầy
tỳ khưu cũng biết lý do tham ái đã được diệt trừ không
còn khởi sanh trong tương lai.
Phần
dạy trên đây của Ðức Phật đã chỉ dẫn cho chúng ta cách
thức đương đầu với "tham ái". Tham ái là chướng ngại
đầu tiên trong mục này. "Tham ái" có nghĩa là tham luyến,
dính mắc vào những đối tượng giác quan. Có thể dùng nhiều
danh từ để chỉ trạng thái này như tham ái, dục ái, tham
lam, dính mắc, ái dục... Tất cả những chữ trên đều chỉ
sự tham luyến vào sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp (pháp
ở đây nói đến cả sắc pháp lẫn danh pháp). Khi tham ái
hiện khởi trong tâm thiền sinh, thiền sinh biết: "có tham ái
trong tôi". Trong lúc hành thiền nếu có những tư tưởng tham
lam, tham dục, luyến ái hay dục vọng khởi lên thì bạn phải
ý thức sự có mặt của những tham ái này. Bạn phải ý thức
rằng đang có tham ái hiện diện trong bạn và ghi nhận hay
niệm thầm: "tham lam, tham lam, tham lam" hay "dính mắc, dính mắc,
dính mắc" hoặc: "muốn, muốn, muốn".
Chữ
"có mặt" ở đây có nghĩa là một vật gì đó đang hiện
hữu vì nó đã xảy ra nhiều lần. Ý nghĩ tốt hay ý nghĩ
xấu (thiện tư duy hay tà tư duy) không thể xuất hiện cùng
lúc. Những tư tưởng này không thật sự có mặt vào lúc
thiền sinh ghi nhận hay biết được chúng bởi vì tư tưởng
không thể có mặt cùng lúc với sự nhận biết tư tưởng.
Nhưng những tư tưởng này được gọi là hiện hữu vào lúc
thiền sinh quán sát chúng bởi vì chúng khởi sinh lập đi lập
lại nhiều lần. Thực ra vào lúc thiền sinh quán sát các chướng
ngại này thì chúng đã ra đi rồi. Chúng tồn tại chỉ trong
một thời gian rất ngắn, có thể chỉ một phần giây. "Có
mặt" có nghĩa là cái gì xảy ra ngay trong chính sát na đó.
Bạn cần phải nhận ra cái gì có mặt, hiện hữu hay lập
đi lập lại nhiều lần. Khi tham ái có mặt, thiền sinh biết:
"có một loại tham ái như vậy trong tôi". Và khi tham ái vắng
mặt, thiền sinh cũng biết: "không có tham ái trong tôi".
"Vắng
mặt" ở đây có hai nghĩa: Trước hết, có nghĩa là không
hiện hữu vì không xảy ra hoặc đã bị loại bỏ. Thứ hai,
có nghĩa đơn giản là không khởi sinh. Hoặc là thoạt đầu
nó khởi sinh ở thiền sinh, khi thiền sinh quán sát nó, nó
liền biến mất. Khi nó đã biến mất thì có nghĩa là nó
vắng mặt. Ðôi khi thiền sinh cảm thấy tham ái vắng mặt,
đó chỉ có nghĩa là tham ái không khởi dậy trong tâm thiền
sinh. Ðôi lúc thiền sinh cảm thấy có tham ái, thiền sinh bèn
ghi nhận tham ái này. Khi ghi nhận như thế tham ái biến mất.
Thiền sinh bèn ghi nhận sự biến mất của tham ái. Bởi vậy,
ở vào trường hợp nào đi nữa bạn cũng phải chánh niệm
ghi nhận sự vắng mặt của tham ái khi tham ái vắng mặt.
Tỳ
khưu cũng biết lý do tham ái chưa khởi sinh nay được sinh
.
Có
những nguyên nhân làm khởi sinh tư tưởng thiện và tư tưởng
bất thiện. Chúng ta gọi chúng là "thái độ" hay "quan điểm".
Một cách tổng quát có hai loại mà chúng ta gọi là "tư duy
" hay "suy nghĩ". Chúng là "chánh tư duy" và "tà tư duy". "Chánh
tư duy" dẫn đến tư tưởng thiện và "tà tư duy" dẫn đến
tư tưởng bất thiện. "Tà tư duy" là suy tư không thích đáng,
suy tư tà vạy. Ðó là loại suy tư cho vô thường là thường
còn, cho sự bất toại nguyện là toại nguyện, cho sự vô
ngã là hữu ngã, và cho xấu xa là tốt đẹp. Bởi vậy, khi
bạn cho rằng một vật nào đó là trường cửu, toại nguyện,
có bản chất đẹp đẽ, đáng yêu, đáng quyến luyến thì
bạn có sự "tà tư duy". Những sự suy nghĩ trên được gọi
là tà vì nó là nguyên nhân khiến cho những tư tưởng bất
thiện khởi sinh. Như vậy, tà tư duy là nguyên nhân chính làm
khởi sinh tư tưởng bất thiện.
Chánh
tư duy là tư duy một cách chánh đáng, thích nghi, đúng theo
chánh đạo. Ðây là loại suy nghĩ cho vô thường là vô thường,
bất toại nguyện là bất toại nguyện, vô ngã là vô ngã,
xấu là xấu, không đáng yêu là không đáng yêu. Ðó là đường
lối đúng đắn để nhìn sự vật. Ðức Phật dạy rằng
mọi vật đều vô thường, bất toại nguyện và không có
bản chất. Bạn không nên dính mắc, tham luyến vào bất cứ
vật gì. Khi bạn nhìn sự vật theo cách này thì bạn có chánh
tư duy, suy niệm có trí tuệ hay có sự suy nghĩ chơn chánh,
sáng suốt. Ðó là suy nghĩ một cách đúng đắn, chính xác
hay có một quan niệm đúng đắn về sự vật.
Tham
ai khởi sinh trong bạn bởi vì bạn có " tà tư duy" hay có sự
suy tư không sáng suốt. Có những đối tượng làm điều kiện
hay tạo duyên cho tham ái phát sanh. Khi bạn nhìn một vật mà
bạn cho là đẹp, khả ái, rồi bạn tham luyến, dính mắc
vào vật này thế là tham ái phát sinh. Tham ái này phát sinh
vì bạn có thái độ sai lầm về sự vật. Bạn đã suy tư
không đúng đắn về vật này. Bởi vậy, mỗi khi tham ái phát
sinh trong tâm thiền sinh, thiền sinh phải ghi nhận rằng đang
có tham ái khởi sinh trong ta bởi vì ta suy tư không chính đáng.
Vì có quan điểm sai lầm về các đối tượng của giác quan
nên thiền sinh nghĩ rằng chúng trường cửu, toại nguyện,
có bản chất và đẹp đẽ. Khi hành thiền, thiền sinh phải
ghi nhận điều này và ý thức về chúng: "Bởi vì ta suy nghĩ
không sáng suốt nên tham ái này mới khởi sinh trong tâm ta".
Thầy
tỳ khưu cũng biết lý do tại sao tham ái đã sanh bị diệt
trừ.
Tham
ái có thể bị loại trừ bằng hai cách: Bằng cách quán sát
tham ái và bằng cách tạo ra một sự suy tư sáng suốt về
đối tượng, cho rằng đối tượng có bản chất ô trược.
Nghĩa là quán sát hay suy tư sáng suốt rằng đối tượng có
bản chất ô trược. Thiền sinh có thể đạt được các tầng
thiền nhờ quán sát sự ô trược.
Ðức
Phật dạy rằng cơ thể này chẳng đáng yêu, không tốt đẹp.
Suy tư một cách sáng suốt trên cơ thể này giúp ta loại bỏ
tham ái. Khi thiền sinh đạt được các tầng thiền lấy ý
niệm ô trược làm đề mục cũng có thể loại bỏ được
tham ái. Trong Thiền Minh Sát, bạn chỉ cần chuyên tâm chánh
niệm thì tham ái cũng bị loại trừ. Khi ý thức được sự
vắng mặt của tham ái, bạn biết được nguyên nhân của
sự biến mất tham ái này: "Nhờ ta có sự suy tư sáng suốt,
có thái độ đúng đắn hay có quan niệm đúng đắn về đối
tượng này nên tham ái sẽ biến mất".
Ðôi
khi thiền sinh ghi nhận nguyên nhân của sự biến mất tham
ái rồi thì thiền sinh cũng biết được lý do tại sao tham
ái đã được loại trừ này không xuất hiện nữa trong tương
lai. Ðiều này có nghĩa là khi thiền sinh trở thành một vị
Alahán thì tham ái đã được loại trừ sẽ không bao giờ
trở lại nữa.
Thầy
tỳ khưu cũng biết lý do tham ái đã được diệt trừ không
còn khởi sanh trong tương lai.
Thiền
sinh biết rằng nhờ đạt được đạo tâm, do nguyên nhân
đạo tâm, những phiền não đã bị loại trừ sẽ không bao
giờ trở lại nữa. Nhờ đạt đạo tâm, tham ái hoàn toàn
bị tận diệt. Ðiều này xảy ra khi thiền sinh đã đắc quả
Alahán. Thế nên, khi thiền sinh có tham ái, thiền sinh sẽ biết
tại
sao tham ái phát sinh. Thiền sinh biết được lý do tại sao
tham ái biến mất và thiền sinh cũng biết được lý do tại
sao tham ái đã bị loại trừ trong sát na hay loại trừ tạm
thời.
Bạn
phải làm gì khi tham ái phát sinh? Bạn hãy lấy tham ái này
làm đề mục hành thiền. Bạn trú trên tham ái . Bạn ghi nhận
tham ái này. Chỉ bằng cách ghi nhận thôi, tham ái sẽ biến
mất. Chú giải đã ghi ra sáu cách giúp cho thiền sinh loại
trừ tham ái. Thiền sinh có thể áp dụng sáu cách này khi thiền
sinh không hành Thiền Minh Sát:
1.
Thiền sinh có thể dùng đề mục "cơ thể ô trược", quán
sát xác chết hay niệm ba mươi hai thể trược. Thiền sinh
học hỏi rồi thực hành tốt đẹp loại thiền này thì có
thể loại bỏ tham ái.
2.
Thiền sinh có thể "thực hành đề mục ô trược cho đến
khi thiền sinh đạt được các tầng thiền". Khi thiền sinh
đạt được các tầng thiền, thiền sinh có thể loại trừ
được tham ái .
3.Thiền
sinh có thể "chế ngự lục căn". Nghĩa là thiền sinh chế
ngự mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, tâm để không có một tư
tưởng bất thiện nào có thể khởi sinh qua sáu cửa này.
4.Thiền
sinh "Tiết độ trong vật thực". Tiết độ trong vật thực
sẽ giúp thiền sinh diệt trừ được tham ái. Khi bạn ăn quá
nhiều bạn sẽ có nhiều tham ái dục. Bạn cũng sẽ có nhiều
tham muốn về thực phẩm nữa. Bởi vậy, thiền sinh được
khuyên nên ăn vừa đủ. Còn khoảng bốn năm bụm nữa sẽ
no, thiền sinh hãy ngừng lại đừng ăn. Nhiều xứ Á Châu
tỳ khưu thường ăn bằng tay. Một nhúm tay thức ăn được
gọi là một bụm, thay vì ăn thêm bốn năm bụm nữa, thiền
sinh sẽ uống nước để thế vào. Ðiều này có nghĩa là
khi ăn tỳ khưu đừng dồn đầy bụng mà để chỗ cho nước.
Ăn chừng đó đã có đủ sự thoải mái để tỳ khưu tu hành
đạt đến Niết Bàn.
5.Thiền
sinh cần có một "người bạn tốt". Người bạn tốt đúng
nghĩa là người đi với ta trên đường giác ngộ. Người
Tây Phương gọi đó là "bạn tinh thần". Có bạn tốt là điều
rất cần thiết, vì người bạn tốt có thể khuyên bảo khuyến
khích ta, ta có thể học hỏi từ bạn và lấy bạn làm mô
mẫu cho mình noi theo. Bởi thế, một người bạn tốt, không
có tham ái, sẽ giúp thiền sinh loại trừ tham ái.
6.
Thiền sinh phải "có lời nói thích hợp". Muốn loại bỏ tham
ái, thiền sinh nên nói đến sự ô trược của cơ thể, nên
nói đến những hậu quả xấu xa của lòng tham ái...
2.
Sân Hận
Sân
hận ở đây có nghĩa là nóng nảy, giận dữ, cũng còn có
nghĩa là sự sợ hãi băn khoăn, phản kháng và không kiên nhẫn.
Khi
sân hận có mặt, thầy tỳ khưu biết, "có sự sân hận trong
tôi". Khi sân hận vắng mặt, thầy tỳ khưu biết "sân hận
vắng mặt trong tôi".
Có
hai loại tư duy. Khi tư duy không sáng suốt, bạn sẽ có sân
hận. Khi tư duy sáng suốt bạn sẽ không có sân hận. Trong
lúc hành thiền, sân hận thường phát sinh nơi thiền sinh.
Thiền sinh có thể sân hận với chính mình hoặc sân hận
với người khác. Chẳng hạn có ai làm ồn khiến thiền sinh
không thể tập trung tâm ý được thì chẳng bao lâu thiền
sinh sẽ bị bất an hay sân hận. Ðôi khi sân hận hay ác tâm
nổi lên bởi vì bạn nghĩ đến một người nào đó mà bạn
đã gây gỗ trước đây, và bạn cảm thấy tức giận người
đó. Bởi vậy, mỗi khi có những mối cảm xúc khởi sinh,
thiền sinh phải ý thức sự hiện diện của tâm sân hận
này và ghi nhận: Ta đang có sự sân hận hay chỉ ghi nhận
"sân hận, sân hận, sân hận". Khi ác tâm khởi sinh thì bạn
ghi nhận: "ác tâm, ác tâm, ác tâm". Bạn có thể ghi nhận
sự ghét hay đôi khi sự sợ hãi bằng cách ghi nhận: "sợ,
sợ, sợ". Bởi vì bạn đang ghi nhận sự sân hận và đang
niệm ba, bốn lần nên sân hận biến mất. Khi sân hận đã
biến mất, bạn phải ý thức sự biến mất này và ghi nhận:
không còn có sân hận nữa...
Tỳ
khưu cũng biết được lý do sân hận chưa sinh khởi nay được
sinh .
Hãy
suy tư một cách sáng suốt: "Mọi vật đều vô thường. Ðối
tượng của sự sân hận này cũng vô thường". Khi thiền sinh
hiểu biết và suy tư một cách sáng suốt trên sự vô thường
của các đối tượng sân hận này thì thiền sinh sẽ không
còn sân hận chúng nữa. Nhưng khi thiền sinh suy tư không sáng
suốt, thì thiền sinh sẽ bị những đối tượng này chi phối.
Bởi vậy, trong lúc hành thiền, bạn phải ghi nhận: "Ta có
sân hận bởi vì ta đã suy tư không sáng suốt, có thái độ
sai lầm đối với sự vật, có quan điểm sai lầm về sự
vật". Khi bạn ý thức được điều này tức là bạn ý thức
được nguyên nhân phát sinh sân hận.
Tỳ
khưu cũng biết được lý do những sân hận đã sinh được
loại trừ.
Khi
bạn có sự sân hận và ghi nhận sự sân hận này thì đồng
thời bạn cũng quán sát sự biến mất của nó. Khi sân hận
biến mất bạn ý thức được sự biến mất của sân hận.
Bạn biết được rằng sân hận biến mất nhờ bạn ghi nhận
nó. Cũng vậy, khi bạn suy tư một cách sáng suốt, đặc biệt
là hành thiền từ ái (mettaa), thì sân hận cũng biến mất.
Như vậy, suy tư sáng suốt là nguyên nhân diệt trừ sân hận.
Ngoài
Thiền Minh Sát, còn có sáu cách thực hành để loại trừ
sân hận:
1.
Tập "hành thiền từ ái" hay niệm tâm từ, tức là rãi tâm
từ ái, thân thiện đến tất cả chúng sanh.
2.
"Thực hành thiền từ ái cho đến khi đạt được các tầng
thiền", khi thiền sinh đạt được các tầng thiền, thiền
sinh có thể loại bỏ được sân hận.
3.
Suy nghĩ đến: "Nghiệp là gia tài của chúng ta". Suy nghĩ đến
nghiệp là gia tài của chúng ta là một sự suy tư rất quan
trọng với nhiều lý do. Khi bạn sân hận, bạn có thể tự
nhủ: "Ta đang giận dữ ai đây?". Bạn sinh ra trên thế gian
này là do kết quả của nghiệp trong quá khứ. Bạn cũng sẽ
tái sinh sau này tùy theo nghiệp mà bạn đã tích lũy trong hiện
tại. Bởi thế chúng sanh được sanh ra và chết đi tùy theo
nghiệp của họ. Bởi vì tùy theo nghiệp của mình mà chúng
sanh sinh ra hay chết đi nên bạn không có lý do gì để giận
dữ người nào. Người giận dữ chẳng khác nào kẻ đang
cầm hòn sắt nóng đỏ để ném người khác; chính người
giận dữ sẽ bị đau khổ trước khi làm cho người khác đau
khổ. Thế nên, thiền sinh hãy suy tư đến nghiệp của chính
mình để nhận lấy trách nhiệm. Ðời sống của chúng ta
được sắp xếp tùy theo nghiệp lực của chúng ta đã tạo.
4.
Hãy "suy tư đến sự tốt đẹp, lợi ích của lòng từ ái
(mettaa) và sự xấu xa nguy hại của tâm sân hận". Nghĩa là
cố gắng nhìn thấy những lợi ích mà lòng từ ái đã đem
lại và những bất lợi do sự nóng giận gây ra. Suy tư đến
sự tốt đẹp, lợi ích của lòng từ ái và sự xấu xa nguy
hại của tâm sân hận sẽ giúp thiền sinh loại bỏ được
sân hận, nóng giận, ác tâm.
5.
"Có bạn lành" (kalyaa.na mitta). Người bạn lành luôn giúp ta
loại bỏ những tư tưởng bất thiện, ở đây là loại bỏ
những tư tưởng sân hận. Một người có đầy lòng từ ái
có thể ảnh hưởng đến người khác khiến họ cũng có lòng
từ ái như mình. Bởi thế, khi thân cận với một người
bạn hay với một người đầy lòng từ ái thì ta có thể
loại trừ được tính nóng giận của mình. Ta có thể lấy
người bạn tốt làm mô mẫu cho mình noi theo.
6.
"Nói lời thích hợp". Là nói đến lòng từ ái, nói đến
những lợi ích do lòng từ ái đem lại và những tai hại do
sự sân hận gây ra. Lời nói thích hợp sẽ giúp loại bỏ
sân hận.
Tỳ
khưu cũng biết lý do những sân hận đã sinh được loại
trừ, tỳ khưu cũng biết được lý do những sân hận đã
được loại trừ không còn khởi sinh nữa trong tương lai.
Ðoạn
trên liên quan đến lúc thiền sinh đạt Ðạo Tâm. Khi thiền
sinh đạt được tầng Thánh thứ ba thì sân hận sẽ được
loại trừ hoàn toàn.
3.
Dã dượi buồn ngủ
"Dã
dượi buồn ngủ", hay gọi một cách đơn giản là buồn ngủ
có thể đến với thiền sinh bất kỳ lúc nào. Mọi người
chúng ta đều trải qua dã dượi buồn ngủ trong lúc hành thiền.
Khi
dã dượi buồn ngủ có mặt tỳ khưu biết "có dã dượi buồn
ngủ trong ta", hay dã dượi buồn ngủ vắng mặt tỳ khưu biết
"dã dượi buồn ngủ vắng mặt trong ta".
Khi
thiền sinh cảm thấy buồn ngủ thì thiền sinh phải cảnh
giác và ghi nhận sự buồn ngủ này. Thông thường chỉ cần
ghi nhận thì buồn ngủ sẽ biến mất. Khi buồn ngủ biến
mất, thiền sinh cũng phải ý thức sự biến mất này: "không
có dã dượi và buồn ngủ trong ta, dã dượi và buồn ngủ
đã biến mất".
Tỳ
khưu cũng biết nguyên nhân khởi sinh của dã dượi buồn ngủ
chưa sinh khởi.
Ở
đây một lần nữa sự suy tư không sáng suốt về tình trạng
chán nản, lười biếng, uể oải và trì trệ của tâm là
nguyên nhân gây ra dã dượi buồn ngủ. "Suy tư không sáng suốt"
có nghĩa là nghĩ rằng chán nản, trì độn, làm biếng, lề
mề... không đem lại tai hại gì cả. Thiền sinh có sự suy
tư sáng suốt và có thái độ đúng đắn đối với sự tinh
tấn có thể loại bỏ được dã dượi buồn ngủ. Bởi vậy,
khi bạn buồn ngủ bạn phải làm hai việc, trước tiên là
ghi nhận sự buồn ngủ của bạn: "buồn ngủ, buồn ngủ,
buồn ngủ". Tiếp đến là đẩy mạnh tinh tấn hay chú tâm
vào đề mục hành thiền. Nhờ tinh tấn, dã dượi buồn ngủ
có thể bị loại trừ. Khi dã dượi buồn ngủ đã được
loại trừ hay vắng mặt, thiền sinh biết rằng dã dượi buồn
ngủ đã bị loại trừ hay vắng mặt.
Tỳ
khưu cũng biết lý do của dã dượi buồn ngủ chưa sanh khởi
nay khởi sinh. Tỳ khưu cũng biết được lý do loại trừ dã
dượi buồn ngủ đã sinh, và Tỳ khưu cũng biết được lý
do dã dượi buồn ngủ đã được diệt trừ sẽ không khởi
sinh trong tương lai.
Dã
dượi buồn ngủ được loại trừ hoàn toàn khi đạt quả
Alahán. Chỉ khi nào đắc quả Alahán, thiền sinh mới hoàn
toàn loại trừ dã dượi buồn ngủ. Thiền sinh ý thức rằng
dã dượi buồn ngủ đã được loại trừ bởi vì thiền sinh
đã thực sự đạt được tầng Thánh cuối cùng này.
Dã
dượi buồn ngủ là hai dây trói buộc, hai tâm sở khác nhau
nhưng chỉ kể là một chướng ngại vì chúng có cùng công
năng, cùng nguyên nhân và cùng sự đối kháng. Dã dượi và
buồn ngủ có cùng công năng là "lười biếng", có cùng nguyên
nhân là "sự trì độn, biếng nhác", có cùng sự đối kháng
là "tinh tấn".
Có
sáu cách để tạm thời loại trừ dã dượi buồn ngủ:
1.
"Nhìn thấy nguyên nhân của dã dượi buồn ngủ là do ăn quá
no". Nghĩa là bạn phải biết rằng khi ăn quá no bạn sẽ cảm
thấy buồn ngủ. Khi bao tử đầy thức ăn thì nó sẽ cần
nhiều máu hơn nên lượng máu đưa lên não phải chạy vào
bao tử vì thế mà bạn cảm thấy choáng váng và buồn ngủ.
Biết được điều này bạn sẽ có tiết độ trong sự ăn
uống, và nhờ thế bạn có thể loại trừ dã dượi buồn
ngủ.
2.
"Thay đổi tư thế". Nếu bạn cảm thấy buồn ngủ trong khi
đang ngồi bạn có thể thay đổi tư thế. Bạn có thể đứng
dậy và hành thiền trong tư thế đứng hay bạn có thể đi
tới đi lui. Như vậy, do thay đổi tư thế bạn có thể loại
trừ dã dượi buồn ngủ .
3."Suy
nghĩ đến ánh sáng". Bạn có thể cố gắng để thấy ánh
sáng trong tâm bạn, ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trăng,
ánh sáng của các ngôi sao hay ánh sáng của đèn điện... Suy
nghĩ đến ánh sáng sẽ giúp bạn loại bỏ sự buồn ngủ.
Bạn chỉ cần nhắm mắt lại và cố gắng nghĩ đến ánh
sáng hay cố gắng nghĩ đến những vật gì sáng sủa. Bằng
cách này bạn có thể loại trừ dã dượi buồn ngủ.
4."Ở
nơi khoáng đãng". Bạn có thể cảm thấy buồn ngủ khi bạn
ở trong nhà, nhưng khi bạn đi ra ngoài ngồi dưới gốc cây
hay ngồi ở một nơi khoảng khoát trống trải thì dã dượi
buồn ngủ sẽ biến mất.
5."Có
bạn tốt". Một người bạn không thích ngủ nhiều hay người
bạn không buồn ngủ. Khi bạn thân cận với một người tinh
tấn, không bị dã dượi buồn ngủ chi phối, bạn có thể
loại bỏ được dã dượi buồn ngủ .
6."Nói
lời thích hợp". Bạn nhận ra được sự thiệt hại của
buồn ngủ và những lợi ích do sự tỉnh táo đem lại.
Trong
kinh bạn có thể tìm thấy nhiều lời khuyên liên quan đến
sự buồn ngủ. Ðại Ðức Mục Kiền Liên, một trong hai vị
trưởng đệ tử của đức Phật, trước khi đắc quả Alahán,
trong khi hành thiền thường bị buồn ngủ. Ðại Ðức Mục
Kiền Liên cứ gục lên gục xuống mãi, không thể giữ tâm
trên đề mục thiền. Ðức Phật biết được điều này bèn
dạy Ðại Ðức Mục Kiền Liên cách chinh phục dã dượi buồn
ngủ. Những lời dạy của Ðức Phật được ghi trong Tăng
Chi Bộ Kinh (A"ngutara Nikaaya):
Ðức
Phật hỏi:
-"Mục
Kiền Liên, thầy đang gục phải không?"
Mục
Kiền Liên trả lời:
-"Vâng
con đang buồn ngủ".
Ðức
Phật bèn nói:
-"Ðược,
này Mục Kiền Liên, khi những tư tưởng buồn ngủ đến với
thầy, thầy không nên để tâm đến chúng. Như vậy thì buồn
ngủ sẽ biến mất".
Bởi
vậy khi bạn nghĩ đến điều gì khiến gây ra sự buồn ngủ
thì bạn hãy tránh tư tưởng đó. Ðây là lời khuyên thứ
nhất.
Lời
khuyên thứ hai là:
-"Nếu
đã làm như vậy mà buồn ngủ vẫn không biến mất thì phải
suy nghĩ đến những lời dạy mà thầy đã từng nghe và từng
học. Thầy phải chú tâm trên những lời dạy này suy xét
chúng một cách cặn kẽ. Có nghĩa là thầy phải nghĩ đến
giáo pháp thầy đã học và giáo pháp thầy đã nghe, phát triển
đức tánh tìm tòi, học hỏi và suy tư sâu xa về giáo pháp.
Làm như thế thì buồn ngủ có thể tan biến. Khi đã chăm
chú suy tư giáo pháp, xem xét giáo pháp một cách kỹ càng trong
tâm, thì thầy sẽ tỉnh táo trở lại và có thể loại trừ
được dã dượi buồn ngủ.[12]
Sau
đó Ðức Phật dạy tiếp năm cách nữa, có thể tóm lược
như sau:
- Nếu
đã làm như vậy mà vẫn chưa hết buồn ngủ thì phải dùng
đến cách thứ ba là "lập lại từng chi tiết những lời
dạy mà thầy đã nghe và đã học". Có nghĩa là bạn phải
tụng đọc những lời dạy của Ðức Phật. Khi bạn đã học
thuộc lòng một điều gì, bạn phải tụng đọc lại điều
đó. Nhờ tụng đọc những gì bạn đã học, bạn có thể
loại trừ được dã dượi buồn ngủ.
- Nếu
đã làm như vậy mà vẫn không hết buồn ngủ thì bạn phải
dùng đến cách thứ tư là "kéo tai" và "chà sát tay chân" để
tỉnh táo trở lại. Làm như thế sẽ loại trừ được sự
buồn ngủ.
- Nếu
đã làm như vậy mà sự buồn ngủ vẫn không biến mất thì
phải dùng đến cách thứ năm là "đứng dậy đi rửa mắt".
Bạn nên nhìn khắp các hướng sau khi đã rửa mắt. Làm như
thế thì sự buồn ngủ có thể biến mất.
- Nếu
đã làm như vậy mà sự buồn ngủ vẫn không biến mất thì
phải dùng cách thứ sáu là "chú tâm vào ánh sáng", tạo trong
tâm một ý niệm về ánh sáng ban ngày. Dầu bạn đang hành
thiền ban ngày hay ban đêm bạn cũng phải tưởng tượng là
mình đang hành thiền ban ngày và suy nghĩ đến ánh sáng. Làm
như thế bạn có thể đuổi được dã dượi buồn ngủ.
- Nếu
đã làm như vậy mà sự buồn ngủ vẫn không biến mất thì
phải dùng cách thứ bảy là "đi tới đi lui". Với tâm hướng
vào bên trong không hướng ra ngoài, bạn đi tới đi lui. Vậy
mỗi khi buồn ngủ, hãy đứng dậy đi kinh hành. Trong khi đi
tới đi lui hãy chánh niệm ghi nhận bước đi và những giai
đoạn của bước đi. Bằng cách đi tới đi lui và ý thức
sự đi tới đi lui này bạn có thể đuổi được dã dượi
buồn ngủ.
- Nếu
đã làm như vậy mà sự buồn ngủ vẫn không biến mất thì
bạn có thể nằm xuống như cách nằm của con sư tử, nghĩa
là nằm nghiêng bên phải, chân này đặt lên chân kia, biết
rõ ràng những gì mình đang làm và nghĩ đến lúc thức dậy
sau này: "Ta sẽ thức dậy vào giờ này giờ kia vào buổi sáng".
Bởi vậy khi bạn muốn thức dậy vào buổi sáng mà không
cần đồng hồ báo thức thì bạn có thể làm một quyết
định trước khi đi ngủ: "Ta sẽ thức dậy vào sáng sớm".
Khi bạn có việc gì quan trọng phải làm vào buổi sáng thì
bạn sẽ thức dậy đúng giờ. Bạn thức dậy đúng giờ vì
tâm bạn đã quyết định rằng bạn sẽ dậy vào giờ đó.
"Giữ trong tâm tư tưởng thức dậy" có nghĩa là quyết định
thức dậy vào một giờ nào đó. Khi thức dậy, bạn phải
ngồi dậy ngay. Vào lúc nghe chuông báo thức bạn hãy thức
dậy và tự nhủ: "Ta không được nằm ráng thêm hay để tư
tưởng mê ngủ lôi cuốn ta". Làm như thế bạn sẽ tránh được
dã dượi buồn ngủ.
Ðó
là bảy phương pháp chống lại dã dượi buồn ngủ. Có thể
một trong bảy cách trên thích hợp với bạn, giúp bạn tỉnh
táo trở lại.
4.
Bất An và Hối Hận
Bất
an là tâm không đủ khả năng nằm trên đối tượng. Bất
an tiếng Paa.li là Uddhacca, có nghĩa là "lay động ở bên trên",
tâm không nằm trên đối tượng mà nằm lơ lững bên trên
đối tượng. Hối hận có nghĩa là cảm thấy tội lỗi về
những việc xấu hay sai lầm mình đã làm, và những việc
tốt mà mình không làm. Nguyên nhân phát sinh hối hận là "suy
tư không sáng suốt về sự giao động của tâm", như nghĩ
rằng: "Tâm giao động này chẳng làm hại gì cho ta cả... ".
Muốn
loại trừ hối hận phải suy tư một cách sáng suốt về sự
thanh tịnh của tâm. Khi bạn có sự suy tư sáng suốt về sự
an tịnh tĩnh lặng của tâm thì bạn có thể loại bỏ được
bất an và hối hận. Bởi vậy, khi bạn có bất an và hối
hận thì bạn phải biết rằng bất an và hối hận đang có
mặt. Khi bất an và hối hận biến mất thì bạn biết rằng
bất an và hối hận đã vắng bóng. Ðiều này có nghĩa là
bạn hãy lấy bất an này làm đề mục hành thiền và ghi nhận
"bất an, bất an, bất an". Hay khi bạn có hối hận hãy ghi
nhận "hối hận, hối hận, hối hận". Nếu bạn tinh tấn,
chánh niệm ghi nhận vài lần thì bất an và hối hận sẽ
biến mất. Khi chúng đã biến mất thì hãy ý thức sự biến
mất của chúng và ghi nhận: "biến mất, biến mất, biến
mất". Hối hận sẽ được hoàn toàn loại trừ khi bạn đắc
quả thánh thứ ba, và bất an sẽ được hoàn toàn loại trừ
khi bạn đắc quả thánh thứ tư. Khi đắc quả thánh thứ
ba thiền sinh sẽ ý thức sự biến mất hoàn toàn của hối
hận. Khi đắc quả thánh thứ tư thiền sinh sẽ ý thức sự
biến mất hoàn toàn của bất an.
Bất
an và hối hận là hai dây trói buộc, hai tâm sở khác nhau,
nhưng chỉ kể là một chướng ngại vì chúng có cùng công
năng, cùng nguyên nhân và cùng sự đối kháng. Bất an và hối
hận có cùng công năng là "sự không an tịnh", có cùng nguyên
nhân là suy nghĩ điều này điều nọ và suy nghĩ đến thân
quyến, có cùng sự đối kháng là sự an tịnh. Khi tâm bất
an và hối hận thì bạn bị giao động và không còn an tịnh
nữa. Khi bạn suy nghĩ, liên tưởng, hồi tưởng đến thân
quyến hoặc suy nghĩ điều này điều nọ thì tâm bạn giao
động, bất an. Khi nghĩ đến những việc sai lầm mà bạn
đã làm trong quá khứ hay những việc tốt đẹp mà bạn chưa
làm bạn sẽ cảm thấy hối hận.
Chú
giải có ghi sáu cách loại trừ bất an và hối hận:
1."Ðạt
đến khả năng hiểu biết thâm sâu giáo lý của Ðức Phật".
Thiền sinh phải cố gắng học hỏi để có một kiến thức
thâm sâu về Phật Pháp.
2."Tìm
hiểu điều gì nên làm và điều gì không nên làm". Khi làm
việc gì sai trái bạn sẽ cảm thấy hối hận hay ân hận.
Muốn tránh làm điều sai lầm bạn phải hiểu điều gì cần
làm và được phép làm, điều gì không nên làm và không được
phép làm. Là một vị tỳ khưu thì phải biết điều gì nên
làm và điều gì nên tránh. Biết được điều gì nên làm
và điều gì nên tránh sẽ giúp thiền sinh không làm điều
sai lầm. Khi không làm điều sai lầm sẽ không bị hối hận
dày vò.
3.
"Hiểu rõ giới luật". Hiểu rõ giới luật là bổn phận của
thầy tỳ khưu. Hiểu rõ ràng và trọn vẹn giới luật của
nhà sư thì thầy tỳ khưu sẽ không làm điều gì sai lầm.
Bởi thế, thầy sẽ không bị bất an hay hối hận chi phối.
4."Thân
cận với người nhiều kinh nghiệm và người lớn tuổi" để
học hỏi đạo đức, như giới luật chẳng hạn.
5.
"Có bạn lành". Người bạn lành có thể giúp ta loại bỏ
bất an và hối hận.
6.
"Nói lời thích hợp". Nói đến những bất lợi của bất
an, hối hận và lợi ích của sự thanh tịnh trang nghiêm.
5.
Hoài nghi
Khi
hoài nghi có mặt, thầy tỳ khưu biết hoài nghi có mặt trong
ta, khi hoài nghi vắng mặt, thầy tỳ khưu biết hoài nghi vắng
mặt trong ta.
Hoài
nghi, có thể là hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng, về việc hành
thiền và đề mục thiền. Tất cả những điều đó là đối
tượng của sự hoài nghi. Nguyên nhân phát sinh hoài nghi là
suy tư sai lầm về sự vật. Nguyên nhân loại trừ hoài nghi
là có sự suy tư rõ ràng đúng đắn về sự vật. Suy tư đúng
đắn đem lại sự tốt đẹp và an vui. Suy tư sai lầm khiến
phát sinh hoài nghi về Phật, Pháp, Tăng. Khi có suy tư đúng
đắn bạn sẽ không có những hoài nghi này. Khi có hoài nghi
khởi sinh trong tâm, hãy ý thức và ghi nhận: "hoài nghi, hoài
nghi, hoài nghi". Ghi nhận chừng ba bốn lần, hoài nghi sẽ biến
mất. Khi hoài nghi biến mất, phải ghi nhận sự biến mất
của chúng bằng cách ghi nhận: "biến mất, biến mất, biến
mất". Khi đạt từng thánh thứ nhất, thiền sinh sẽ loại
trừ tất cả hoài nghi và thiền sinh biết rằng mình đã loại
trừ được tất cả hoài nghi. Theo chú giải có sáu cách loại
trừ hoài nghi ngoài việc hành Thiền Minh Sát.
1.
"Hiểu rõ giáo pháp của Ðức Phật". Hãy cố gắng trở thành
người hiểu biết thông suốt giáo pháp của Ðức Phật. Khi
hiểu rõ giáo pháp thì ta sẽ không còn thắc mắc, nghi ngờ.
2.
"Tìm hiểu Ân Ðức Phật, Pháp, Tăng". Hãy đặt câu hỏi về
Tam Bảo khi có hoài nghi phát sinh. Người Tây phương thường
đặt rất nhiều câu hỏi. Hỏi nhiều câu hỏi là việc làm
tốt đẹp giúp trí tuệ phát sinh và hoài nghi tan biến.
3.
"Hiểu rõ giới luật". Ðiều này dành cho tỳ khưu. Khi hiểu
rõ giới luật thầy tỳ khưu biết điều gì cần làm và điều
gì không nên làm, do đó sẽ không bị hoài nghi chi phối.
4.
"Xác tín chân lý Tam Bảo". Có nghĩa là phát triển đức tin
bằng cách hiểu rõ Phật, Pháp, Tăng.
5.
"Có bạn lành". Người bạn lành có đức tin trong sạch vào
Tam Bảo sẽ giúp bạn chấm dứt hoài nghi.
6.
"Lời nói thích hợp". Là nói đến những bất lợi của hoài
nghi và những ích lợi của sự loại bỏ hoài nghi.
Khi
bạn hành thiền mà hoài nghi đến quấy nhiễu thì hãy lấy
hoài nghi làm đề mục hành thiền, ghi nhận: "hoài nghi, hoài
nghi, hoài nghi"; đặc biệt là khi bạn nghi ngờ hiệu quả
của việc hành thiền này thì cần phải tinh tấn ghi nhận
mỗi khi hoài nghi phát sinh. Vậy khi hoài nghi đến hãy lấy
hoài nghi làm đề mục hành thiền và niệm: "hoài nghi, hoài
nghi, hoài nghi" cho đến khi hoài nghi biến mất.
Chúng
ta có bao nhiêu chướng ngại? Một, hai, ba, bốn, năm, sáu,
bảy. Tất cả đều không phải. Một cách tổng quát, thì
chúng ta nói đến năm hay bảy chướng ngại. Thật ra, có rất
nhiều chướng ngại nhưng không được kinh điển gọi là
chướng ngại. Một số là sự suy nghĩ, như phóng tâm chẳng
hạn. Khi bị phóng tâm hay vọng tâm thì bạn không tập trung
tâm ý được. Phóng tâm không được xếp loại vào chướng
ngại, nhưng phóng tâm cũng là chướng ngại vì nó cãn trở
sự tập trung tâm ý. Phóng tâm hay vọng tâm mặc dầu không
mang tên là chướng ngại nhưng khi chúng hiện diện thì phải
chánh niệm bằng cách ghi nhận: "phóng tâm, phóng tâm, phóng
tâm".
Sau
khi đã loại trừ năm chướng ngại này, dầu cho tạm thời,
tâm bạn sẽ định hơn. Và với sự định tâm bạn có thể
hiểu rõ và thông suốt được bản chất của thân và tâm.
Khi thiền sinh quán sát những chướng ngại này của mình thì
được gọi là "quán sát bên trong", và khi thiền sinh bỗng
nhiên nghĩ đến những chướng ngại của người khác: "Những
chướng ngại trong ta là vô thường thì những chướng ngại
của người khác cũng như vậy", thì được gọi là "quán
sát bên ngoài". Ðôi khi thiền sinh quán sát chướng ngại của
mình rồi lại liên tưởng đến chướng ngại của người
khác, lui tới như vậy thì gọi là "quán sát bên trong và quán
sát bên ngoài". Khi thiền sinh ý thức những chướng ngại
và thấy rõ bản chất của chúng thì thiền sinh sẽ nhận
ra rằng chẳng có gì để nắm giữ hay bám víu vào.
Không
dính mắc vào bất cứ vật gì trên thế gian do ngũ uẩn hợp
thành.
Ðó
là cách thiền sinh quán sát pháp trong pháp qua năm chướng
ngại.
(Xem
Phần kế tiếp)
[04-B]
Quán
Sát Pháp Trong Pháp
(tiếp
theo)
B. Ngũ
uẩn Thủ
Khi
Ðức Phật mô tả thế giới, sinh vật và vật vô tri (chúng
hữu tình và chúng vô tình), đôi lúc Ngài dùng từ "ngũ uẩn",
đôi lúc Ngài dùng từ "mười hai căn trần", đôi lúc Ngài
dùng từ "hai mươi hai xứ" và đôi lúc Ngài dùng từ "Tứ
Diệu Ðế". Tùy theo sự cần thiết và trình độ của người
nghe mà Ðức Phật dạy cho họ những pháp thích hợp: Một
số cần phải nghe về "ngũ uẩn", một số khác cần biết
về "mười hai căn trần". Khi dùng từ ngũ uẩn để mô tả
thế gian Ngài nói đến "ngũ uẩn thủ". Do vậy, chúng ta cần
phải hiểu thế nào là "ngũ uẩn" (khanda) và thế nào là "thủ"
(upadana).
"Thủ"
ở đây có nghĩa là tham ái hay tham muốn mạnh mẽ. Có hai
loại tham ái. Một loại tham ái nhẹ nhàng gọi là "dính mắc
hay tham ái". Một loại tham ái mạnh mẽ hơn gọi là "thủ
hay chấp giữ" (upaadaana). Thủ hay chấp giữ có nghĩa là "nắm
giữ thật chặt". ở đây danh từ này được dùng theo nghĩa
bóng để hình dung đến tâm chấp giữ chứ không phải hành
động chấp giữ bằng cơ thể. Do ái, sự chấp giữ hay dính
mắc có nghĩa là sự bám níu chặt chẽ các đối tượng về
phương diện tinh thần.
Có
hai loại thủ hay chấp giữ đó là: "thủ do tham ái" và "thủ
do chấp giữ tà kiến".
1)
Thủ do tham ái: Khi thấy một vật nào đó mà bạn cho là đẹp
đẽ, đáng yêu thì bạn thích, rồi bắt đầu dính mắc và
muốn làm chủ vật này. Bạn có tâm dính mắc như vậy bởi
vì bạn luyến ái hay tham muốn vật đó.
2)
Thủ do chấp giữ tà kiến: Ðôi khi bạn có tà kiến hay tư
tưởng sai lầm về sự vật. Chẳng hạn như Ðức Phật nói
"tất cả mọi sự mọi vật trên thế gian này đều là vô
thường, đều là đối tượng của sự khổ". Nhưng đôi khi
bạn thấy sự vật là trường tồn, đôi khi bạn nghĩ rằng
"sự vật là tốt đẹp, ta cần phải làm chủ nó".
Khi
Ðức Phật nói về "ngũ uẩn" thì uẩn ở đây có nghĩa là
một nhóm hay một tập hợp. Có năm uẩn: Sắc uẩn (ruupa )
hay cơ thể vật lý, thọ uẩn (vedanaa), tưởng uẩn (sa~n~naa),
hành uẩn (sa"nkhaara) và thức uẩn (vi~n~naana). Toàn thể thế
gian là tập hợp của năm uẩn này. Ngũ uẩn bao gồm tất
cả các hiện tượng tâm và vật lý. Các vật dù ở quá khứ,
hiện tại hay vị lai, bên trong, bên ngoài, thô hay tế cũng
đều nằm trong ngũ uẩn. Như vậy có thể nói: Khi một vật
được nhận biết trong quá khứ, hiện tại hay vị lai, bên
trong, bên ngoài, thô hay tế thì vật đó được xem là thuộc
về "ngũ uẩn".
Uẩn
đầu tiên là Sắc uẩn, uẩn thuộc về vật chất hay thuộc
về thân thể. Thân thể chúng ta cũng như toàn thể thế giới
bên ngoài như núi đồi cây cối, sông hồ, đường xá, nhà
cửa... tất cả đều thuộc về sắc uẩn.
Uẩn
thứ hai là Thọ uẩn. Bạn có những cảm giác khác nhau trên
cơ thể, cũng như những cảm giác khác nhau trên các đối
tượng. Mỗi lần thấy một vật gì bạn đều có cảm giác,
hay cảm thọ. Cảm thọ có thể tốt, xấu hoặc vô ký. Khi
bạn đau thì bạn sẽ có cảm giác đau, khi bạn nhận ra vật
gì tốt đẹp bạn sẽ có cảm giác vui. Cảm giác vô ký, không
tốt không xấu, là cảm giác thuộc về tâm, không phải là
cảm giác về thân. Ðau nhức thuộc về thân và cảm giác
về sự đau nhức này về thuộc về tâm. Một cảm xúc nào
đó thuộc về vật chất và cảm nhận về các cảm xúc này
như là đau thì thuộc về tâm. Về các lạc thọ cũng như
vậy. Cảm xúc vui thú có thễ thuộc về thân, nhưng cảm nhận
về các cảm xúc này thuộc về tâm. Thọ là một "tâm sở"
hay "tâm sở nhận biết được đối tượng". Thọ có thể
khổ, vui hay không vui không khổ. Khi bạn cảm thấy lo âu về
một điều gì hay khi bạn cảm thấy hạnh phúc về một điều
gì thì bạn kinh nghiệm được một tâm sở và tâm sở này
làm đối tượng cho một tâm sở khác. Ðó là thọ uẩn.
Uẩn
thứ ba là Tưởng uẩn. Tưởng uẩn có đặc tính nhận biết
sự vật, có công năng tạo ra một dấu hiệu hay một hình
ảnh trong tâm, làm điều kiện cho một sự thấy lại hay nhận
ra lại trong tương lai. "Cái này cũng như vậy, cái này chính
là cái đó". Như vậy, sự ghi nhận trong tâm một dấu hiệu
hay một hình ảnh để nhớ hay để nhận ra khi bạn gặp một
vật gì đó trong tương lai được gọi là Tưởng hay sa~n~na.
Tưởng được so sánh với một người thợ mộc vạch một
dấu hiệu trên khúc gỗ. Người thợ mộc vạch một dấu
hiệu trên khúc gỗ để ông ta nhớ phần nào cần phải dùng,
phần nào được cắt bỏ đi, và phần nào phải được đem
đi chỗ nào. Tưởng hay tri giác có thể sai, có thể đúng
và chính xác.
Ví
dụ có một người mù gặp một con voi và muốn biết voi như
thế nào. Nếu người mù sờ vào chân voi thì voi đối với
ông ta chỉ là một cái trụ. Nếu sờ vào thân voi thì voi
đối với ông ta chỉ là một bức tường. Nếu sờ vào đuôi
voi thì voi đối với ông ta chỉ là một cái chổi. Nếu sờ
vào tai voi thì voi đối với ông ta chỉ là một cái quạt...
Tùy theo người mù đó sờ tay vào phần nào của con voi mà
có tri giác về phần đó.
Tưởng
hay tri giác này biểu hiện đối với thiền sinh qua hành động
diễn đạt hay giải thích dựa trên phương tiện là những
dấu hiệu đã biết được. Có thể so sánh điều này với
tưởng của một con nai khi nhìn thấy hình người bù nhìn.
Muốn đuổi nai, không cho nai phá hại mùa màng, nông gia làm
những con bù nhìn bằng rơm có hình dạng người. Khi nhìn
thấy bù nhìn, nai tưởng người thật nên không dám đến
gần. Nhìn thấy bù nhìn, nai có phản ứng như nhìn thấy người
thật. Bù nhìn là nguyên nhân gần khiến nai tưởng rằng đó
là người thật. Như vậy, tưởng biểu hiện đối với thiền
sinh là một hành động diễn đạt hay giải thích, bằng phương
tiện là những dấu hiệu đã biết được trước đây. Nguyên
nhân gần của tưởng là lãnh vực của đối tượng, dầu
cho đối tượng xuất hiện cách nào đi nữa. Trong thực tế,
đối tượng được hiểu là một cái gì đúng và chính xác.
Do đó, tưởng hay tri giác đã vẽ ra một dấu hiệu hay một
hình ảnh khiến chúng ta có thể nhớ lại hay nhận ra đối
tượng sau này.
Trong
mỗi thời điểm chỉ có một tâm sở tưởng hiện diện mà
thôi. Ðược gọi là uẩn (nhóm), bởi vì tưởng chỉ có thể
hoặc thuộc về quá khứ, hoặc thuộc về hiện tại, hoặc
thuộc về tương lai; chỉ có thể hoặc ở trong hoặc ở ngoài;
chỉ có thể hoặc thô thiển hoặc vi tế... Một đối tượng
không thể cùng lúc thuộc về quá khứ, hiện tại, và tương
lai, cũng không thể cùng lúc vừa ở bên trong vừa ở bên
ngoài hay vừa thô thiển vừa vi tế. Do đó, tưởng được
gọi là một tập hợp hay uẩn.
Uẩn
thứ tư là Hành uẩn. Hành uẩn (sa"nkhaara) bao gồm nhiều tâm
sở. Ðó là những trạng thái hay yếu tố của tâm. Có năm
mươi loại hành, nghĩa là trong hành uẩn có năm mươi tâm
sở. Tham là một hành, sân là một hành, si là một hành, tín
là một hành, niệm là một hành, huệ cũng là một hành. Bởi
vì chúng thuộc về tâm nên gọi là tâm hành. Tất cả chúng
hợp thành tập hợp gọi là hành uẩn.
Uẩn
cuối cùng là Thức uẩn. Trong giáo pháp của Ðức Phật thì
tâm (naama) được chia làm hai phần: "tâm vương" (còn gọi
là thức) và "tâm sở". Thức chỉ là sự nhận biết đơn
thuần về đối tượng. Nó không giống như sự nhận biết
dùng để diễn tả sự chánh niệm. Thức chỉ là một sự
nhận biết đơn thuần về một đối tượng chứ không biết
rằng cái gì tốt, cái gì xấu, cái gì xanh, cái gì đỏ...
Thức chỉ là một sự hiểu biết đơn thuần về một đối
tượng, có nghĩa là thiền sinh chỉ nhận biết rằng đó là
một đối tượng. Thức và tâm sở luôn luôn khởi sinh cùng
nhau.
Có
tám mươi chín hay một trăm hai mươi mốt Thức (còn được
gọi là tâm vương được mô tả trong Tạng Vi Diệu Pháp).
Khi thiền sinh biết hay nhận biết được thức thì ta gọi
là đã kinh nghiệm được thức uẩn. Có nhiều loại thức.
Bạn đã nghiên cứu các thức trong chương niệm tâm hay quán
sát tâm. Chẳng hạn như tâm khởi sinh với tham, tâm khởi
sinh không có tham...
Trong
ngũ uẩn, uẩn đầu tiên thuộc về sắc, bốn uẩn còn lại:
thọ, tưởng, hành, thức thuộc về danh. Bạn thấy được
hai yếu tố trong một con người đó là Sắc và Danh, hay Thân
và Tâm. Theo Vi Diệu Pháp (Abhidhamma) thì tâm được chia ra
làm hai phần, tâm vương hay thức và tâm sở. Trong ngũ uẩn
thì thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn là tâm sở, thức uẩn
là tâm vương.
Thế
nào là "ngũ uẩn thủ"? Chúng là những uẩn làm đối tượng
cho sự chấp thủ. Một số uẩn này thuộc về thế tục và
một số uẩn khác thuộc về siêu thế. Có tám mươi chín
loại thức, trong số đó có tám mươi mốt thức thuộc về
thế tục và tám thức thuộc về siêu thế. Có những thọ,
tưởng, hành phối hợp với các thức siêu thế, có những
thọ, tưởng, hành phối hợp với các thức thế tục.
Chỉ
có tám mươi mốt thức thuộc về thế tục mới có thể là
đối tượng của chấp thủ. Bạn không thể chấp thủ vào
các loại thức siêu thế qua tham ái và tà kiến. "Ngũ uẩn
thủ" có nghĩa là các uẩn làm đối tượng cho chấp thủ
và chúng là những uẩn thuộc thuộc về thế tục.
Tóm
lại, mọi vật trên thế gian này đều là ngũ uẩn thủ. Khi
thực hành Thiền Minh Sát, thiền sinh sẽ ý thức và nhận
ra sự hiện diện của các uẩn này.
Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, thầy tỳ khưu biết: "đây là
sắc, đây là sự sanh khởi hay nguyên nhân khởi sinh của sắc,
đây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt tận của sắc".
Ðó
là phương pháp thiền sinh áp dụng để nhận ra sắc uẩn.
Chẳng hạn, khi thiền sinh quán sát hơi thở của mình và ghi
nhận hơi thở vào ra. Sự thở thuộc về sắc uẩn, thiền
sinh biết rằng sự thở thuộc về sắc uẩn. Khi bạn nhìn
một vật, bạn biết rằng đó là một vật, đó là vật chất,
đó là một vật để thấy, đó là sắc. Khi nghe tiếng động
bạn biết rằng đó là tiếng động, đó là vật chất, đó
là sắc. Bằng cách này thiền sinh biết cái gì là sắc, cái
gì là sắc uẩn.
Câu
"Ðây là sắc" trong kinh này có nghĩa là "đây chỉ là sắc
mà không phải là gì khác". Câu "Ðây là sự sanh khởi của
sắc" có nghĩa là thiền sinh quán sát và nhận ra sự khởi
sinh của sắc, như sự khởi sinh của hơi thở chẳng hạn.
Hơi thở vào và hơi thở ra đến và đi. Bởi vậy, khi đang
ở trong giai đoạn thở vào thì không thể là đang trong giai
đoạn thở ra, khi đang trong giai đoạn thở ra thì không thể
là đang ở trong giai đoạn thở vào. Hơi thở vào theo sau hơi
thở ra, và hơi thở ra theo sau hơi thở vào. Như vậy thiền
sinh nhận ra sự khởi sinh của sắc, đó là hơi thở.
Khi
thiền sinh có sự hiểu biết về giáo pháp, thiền sinh có
thể biết được nguyên nhân của sắc. "Sắc hay hơi thở
này thuộc về cơ thể, và ta có cơ thể bây giờ bởi vì
ta có si mê và tham ái trong quá khứ. Nhờ ta tích lũy được
một số nghiệp tốt trong quá khứ nên nay ta mới có cơ thể
này hay sắc này". Như vậy thiền sinh biết hay thấy nguyên
nhân của sắc. Khi thiền sinh quán sát một cách kỹ càng hơi
thở của mình, thiền sinh sẽ nhận ra sự diệt mất của
hơi thở. Hơi thở vào diệt và hơi thở ra xuất hiện. Như
vậy thiền sinh nhận ra được sự diệt tận của sắc cũng
như thấy được nguyên nhân diệt tận của sắc. Nếu bạn
không có si mê và ái dục trong quá khứ thì bạn không tích
lũy ác nghiệp (kamma) trong quá khứ, và do đó, bạn sẽ không
có sắc này trong hiện tại.
Biết
được nguyên nhân sinh diệt của sắc được gọi là "minh
sát suy diễn". Có hai loại minh sát: Minh sát trực tiếp và
Minh sát suy diễn. Khi thiền sinh nhận ra nguyên nhân sinh và
diệt của sắc, đó là "minh sát suy diễn" . Sự nhận biết
các uẩn khác cũng xuyên qua suy diễn minh sát như vậy.
Ðây
là cảm thọ, đây là sự sanh khởi hay nguyên nhân sanh khởi
của cảm thọ, và đây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt
tận của cảm thọ
Ðối
với cảm thọ, thiền sinh biết chỉ có cảm thọ mà thôi,
chẳng có gì nữa cả. Khi bạn biết: "đây là lạc thọ hay
đây là khổ thọ" tức là bạn đã quán sát cảm thọ. Nhưng
khi bạn biết "đây chỉ là cảm thọ mà không có gì khác"
thì đó là bạn đã quán sát pháp.
Khi
bị đau, thiền sinh biết rằng có sự đau hay thiền sinh có
cảm giác đau. Thiền sinh cũng biết rằng: bởi có sự đau
nên mới có cảm giác đau. Ðối với các cảm thọ khác, thiền
sinh cũng có sự nhận biết tương tự. Như vậy, khi thiền
sinh quán sát một cách tỉ mỉ, thiền sinh nhận ra được
sự khởi sinh của cảm thọ cũng như nguyên nhân khởi sinh
của cảm thọ.
Cảm
thọ sẽ hiện ra một cách rõ ràng trong suốt thời gian hành
thiền. Sau khi ngồi chừng vài phút thì cảm giác sẽ khởi
sinh, chẳng hạn thiền sinh có cảm giác tê, cứng hay đau.
Khi những cảm giác này khởi sinh thiền sinh biết rằng đây
là cảm giác và chỉ là cảm giác mà thôi, thiền sinh ghi nhận:
"cảm giác, cảm giác, cảm giác". Thiền sinh cũng nhận ra được
sự khởi sinh của cảm thọ và sự biến mất của cảm thọ
này, cũng như nhận ra được nguyên nhân khởi sinh của cảm
thọ và nguyên nhân biến mất của cảm thọ này.
Ðây
là tưởng (tri giác), đây là sự sanh khởi hay nguyên nhân
sanh khởi của tưởng, đây là sự diệt tận của tưởng
hay nguyên nhân diệt tận của tưởng.
Thiền
sinh cũng phải ý thức những tri giác hay tưởng của mình.
Tri giác hay tưởng thường không rõ ràng như sắc hay cảm
thọ. Những thiền sinh có sự hiểu biết về Vi Diệu Pháp
và Ngũ Uẫn đôi lúc ghi nhận được những tri giác hay tưởng
này: "Bây giờ đang có tưởng (tri giác) trong tôi" và thiền
sinh ghi nhận đó là tưởng.
Tưởng
là hiểu biết, nhận diện và đồng hóa. Ðó là tiến trình
tâm nhằm tạo tác ý nghĩa cho những cảm giác sanh khởi qua
các căn. Tưởng khởi sinh bởi vì có đối tượng. Tưởng
khởi sinh trong suốt cuộc đời của bạn. Bởi vì có si mê
và tham ái trong quá khứ nên bạn tích lũy nghiệp và do đó
có tưởng.
Thiền
sinh biết được sự diệt tận của tưởng (tri giác) và nguyên
nhân diệt tận của tưởng (tri giác).
Tưởng
này có thể khởi sinh trong thiền sinh chỉ trong sát na rồi
diệt mất. Khi sát na này trôi qua, tưởng cũng biến mất.
Thiền sinh cũng sẽ thấy nguyên nhân diệt mất của tưởng.
Khi không có đối tượng của tưởng thì tưởng sẽ biến
mất hoàn toàn. Khi không còn vô minh, không còn ái dục, không
còn nghiệp thì tưởng không còn có thể khởi sinh nữa.
Ðây
là hành, đây là sự khởi sinh hay nguyên nhân khởi sinh của
hành. Ðây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt tận của
hành
Khi
thiền sinh kinh nghiệm được hành uẩn, thiền sinh ghi nhận
hành này. Trong khi hành thiền đôi khi bạn có thể bị nóng
giận, dã dượi buồn ngủ hay buồn chán; đôi khi bạn có
những tư tưởng tốt. Khi những tư tưởng này xuất hiện
trong tâm bạn và bạn nhận ra chúng là hành uẩn và ghi nhận:
"Ðây là sự khởi sinh hay nguyên nhân khởi sinh hành uẩn".
Bởi vì có đối tượng nên mới có hành. Vì có vô minh và
tham ái trong quá khứ nên bạn đã tích lũy nhiều nghiệp (kamma)
do đó bây giờ bạn có những hành này.
Về
sự diệt tận của hành, trong khi hành thiền nếu có sự sân
hận nổi lên chẳng hạn, bạn niệm: "sân hận, sân hận,
sân hận". Sân hận biến mất sau đó. Ðó là bạn đã thấy
được sự diệt mất của sân hận. Ðối với những hành
khác cũng tương tự như vậy. Nếu không có vô minh trong quá
khứ, nếu không có chấp thủ trong quá khứ thì bạn sẽ không
tích lũy bất cứ nghiệp nào trong quá khứ; do đó sẽ không
có bất cứ hành nào trong cuộc sống này. Khi thiền sinh quán
sát trên hành uẩn, thiền sinh sẽ nhận ra được tiến trình
của nó.
Ðây
là thức, đây là sự sanh khởi hay nguyên nhân của thức,
đây là sự diệt tận hay nguyên nhân diệt tận của thức.
Ðối
với thức, thiền sinh nhận ra rằng thức chỉ là thức mà
thôi, không phải thức đi kèm với tham ái, không phải thức
đi kèm với không tham ái...Nếu bạn thấy thức đi kèm với
tham ái hay không tham ái thì bạn đã quán sát trên thức (niệm
tâm). Nhưng nếu bạn thấy thức chỉ là thức thôi thì bạn
đã quán sát trên pháp (niệm pháp) hay quán sát ngũ uẫn. Có
nhiều loại thức. Khi bạn thấy vật gì thì bạn có thức
thấy (nhãn thức). Khi bạn nghe điều gì thì thức thấy biến
mất và thức nghe hiện khởi. Như vậy, thiền sinh biết được
các loại thức đến và các loại thức đi như thế nào. Khi
bạn thấy sự đến đi hay sự sinh diệt của thức, đó là
bạn đã quán sát trên pháp hay niệm pháp.
Ðức
Phật không bắt buộc thiền sinh phải cố ý trú trên ngũ
uẫn. Thiền sinh không được tìm kiếm ngũ uẫn. Khi có uẩn
nào xuất hiện thì thiền sinh ghi nhận và ý thức uẩn đó
mà thôi. Bạn ghi nhận tất cả những gì khởi sinh trong bạn.
Ðối tượng của sự nhận biết của bạn có thể là vật
chất hay sắc, có thể là cảm thọ, có thể là tưởng, có
thể là hành, có thể là thức. Như vậy, thiền sinh biết
được năm uẩn. Khi thiền sinh theo dõi, quán sát năm uẩn
đó nơi mình là thiền sinh "quán sát pháp trong nội pháp".
Nhưng khi thiền sinh quán sát pháp của người khác, chẳng
hạn như: "Uẩn này có trong tôi thì cũng có trong người khác".
Quán sát như thế là quán sát bên ngoài, hay nói cách khác
đó là "quán pháp trong ngoại pháp". Khi thiền sinh quán sát
ngũ uẩn của chính mình rồi lại quán sát ngũ uẩn của người
khác,
tới lui như vậy, thì gọi là quán cả hai, "quán pháp trong
nội pháp lẫn trong ngoại pháp".
Như
vậy, khi thực hành sự quán sát pháp dựa theo ngũ uẩn, bạn
sẽ nhận ra được sự sinh diệt của năm uẩn và sẽ không
thấy gì để bị dính mắc. Bạn an trú vào chánh niệm về
ngũ uẩn mà không nắm giữ hay dính mắc vào bất cứ vật
gì.
C.
Sáu Căn và Sáu Trần
Ðôi
khi Ðức Phật mô tả thế giới này qua ngũ uẩn, đôi khi
qua mười hai căn trần (ayataana). Ðược gọi là mười hai
căn trần bởi vì chúng là nơi cư ngụ hay có mặt của tất
cả mọi sự vật khác. Ðây là những nơi mà tâm vương và
một số tâm sở có mặt. Có sáu nội căn (sáu căn) và sáu
ngoại căn (sáu trần).
Sáu
căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và tâm. Chúng được gọi
là nội căn hay nội xứ bởi vì chúng là thành phần ích lợi
nhất của chúng sinh. Chúng là nội căn của cơ thể. Sáu trần
(còn gọi là sáu ngoại căn hay sáu ngoại xứ) là: sắc, thinh,
hương, vị, xúc, pháp (hình sắc, âm thanh, mùi, vị, đối
tượng hữu hình và pháp). Pháp ở đây gồm có tâm sở, sắc
vi tế, và Niết bàn.
Sáu
căn tương hợp với sáu trần hay sáu trần tương hợp với
sáu căn.
Trước
tiên là mắt và vật thấy. Mắt được gọi là căn, bởi
vì tùy thuộc vào mắt mà nhãn thức phát sinh. Nếu bạn không
có mắt thì sẽ không có nhãn thức. Mắt là căn của nhãn
thức hay là chỗ ở của nhãn thức. Vật thấy là điều kiện
để nhãn thức phát sinh. Nếu không có vật thấy thì cũng
không có nhãn thức. Một người mù không thấy được gì
vì không có nhãn căn. Nếu không có vật gì để thấy thì
nhãn thức cũng chẳng thể phát sinh.
Ðối
với âm thanh và các vật khác cũng tương tự như vậy. Bạn
có tai hay nhĩ căn. Chữ tai ở đây không có nghĩa là phần
ngoài của tai mà là phần trong của tai, "chỗ nhạy cảm của
tai". Do có nhĩ căn nên bạn có nhĩ thức, do có âm thanh hay
tiếng động nên bạn có nhĩ thức. Nhĩ thức tùy thuộc vào
nhĩ căn và âm thanh.
Ðối
với mùi, vị, vật xúc chạm và pháp cũng vậy.
Thức
tùy thuộc vào căn và trần: tùy thuộc vào mắt và vật thấy,
tùy thuộc vào tai và âm thanh, tùy thuộc vào mũi và mùi, tùy
thuộc vào lưỡi và vị, tùy thuộc vào thân và vật xúc chạm,
tùy thuộc vào tâm và pháp. Do đó ta gọi chúng là "căn, trần"
hay nội căn và ngoại căn. Tất cả có mười hai căn trần.
Làm thế nào thiền sinh biết được các căn trần này?
Ở
đây, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu biết mắt, biết vật
thấy, biết yếu tố khởi sinh tùy thuộc vào hai điều đó.
Khi
bạn biết căn trần một cách trọn vẹn, bạn không những
biết căn trần mà bạn còn biết được những yếu tố khởi
sinh tùy thuộc vào căn trần đó. Ðiều này có nghĩa là khi
mắt thấy một vật thì liền khi đó nhãn thức khởi lên.
Nếu đó là một vật đáng yêu, đẹp mắt thì bạn dính mắc
vào chúng, muốn nắm giữ chúng. Nếu đó là vật không đáng
yêu, bạn sẽ cảm thấy ghét, giận hay bực mình. Như vậy
tùy thuộc vào mắt và vật thấy mà tham ái, sân hận phát
sinh... Thiền sinh biết rằng tham ái và sân hận khởi sinh
tùy thuộc vào mắt và vật thấy ...
Những
tham ái hay sân hận này được gọi là những thằng thúc (dây
trói buộc). Chúng chẳng khác nào những sợi dây cột chúng
ta vào vòng tái sinh, vào vòng luân hồi. Có tất cả mười
loại thằng thúc được mô tả trong vi diệu pháp: [13]
1.
Tham dục - Khi bạn thấy, (nghe, nếm ...) một vật gì đáng
yêu, tốt đẹp bạn sẽ kinh nghiệm được tham ái.
2.
Sân hận - Sân hận sẽ khởi sinh khi bạn thấy vật gì mà
bạn không muốn thấy hay khi bạn nghe điều gì mà bạn chẳng
muốn nghe.
3.
Kiêu mạn - Khi thiền sinh nghĩ rằng: "Chỉ có người như ta
mới thấy được những điều này" thì thiền sinh kinh nghiệm
sự kiêu mạn.
4.Tà
kiến (hay có kiến thức sai lầm) - Thiền sinh có tà kiến
về những gì mà họ thấy hay nghe, họ có thể nghĩ rằng
một vài vật nào đó là trường tồn hay những vật đó là
thật đáng yêu, tốt đẹp cần phải có. Khi bạn nắm giữ
những tà kiến này thì chúng sẽ trở thành những thằng thúc,
những sợi dây cột chặt bạn vào vòng tái sinh.
5.
Hoài nghi - Hoài nghi có thể khởi sinh khi thiền sinh thấy hay
nghe. Khi bạn có những hoài nghi này thì những hoài nghi này
trở thành thằng thúc hay dây trói buộc.
6.
Giới cấm thủ. - Tiếng Paa.li để chỉ giới cấm thủ là
"Silabbata paraamaasa" có nghĩa là có ý tưởng sai lầm cho rằng
có những nghi thức, lễ lạc nào đó nếu được đem ra thực
hành thì sẽ lọai trừ được phiền não và giác ngộ chân
lý. Trong thời Ðức Phật có nhiều lối thực hành kỳ lạ
mà người thực hành tin rằng sẽ dẫn đến giải thoát. Họ
chấp nhận sự thật rằng có an vui hay đau khổ trong cuộc
sống này là do nghiệp mà họ đã tích tụ. Nhưng họ tin rằng
muốn thoát khỏi các hiệu quả của nghiệp họ phải làm
cái gì đó trên thân thể họ để cho những hiệu quả của
nghiệp này tiêu tán đi. Họ làm như chó, sống như chó, ăn
như chó để loại trừ phiền não. Một số người khác sống
như bò, ăn như bò, ngủ như bò để loại bỏ phiền não.
Tin tưởng vào những lối thực hành sai lầm đó là giới
cấm thủ. Hiện nay vẫn còn nhiều người tin và thực hành
những đường lối sai lầm mà họ tin là sẽ dẫn đến giải
thoát giác ngộ. Loại tin tưởng sai lầm này có thể khởi
sinh nơi bạn mỗi khi bạn tiếp xúc với các đối tượng
qua sáu căn.
7.
Ham muốn hiện hữu (còn gọi là hữu) - Có hai loại tham ái:
tham ái vào các dục lạc ngũ trần và tham ái vào sự hiện
hữu. Tham ái vào hiện hữu là tham muốn có được sự hiện
hữu một cách tốt đẹp hay khả quan hơn. Có nghĩa là tin
rằng sẽ tái sinh trong tương lai và muốn kiếp tái sinh tốt
đẹp hơn kiếp sống này.
8.
Ganh tỵ - Ganh tỵ về sự giàu có hay của cải của người
khác. Chức năng của thằng thúc này là không bằng lòng với
những gì mà người khác có. Cũng còn có nghĩa là không muốn
cho người khác làm chủ một vài vật gì đó, không thích
có ý nghĩ rằng người khác có một vật gì đó . Sự biểu
hiện của ganh tỵ là: "Cảm thấy khó chịu về sự giàu có
hay của cải của người khác". Ðối tượng của ganh tỵ
hay nguyên nhân gần của ganh tỵ là của cải của kẻ khác.
Khi thấy vật gì tốt, cái gì đáng yêu thuộc về người
khác bạn cảm thấy ganh tỵ thì bạn sẽ có thằng thúc này.
Bạn cũng cảm thấy ganh tỵ trước những của cải vô hình
của người khác như hạnh phúc, hay sức khoẻ của họ. Trong
những trường hợp như vậy bạn cần phải vun bồi tâm hỷ,
nghĩa là phải phát triển tâm hoan hỷ với sự thành công
và hạnh phúc của người khác.
9.
Bủn xỉn (macchariya) - Ðây là một chữ rất khó dịch. Bủn
xỉn có đặc tính là dấu kín của cải hay sự giàu có của
mình. Khi bạn có tâm bủn xỉn thì bạn không muốn san sẻ
của cải cho người khác, bạn không muốn ai dùng đồ đạc
của bạn. Chẳng hạn tôi có máy thu băng này, nếu tôi không
muốn người khác dùng nó như vậy là tôi đã bủn xỉn. Có
nghĩa là tôi không thích thú hay hài lòng nhìn thấy đồ vật
của tôi bị người khác dùng. Biểu hiện của bủn xỉn là
sự "co lại" hay "bần tiện". Nguyên nhân gần của bủn xỉn
là của cải của mình. Ganh tỵ và bủn xỉn có đối tượng
khác nhau. Bạn có ganh tỵ về của cải người khác và bạn
có bủn xỉn về của cải của chính mình. Bủn xỉn có những
điểm giống như hà tiện, nhưng thực ra bủn xỉn và hà tiện
không giống nhau. Hà tiện đến từ tham trong khi đó ganh tỵ
và bủn xỉn đi với sân. Khi có ai dùng đồ vật gì của
bạn, bạn giận dữ, sự giận dữ này có nguyên nhân là bủn
xỉn. Nhưng khi có ai xin thứ gì bạn không cho, thì chưa chắc
đó là bủn xỉn. Ngay cả vị Alahán cũng gặp trường hợp
này. Vào thời Ðức Phật có một vị tỳ khưu đến hỏi
xin y nội nơi một tỳ khưu ni. Ông ta hỏi xin như vậy vì
muốn thấy tỳ khưu ni thay y, nhưng tỳ khưu ni từ chối và
nói rằng: "Tôi không thể dâng sư y này bởi vì đây là chiếc
y nội độc nhất của tôi". Thầy tỳ khưu năn nỉ mãi nên
cuối cùng tỳ khưu ni này phải dâng y nội cho thầy. Tỳ khưu
ni này là một vị nổi tiếng trong số những tỳ khưu ni có
thần thông nên cô dùng thần thông trao y cho vị tỳ khưu mà
không để lộ một phần nào của cơ thể mình. Thoạt đầu,
cô không cho y nội không có nghĩa là cô bủn xỉn. Cô đã
là một vị Alahán nên cô không còn tâm bủn xỉn hay bất
kỳ phiền não nào. Như vậy khi có ai xin gì mà không cho đó
không phải là bủn xỉn. Trường hợp tỳ khưu ni trên không
cho y nội cũng không phải là hà tiện hay keo kiệt bởi vì
đó là tấm y nội độc nhất mà cô có.
10.
Vô minh - Vô minh thường xuất hiện cùng với các thằng thúc
khác. Khi có tham ái thì sẽ luôn luôn có vô minh. Vô minh luôn
luôn đi kèm với các bất thiện tâm sở.
Trên
đây là mười thằng thúc. Mười thằng thúc này có thể bị
loại trừ bởi bốn sự giác ngộ. Ðó là giác ngộ các quả
thánh từ thứ nhất đến thứ tư. Khi đạt quả Tu Ðà Huờn,
thiền sinh loại bỏ được tà kiến, hoài nghi, giới cấm
thủ, ganh tỵ và bủn xỉn. Ðạt quả Tư Ðà Hàm thì loại
bỏ được thô tướng của tham ái và thô tướng của sân
hận. Khi đạt đến quả A Na Hàm thì loại bỏ được phần
vi tế của tham ái và vi tế của sân hận. Khi đạt quả Alahán
thì sẽ loại bỏ được kiêu mạn, tham muốn hiện hữu và
vô minh.
Như
vậy. Tỳ khưu biết mắt, biết vật thấy và cũng biết được
những thằng thúc khởi sinh tùy thuộc vào cả hai. Tỳ khưu
cũng biết lý do những thằng thúc chưa khởi sinh được khởi
sinh.
Thiền
sinh đạt được điều này nhờ vun bồi sự suy niệm sáng
suốt.
Tỳ
khưu cũng biết lý do những thằng thúc đã sinh khởi được
loại trừ.
Thiền
sinh đạt được điều này nhờ vun bồi sự suy niệm sáng
suốt.
Và
tỳ khưu cũng biết lý do những thằng thúc đã bị loại trừ
sẽ không khởi sinh nữa trong tương lai.
Ðây
là thiền sinh đã đắc đạo quả. Thiền sinh loại trừ các
thằng thúc nhờ đắc được đạo tâm. Các thằng thúc này,
một khi đã bị loại trừ vào lúc đạo tâm xuất hiện, thì
sẽ không bao giờ khởi sinh trong tương lai nữa. Thiền sinh
biết được điều này khi thiền sinh đạt được quả thánh.
Khi
quán sát, bạn quán sát sự vật trong giây phút hiện tại
và bạn sẽ thấy các căn trần cũng như những thằng thúc
khởi sinh tùy thuộc vào các căn trần này. Bạn cũng sẽ thấy
sự sinh khởi và sự diệt tận của các thằng thúc và của
những căn trần. Khi thấy sự khởi sinh và sự diệt tận
của chúng thì bạn sẽ không còn tìm thấy cái gì trên thế
gian này (tức ngũ uẩn thủ) để bám víu, nắm giữ nữa.
Như
vậy, tỳ khưu quán sát pháp trong pháp trên sáu căn và sáu
trần.
Khi
thấy chúng một cách rõ ràng là bạn đã quán sát trên sáu
nội ngoại xứ.
D.
Bảy Yếu Tố Giác Ngộ
Khi
hành thiền bạn phải đương đầu với những yếu tố không
tốt đẹp, những cản trở; đồng thời bạn cũng kinh nghiệm
được những yếu tố xây dựng, hỗ trợ cho việc hành thiền.
Bây giờ chúng ta bắt đầu nghiên cứu bảy yếu tố giác
ngộ. Ðó là những yếu tố thuận lợi cho việc hành thiền.
Chữ
Paa.li Sa"mbojjha"nga (yếu tố giác ngộ) là tập hợp của hai
chữ sambodhi và a"nga. Sambodhi có nghĩa là "giác ngộ" hay thấy
được chân lý, nhưng trong kinh Tứ Niệm Xứ thì sambodhi cũng
còn có nghĩa là hiểu biết trọn vẹn các pháp, hiểu biết
trọn vẹn đề mục hay đối tượng hành thiền, tức là hiểu
biết trọn vẹn danh và sắc. A"nga có nghĩa là "chi" hay "phần".
ở đây chúng ta dịch "yếu tố". Như vậy yếu tố giác ngộ
là những chi, những phần, hay những yếu tố của sự hiểu
biết trọn vẹn danh và sắc. Bắt đầu từ tuệ sinh diệt
trở
lên cho đến khi giác ngộ chân lý, ở mỗi tuệ giác thiền
sinh đều có sự hiểu biết này.
1.
Chánh niệm
Yếu
tố giác ngộ đầu tiên là chánh niệm (sati). Ðức Phật giải
thích như sau:
Ở
đây, này các tỳ khưu, khi nội tâm có niệm giác chi, thầy
tỳ khưu biết: "nội tâm tôi có niệm giác chi", hay khi nội
tâm không có niệm giác chi, thầy tỳ khưu biết: "nội tâm
tôi không có niệm giác chi".
Chánh
niệm là một tâm sở nhờ đó bạn có thể nhớ được sự
vật. Ðặc tính của chánh niệm là không lay động, không
hời hợt, trôi nổi trên mặt mà đi sâu vào trong đối tượng
hay hoàn toàn ý thức về đối tượng. Công năng của chánh
niệm là nhớ. Khi bạn thực hành Thiền Minh Sát bạn phải
luôn luôn nhớ ghi nhận đề mục hay những sự vật xảy ra
trong giây phút hiện tại . Biểu hiện của chánh niệm đối
với thiền sinh là sự canh phòng không để cho rơi vào chỗ
thất niệm. Nguyên nhân gần của chánh niệm là Tứ Niệm
Xứ, bởi thế muốn phát triển chánh niệm hãy thực hành
Tứ Niệm Xứ.
Khi
nội tâm có niệm giác chi, thầy tỳ khưu biết: "nội tâm
tôi có niệm giác chi". Ðiều này có nghĩa là khi bạn đang
có chánh niệm và ghi nhận hay niệm thầm: "chánh niệm, chánh
niệm, chánh niệm". Nguyên nhân khởi sinh chánh niệm là sự
suy tư sáng suốt. Như đã được nói trên đây, nguyên nhân
khiến cho các chướng ngại và bất thiện tâm khởi lên là
sự suy tư không sáng suốt. Chẳng hạn như cho cái vô thường
là thường còn, đau khổ là hạnh phúc, vô ngã là ngã v.v...
Suy tư sáng suốt có nghĩa ngược lại. Suy tư sáng suốt là
suy tư rằng: "Ta sẽ chánh niệm, ta sẽ đạt được trí tuệ,
ta sẽ có hỉ lạc..." Những sát na đầu tiên của chánh niệm
là nguyên nhân của những sát na chánh niệm kế tiếp. Bởi
vậy, suy tư sáng suốt ở đây có nghĩa là suy tư rằng: "Ta
sẽ chánh niệm, ta sẽ đạt được trí tuệ, ta sẽ có hỉ
lạc...". Khi yếu tố giác ngộ này, tức sự chánh niệm này,
có mặt trong nội tâm thiền sinh (có nghĩa là thiền sinh đã
đạt được chánh niệm hay chánh niệm vừa mới hiện diện
trong tâm thiền sinh), thiền sinh biết: "Nội tâm tôi đang có
chánh niệm".
Khi
chánh niệm không có mặt (nghĩa là khi thiền sinh chưa đạt
được chánh niệm), thiền sinh biết: "Nội tâm tôi không có
chánh niệm". Muốn cho chánh niệm hoàn hảo ta phải luyện
tâm. Khi đạt đạo quả Alahán thì thiền sinh đã vun bồi
chánh niệm hoàn hảo. Rồi sau đó:
Tỳ
khưu cũng biết được lý do sự tu tập niệm giác chi được
hoàn hảo.
Thiền
sinh đạt quả Alahán tự biết rằng khi chứng ngộ đạo quả
Alahán thì chánh niệm được hoàn hảo. Ðối với những giác
chi khác cũng được hiểu như vậy.
Có
bốn cách giúp chánh niệm khởi sinh và phát triển:
1)
Chánh niệm với giác tỉnh: Bạn phải cố gắng chánh niệm
vào những gì mà bạn đang làm: tư thế, sự đi tới đi lui
v.v... (Ôn lại chương Giác tỉnh). Chánh niệm có thể được
vun bồi và phát triển nhờ thực hành theo những lời chỉ
dẫn trong chương này.
2)Tránh
xa những người có tâm hỗn loạn: Tránh xa những người có
tâm hỗn loạn giúp vun bồi và phát triển chánh niệm một
cách tốt đẹp.
3)
Thân cận người chánh niệm: Thân cận người chánh niệm
thì bạn cũng chánh niệm theo. Một câu cách ngôn Miến Ðiện
nói: "Sống gần thợ săn sẽ trở thành thợ săn, sống gần
người đánh cá sẽ trở thành người đánh cá" (gần mực
thì đen, gần đèn thì sáng). Thân cận với những người
có tâm hỗn loạn thì tâm bạn sẽ hỗn loạn và mất chánh
niệm. Thân cận với những người chánh niệm thì bạn sẽ
trở nên chánh niệm.
4)
Hướng tâm vào việc chánh niệm: Ðiều này có nghĩa là trong
tất cả oai nghi bất kỳ bạn đang làm gì đều phải cố
gắng chánh niệm. Tâm bạn phải luôn luôn hướng vào việc
chánh niệm, cố gắng đạt được chánh niệm. Phải phát
triển thói quen hướng đến chánh niệm và sẵn sàng giác
tỉnh.
2.
Trạch pháp
Trạch
pháp (Dhamma vicaya) được định nghĩa là "truy tầm các pháp".
Chữ dhamma có nhiều nghĩa, nhưng trong bản kinh này dhamma chỉ
có nghĩa là danh và sắc hay thân và tâm làm đối tượng hay
đề mục cho Thiền Minh Sát. Trạch pháp ở đây có nghĩa là
thiền sinh phải cố ý truy tầm, tìm hiểu các pháp như danh
và sắc hay thân và tâm, phải biết hay phân biệt được:
"Ðây là danh, đây là sắc, đây là sự khởi sinh, đây là
sự hoại diệt. Ðây là vô thường..."
Khi
niệm và trạch pháp, sự hiểu biết về pháp hiện diện nơi
thiền sinh trong từng giây phút. Chẳng hạn như khi bạn ghi
nhận hơi thở thì bạn ý thức rõ ràng hơi thở là sắc và
tâm ghi nhận hơi thở là danh. Như vậy là bạn thấy hay phân
biệt được đối tượng một cách rõ ràng: "Ðây là danh,
đây là sắc. Ðây là sự khởi sinh của hơi thở, đây là
sự diệt tận của hơi thở..." Tóm lại, mỗi khi bạn thấy
rõ ràng những gì bạn ghi nhận thì bạn đã có trạch pháp
giác chi.
Thật
vậy, trạch pháp đồng nghĩa với tuệ giác hay trí tuệ. Trong
Bát Chánh Ðạo thì trạch pháp được gọi là Chánh kiến
(sammaa di.t.thi). Trong Thất Giác Chi được gọi là Trạch Pháp
(dhamma vicaya). Cả hai chánh kiến và trạch pháp đều để
chỉ một chuyện; đó là sự biện biệt đúng đắn về danh
và sắc.
Trạch
pháp có đặc tính xuyên thấu sự vật để hiểu rõ cốt
tủy của sự vật. Chẳng hạn như thấy: "Ðây là sắc vì
nó không nhận thức được; đây là danh vì nó hướng đến
đối tượng". Khi trạch pháp xuyên thấu, nó quán thấu đối
tượng một cách chắc chắn và đúng đắn. Như vậy, sự
quán thấu của Trạch pháp thật chính xác và ổn cố. Trạch
pháp có công năng thắp sáng lãnh vực đối tượng như ngọn
đèn chiếu sáng các vật quanh nó. Vào ban đêm, nếu trong phòng
không có đèn đuốc thì bạn sẽ không thấy được vật gì.
Khi đèn thắp lên, đồ vật trong phòng được chiếu sáng
thì bạn có thể thấy mọi vật một cách rõ ràng. Cũng vậy,
khi bạn có trạch pháp, tức là có trí tuệ thì bạn sẽ thấy
đề mục thiền là thân và tâm một cách rõ ràng.
Sự
biểu hiện của Trạch Pháp là "không lẫn lộn". Khi có Trạch
Pháp thì thiền sinh không bị lẫn lộn. Bởi thế, sự quán
thấu của Trạch Pháp có thể so sánh với ánh sáng của một
ngọn đèn làm rõ mọi vật trong phòng. Khi có Trạch Pháp thiền
sinh không còn lẫn lộn bởi vì thiền sinh đã thấy rõ đối
tượng là gì và như thế nào. Thiền sinh thấy được sự
đến và đi của đối tượng. Ðiều này có thể so sánh với
một người hướng đạo trong rừng. Mặc dầu những người
khác có thể bị lạc, nhưng người hướng đạo có thể đưa
những người đi lạc ra khỏi rừng và dĩ nhiên là không bị
lạc lối. Bởi thế, biểu hiện của Trạch Pháp là không
lẫn lộn.
Theo
chú giải, có bảy cách giúp phát sinh Trạch Pháp:
1)
Tìm hiểu đặt câu hỏi về những lời dạy của Ðức Phật,
năm uẩn, mười hai xứ, tứ đại, thất giác chi, tứ niệm
xứ: Bằng cách đặt câu hỏi, bạn sẽ có câu trả lời;
nhờ đó càng ngày bạn càng hiểu rõ hơn đề mục hành thiền
và có thể phát triển sự hiểu biết này về giáo pháp.
2)
Sạch sẽ bên trong và bên ngoài: Sạch sẽ bên trong là giữ
cơ thể sạch sẽ. Muốn phát triển giác chi này bạn phải
giữ cơ thể sạch sẽ. . Sạch sẽ bên trong rất cần thiết
để phát triển trí tuệ. Khi cơ thể không sạch thì Trạch
Pháp Giác Chi không thể phát triển được. Sạch sẽ bên ngoài
là giữ nhà cửa, phòng ốc, áo quần của bạn sạch sẽ.
Khi thấy một phòng thiền gọn gàng, sạch sẽ thì tâm thiền
sinh sẽ định tỉnh, sáng suốt và có trí tuệ hơn. Khi căn
phòng dơ bẩn thì tâm thiền sinh cũng bị dơ bẩn theo. Sự
dơ bẩn không những chẳng giúp ích gì mà còn cản trở sự
phát triển định tâm và trí tuệ của người hành thiền.
Như vậy, thiền sinh cần giữ sạch sẽ bên trong và bên ngoài
để tạo cơ hội cho Trạch Pháp hay trí tuệ phát triển.
3)
Quân bình các căn (indriya): Thiền sinh có thể phát triển trí
tuệ bằng cách quân bình ngũ căn. Ngũ căn ở đây là tín,
tấn, niệm, định, huệ. Tín phải được cân bằng với huệ,
tấn phải được cân bằng với định. Ðiều quan trọng đặc
biệt là giữ tinh tấn và định quân bình vì đây là hai năng
lực căn bản. Khi tinh tấn trội hơn định thì bất an phát
sinh. Nhưng khi tinh tấn yếu kém hơn định thì buồn ngủ xen
vào. Bởi vậy thiền sinh phải biết cách điều hòa, đừng
để cho năng lực nào quá trội hay quá kém. Tín và huệ cũng
phải được quân bình và hài hòa. Tín quá trội sẽ sinh ra
cả tin, trí tuệ quá trội sẽ sinh ra suy nghĩ. Chánh niệm
giữ vai trò điều hòa hai cặp năng lực này. Chánh niệm luôn
luôn cần thiết. Chánh niệm phải có mặt trong mọi lúc. Ðức
Phật dạy rằng: "Chánh niệm được yêu chuộng khắp mọi
nơi." Càng nhiều chánh niệm càng tốt, chánh niệm không bao
giờ bị dư thừa. Chánh niệm chẳng khác nào đồ gia vị
cho thức ăn. ở Ðông phương chẳng hạn, thức ăn cần có
muối. Thức ăn không có muối thì không ngon nên chánh niệm
chẳng khác nào muối trong thức ăn. Chánh niệm cũng có thể
được so sánh với một vị thủ tướng điều hành mọi công
việc mà nhà vua giao phó. Trong năm năng lực (tín, tấn, niệm,
định, huệ) thì chánh niệm là năng lực cần thiết nhất.
4)
Tránh xa người không thông hiểu giáo pháp: Bạn không thể
phát triễn Trạch Pháp nếu không tránh xa những người không
thông hiểu giáo pháp. Không thông hiểu giáo pháp là không
thông hiểu những lời dạy của Ðức Phật, không thông hiểu
năm uẩn, mười hai xứ, tứ đại, tứ diệu đế...
5)
Thân cận bậc thiện trí thức: Thân cận với những người
thông hiểu năm uẩn, mười hai xứ, tứ đại, tứ diệu đế...
để giúp bạn phát triển trạch pháp.
6)
Suy niệm sâu xa: Trước tiên bạn phải tìm hiểu và đặt
câu hỏi về năm uẩn, mười hai xứ, tứ đại, tứ diệu
đế... sau đó suy niệm một cách thâm sâu về những điều
học hỏi này. Bạn phải ôn đi ôn lại trong tâm những điều
đã nghiên cứu và học hỏi. Do suy niệm thâm sâu về năm
uẩn, mười hai xứ, tứ đại, tứ diệu đế... Trạch Pháp
của bạn sẽ được phát triển.
7)
Hướng tâm vào việc phát triễn Trạch Pháp: Bạn phải luôn
luôn hướng tâm vào việc đạt được trí tuệ, dầu bạn
đang ở đâu: đang đi, đứng, ngồi, nằm hay làm bất cứ
công việc gì. Hãy hướng tâm vàoTrạch Pháp Giác Chi, hướng
vào trí tuệ để cho trí tuệ đến với bạn.
3.
Tinh tấn
Tinh
tấn (viriya) là nỗ lực tinh thần có mặt mỗi khi bạn chánh
niệm. Tinh tấn không được quá nhiều hay quá ít. Khi thiền
sinh chú tâm vào đề mục thì tinh tấn tinh thần đã bao gồm
trong đó. Khi không có tinh tấn tinh thần thì không thể giữ
tâm trên đề mục. Tinh tấn phải có mặt thường xuyên trong
mọi họat động tinh thần và trong mọi lúc ghi nhận đề
mục. Nhưng không nên tinh tấn thái quá cũng không nên quá
giãi đãi. Tinh tấn quá nhiều sẽ sinh ra bất an và tinh tấn
quá ít sẽ sinh ra buồn ngủ.
Ðặc
tính của Tinh tấn là hướng về một điều gì. Công năng
của tinh tấn là củng cố các tâm sở phát sinh cùng với
tinh tấn. Tinh tấn hỗ trợ và giúp đỡ trạch pháp. Sự biểu
hiện của tinh tấn là không chìm xuống, không suy sụp. Trong
chú giải có ghi rằng một khi đã được khởi sự một cách
đúng đắn thì tinh tấn sẽ là nguồn cội của mọi thành
đạt. Không có sự thành đạt nào có thể đạt được mà
không có tinh tấn [14 ]
Chú
giải nói đến mười một cách làm phát sinh tinh tấn:
1)
Suy niệm đến bốn ác đạo (aapaaya): Hãy tự nhắc nhở: "Nếu
không tinh tấn hành thiền và tích lũy thiện nghiệp thì chắc
chắn tôi sẽ tái sinh vào bốn ác đạo và sẽ đau khổ vô
cùng". Suy niệm về sự đáng sợ của bốn cảnh khổ giúp
bạn không giãi đãi trong việc thực hành và khiến bạn càng
nổ lực tinh tấn.
2)
Suy tư đến lợi ích của sự tinh tấn: Bạn có thể suy tư
như sau: "Nhờ nỗ lực tinh tấn, nhiều thiền sinh đã đạt
quả Alahán. Alahán không thể đạt được bởi những người
lờ đờ biếng nhác chảy thây, bởi thế ta phải nỗ lực."
3)
Suy niệm về Ðạo: Bạn có thể suy tư như sau: Con đường
thiền tập để giải thoát hay minh sát thiền đã được Ðức
Phật, Phật Ðộc Giác và hàng Thinh văn đệ tử Phật tinh
tấn đi qua. Ðây không phải là lối đi của những kẻ lờ
đờ biếng nhác, bởi vậy không nên làm biếng mà hãy nỗ
lực tinh tấn khi đi trên con đường này.
4)
Nhớ ơn những người hỗ trợ: Ðiều này muốn nói đến
các thầy tỳ khưu cũng như thiền sinh các khóa thiền nhận
được sự hỗ trợ của thiện tín. Họ nên luôn luôn ý thức
về sự hổ trợ này. Thiện tín cung cấp thực phẩm cũng
như các vật dụng cần thiết cho chư tăng và thiền sinh với
kỳ vọng rằng những thứ họ dâng cúng sẽ giúp đỡ cho
những người hành thiền tinh tấn trong việc thực hành của
họ. Trong một khóa thiền, thiền sinh được những người
tình nguyện lo lắng, săn sóc mọi chuyện từ thức ăn cho
đến sức khỏe. Các thiền sinh phải luôn luôn nhớ đến
những sự hỗ trợ này. Chỉ có sự thực hành tinh tấn của
thiền sinh mới thể hiện được lòng tri ân của mình đối
với những người hỗ trợ. Ðức Phật cho phép thầy tỳ
khưu nhận thực phẩm cúng dường trong lúc đi bát, và nhận
tứ vật dụng là nhằm mục đích giúp các thầy có đủ phương
tiện trao dồi giới hạnh, tinh tấn tiến bước trên đường
giải thoát chứ không phải để các thầy tỳ khưu sống một
đời sống chay lười, biếng nhác, hưởng thụ. Thế nên,
để đền đáp công ơn của những người hỗ trợ mình, thiền
sinh hãy nỗ lực tinh tấn hành thiền.
5)
Suy niệm đến di sản cao thượng: "Di sản" ở đây có nghĩa
là di sản của Ðức Phật. Thiền sinh phải suy niệm như sau:
"Thật vậy, di sản của Ðức Phật thật cao quí và vĩ đại
làm sao". Người làm biếng chảy thây không thể nhận lãnh
được di sản quí báu này. Một người biếng nhác thì chẳng
khác nào một đứa trẻ không nghe lời cha mẹ. Con không nghe
lời cha mẹ thì cha mẹ sẽ truất quyền thừa hưởng gia sản.
Cũng vậy, người biếng nhác không thể nhận lãnh gia sản
quí báu của giáo pháp. Chỉ có người nỗ lực tinh tấn hành
thiền mới được nhận lãnh gia tài quí báu này.
6)
Suy niệm đến ân đức và năng lực của Ðức Phật: Có nghĩa
là thiền sinh nhớ đến những biến cố vĩ đại trong đời
sống của Ðức Phật và tự khuyên nhủ: "Sau khi đã biết
được đời sống cao thượng và sự thành đạt vĩ đại
cũng như lòng từ bi và trí tuệ cao cả của Ðức Phật ta
không nên lười biếng chảy thây như vậy.
7)
Suy niệm đến sự vĩ đại của giòng dõi chúng ta: "Giòng
dõi" ở đây có nghĩa là được sinh ra là một tỳ khưu (chữ
tỳ khưu ở đây phải được hiểu theo nghĩa là những người
nỗ lực hành thiền để thoát ly tham ái). Ðược sinh ra ở
đây có nghĩa là có một cuộc sinh mới để trở thành một
người con tinh thần của Ðức Phật. Cho nên ta phải cố gắng
tinh tấn để xứng đáng là một người con của Ðức Phật.
8)
Suy niệm đến các bạn đạo, các bậc thầy, các bậc thiện
trí: Thiền sinh phải tự nhắc nhủ mình như sau: "Các Ngài
Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên và những vị đại đệ tử
khác đã chứng đạt giáo pháp siêu thế. Ta đã đi theo con
đường của những vị này chưa? "
9)
Tránh xa người biếng nhác: Nhờ tránh xa người biếng nhác,
bạn sẽ có nhiều tinh tấn hơn trong việc thực hành giáo
pháp.
10)
Làm bạn với người siêng năng tinh tấn: Thân cận với người
siêng năng tinh tấn thiền sinh cũng trở nên siêng năng tinh
tấn theo. Người siêng năng tinh tấn luôn luôn nỗ lực để
tạo ra các nghiệp thiện và luôn luôn tinh tấn hành thiền.
11)
Kiên trì hướng tâm vào việc phát triển đức tinh tấn: Hướng
tâm vào việc phát triển tinh tấn, trong bất kỳ oai nghi nào,
khiến tinh tấn phát sinh.
(Xem
Phần kế tiếp)
[04-C]
Quán
Sát Pháp Trong Pháp
(tiếp
theo)
4.
Hỉ
Hỉ
(piiti) có nghĩa là vui thích, hân hoan. Có rất nhiều chữ để
diễn tả ý nghĩa của hỉ. Hỉ có nghĩa chính là sự hài
lòng khi nhận được một vật gì ưa thích. Trong việc hành
thiền thì hỉ là đối tượng mà mình ưa thích. Tuy nhiên
chúng ta phải phân biệt chữ piiti với chữ sukha. Nhiều người
dịch hai chữ này như nhau và gọi là hỉ lạc, hạnh phúc,
vui vẻ. Thực ra sukha hay "lạc" liên quan đến những kinh nghiệm
về vật mà mình có được. Như vậy "hỉ" là có được vật
vừa lòng và "lạc" là hưởng thụ sự vừa lòng do sự chấp
giữ vật đó. "Piiti" là bằng lòng với một vật ưa thích
mà bạn nhận được. Như vậy, piiti thuộc về hành uẩn trong
khi đó sukha thuộc về thọ uẩn. Như vậy khi bạn ý thức
rằng bạn sẽ kinh nghiệm được một điều hay vật gì thích
thú thì bạn có hỉ, piiti. Và khi bạn thực sự có được
vật đó, kinh nghiệm được vật đó thì bạn có lạc, sukha.
Ðặc
tính của hỉ là hân hoan vui thích và thỏa mãn. Công năng
của hỉ là làm cho thân tươi mát và đầy năng lực. Sự
biểu hiện của hỉ nơi thiền sinh là sự nhẹ nhàng vui vẻ.
Có
năm loại hỉ:
1)
Khinh hỉ: Làm cho nổi da gà, tóc hay lông dựng lên. Khi bạn
hành thiền mà bạn cảm thấy hân hoan, rồi rờn rợn thích
thú trong cơ thể tiếp theo đó da gà nổi lên, lông hay tóc,
nhất là tóc gáy, dựng lên như vậy tức là bạn đã kinh
nghiệm được loại hỉ này.
2)
Sát na hỉ: Hỉ đến như một tia chớp. Một đôi khi bạn
kinh nghiệm loại hỉ này nơi cơ thể như một tia chớp. Bạn
cảm thấy rất nhẹ nhàng, khoẻ khoắn và mát mẻ. Ðối với
người Ðông phương mát mẻ là một điều tốt đẹp vì ở
đó thời tiết rất nóng.
3)
Hải triều hỉ: Hỉ tràn ngập cả thân thể bạn nhiều lần
như sóng biển liên tiếp dội vào bờ.
4)
Thượng thăng hỉ: Loại hỉ này làm thân thể nhẹ nhỏm và
có thể bay lên hư không. Có những câu chuyện nói về những
người bay lên không trung nhờ có thượng thăng hỉ. Ngày nay
khi các thiền sinh kinh nghiệm được loại thượng thăng hỉ
này trong lúc hành thiền, cơ thể họ được nâng lên một
chút ít hay di chuyển đến một nơi khác mà vẫn giữ nguyên
tư thế thiền của mình. Ðôi khi thiền sinh có thể cảm thấy
dường như được nâng lên khỏi mặt đất. Ðó là biểu
hiện của thượng thăng hỉ.
5)
Sung mãn hỉ: Loại hỉ này thấm nhuần toàn thân giống như
dầu thấm đầy một miếng bông gòn. Thiền sinh có loại hỉ
này cảm thấy toàn thân đắm chìm trong hỉ lạc thích thú.
Thiền
sinh có thể đạt được từng loại hỉ một hay hết cả
năm loại hỉ này trong lúc hành thiền. Hòa thượng Mahasi đã
diễn tả hỉ, piiti, như sau:
Hĩ
lạc sẽ phát sinh trong năm tầng mức, khởi đầu là khinh
hỉ. Khi tâm thanh tịnh thì hỉ bắt đầu xuất hiện và thiền
sinh cảm thấy người nổi da gà, tay chân rung động... và
bấy giờ thiền si