[01]
Quán
sát Thân trong Thân
(Niệm
Thân)
Pháp
quán sát đầu tiên là quán sát thân trong thân. Ðức Phật
đã trình bày phần này qua mười bốn cách khác nhau. Nói cách
khác, ngài đã dạy mười bốn đề mục về quán sát thân
trong thân. Ðề mục đầu tiên trong các đề mục này là hơi
thở.
Ðức
Phật dạy:
Và,
này các thầy tỳ khưu, như thế nào vị tỳ khưu quán sát
thân trong thân? Này các thầy tỳ khưu, ở đây, tỳ khưu hoặc
đi vào rừng, hoặc đến dưới cội cây, hoặc đi đến nơi
thanh vắng, ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng, chánh niệm vào
đề mục hành thiền. Chánh niệm vị ấy thở vào, chánh niệm
vị ấy thở ra."
Trong
câu "hoặc đi vào rừng, hoặc ở dưới cội cây, hoặc đi
đến nơi thanh vắng", Ðức Phật chỉ cho ta những nơi thích
hợp để hành thiền. Trước tiên rừng nghĩa là bất cứ
loại rừng nào có sự thanh vắng và an lạc là được. Bởi
vì phải là nơi thanh vắng nên rừng phải không có người
ở, xa hẳn tiếng động và tiếng ồn ào của dân chúng sống
trong làng, trong phố hay trong thành thị. Trong một vài bản
kinh giải thích rằng "rừng" được định nghĩa là nơi cách
xa chỗ dân chúng cư ngụ khoảng năm trăm cây cung. Một cây
cung dài khoảng sáu bộ (feet), như vậy rừng phải cách xa
chỗ dân chúng cư ngụ khoảng ba ngàn bộ (khoảng 1 km). Tại
một nơi cách xa chỗ dân chúng cư ngụ như thế thì có thể
tìm được sự thanh vắng. Ngày nay, khó có thể tìm được
một nơi thật sự thanh vắng. Ngay trong rừng, bạn cũng còn
có thể nghe tiếng động của máy bay.
Chỗ
thứ hai được nói đến trong kinh là "dưới cội cây". Dưới
cội cây nào cũng được nhưng phải là một nơi thanh vắng
như trong rừng.
Chỗ
thứ ba chỉ là "một nơi thanh vắng". Có thể là trong thành
phố hay trong làng, nhưng phải thanh vắng.
Về
nơi chốn thì yếu tố thanh vắng là điều kiện tối quan
trọng. Bởi vậy, bất cứ nơi nào thanh vắng là nơi thích
hợp để hành thiền.
Trong
một kinh khác, những nơi thanh vắng được kê ra như sau: rừng,
cội cây, tảng đá, hẻm núi, hang động, nghĩa trang, rừng
thưa, đồng trống và đụn rơm [3]. Trong bảng liệt kê này
còn kể ra bảy chỗ bắt đầu bằng chữ "đá" cũng được
xem là "nơi thanh vắng".
Những
nơi chốn này được kể ra bởi vì chúng là những nơi thích
hợp nhất cho những người mới hành thiền; những người
này cần một nơi yên tĩnh và không bị hoàn cảnh bên ngoài
chi phối. Thiền viện hay chùa có thể là nơi thanh vắng để
hành thiền. Ðối với những người có kinh nghiệm về thiền
và những người tâm định đã đạt được mức độ đáng
kể thì mọi nơi đều thích hợp cho việc hành thiền.
"Rừng,
cội cây, nơi thanh vắng" là những nơi yên tĩnh, cần thiết
cho việc hành thiền. Ba nơi trên cũng là chỗ thích hợp cho
thiền sinh về thời tiết, tâm tánh và tư chất riêng của
mỗi thiền sinh mà chọn lựa một nơi thích hợp.
"Rừng"
thích hợp trong mùa nóng, "dưới cội cây" thích hợp trong
mùa lạnh và "nơi trống trải thanh vắng" thích hợp trong mùa
mưa.
Rừng
thích hợp cho những thiền sinh có nhiều đàm, dưới cội
cây thích hợp cho những thiền sinh có nhiều mật, và nơi
trống trải thanh vắng thích hợp cho những thiền sinh có nhiều
gió. ( Theo Aariyuvedic, y học Ấn Ðộ thì những người có
nhiều đàm, nhiều mật hay nhiều gió được gọi là "dosshas"
, là những người bị khiếm khuyết, không hoàn chỉnh. Những
người này nếu không biết cách quân bình thì cơ thể sẽ
bị rối loạn và phát sinh bệnh tật.).
Rừng
thích hợp cho những thiền sinh nhiều si mê, dưới cội cây
thích hợp cho những thiền sinh nhiều sân hận, và nơi trống
trải thích hợp cho những thiền sinh nhiều tham ái.
Chúng
ta có thể hiểu về sự lựa chọn nơi chốn thích hợp qua
ví dụ sau đây:
Người
chăn bò muốn huấn luyện và thuần thục hoá một con bê hoang
đang theo sau một con bò hoang để bú. Anh ta tách rời bò con
ra khỏi mẹ, rồi dùng giây buộc vào một cái cộc được
đóng chặt xuống đất. Con bê vùng vẫy, chạy tới, chạy
lui, nhảy nhót, lôi kéo nhưng không thể nào chạy thoát được.
Cuối cùng chú bê hiếu dộng này phải dừng lại, ngồi xuống
rồi nằm yên bên cây cọc. Cũng vậy, khi thiền sinh muốn
đào luyện tâm mình, muốn thuần hóa cái tâm chạy theo dục
lạc ngũ trần: hình sắc, âm thanh, mùi vị... như bê con theo
sau đuôi bò mẹ thì phải tách tâm mình ra khỏi dục lạc
ngũ trần: sắc, thinh, hương, vị, xúc để đi vào rừng, ở
dưới cội cây hoặc nơi thanh vắng. Dùng sợi dây chánh niệm
buộc tâm mình vào cột hơi thở vào và hơi thở ra. Tâm sẽ
nhảy tới, nhảy lui, vọng động liên hồi cho đến khi không
còn đối tượng quen thuộc để hướng đến. Tâm đã bị
"dây chánh niệm" buộc chặt nên không thể nào chạy thoát,
đành phải dừng vọng động qua đường lối cận định và
nhập định rồi ngồi xuống và nằm yên bên cọc "hơi thở
vào và hơi thở ra".
Ta
có thể so sánh ví dụ về con bê với tâm nhà sư :
Nhà
sư Con bê chưa thuần
Ðối
tượng ( sắc, thinh...) Sữa con bò mẹ
Ði
vào rừng, ở dưới cội cây.... Tách rời bê con
Hơi
thở vào và hơi thở ra Cây cọc
Chánh
niệm Sợi dây
Cận
định Bò ngồi xuống
Nhập
định Bò nằm xuống
Thầy
tỳ khưu ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng, chánh niệm vào
đề mục hành thiền.
Trong
câu này, Ðức Phật dạy bạn cách thức chuẩn bị và chọn
tư thế thích hợp cho việc hành thiền. Ngài đề cập đến
tư thế ngồi truyền thống là ngồi xếp bằng. Người Ðông
phương quen thuộc với việc ngồi trên sàn nhà nên ngồi xếp
bằng là chuyện tự nhiên và dễ dàng đối với họ. Họ
không cảm thấy khó khăn trong việc ngồi xếp bằng. Ðây
là một tư thế ngồi thiền rất tốt và an lạc, không đưa
đến sự biếng nhác cũng như giao động.
Có
ba cách ngồi xếp bằng. Ðầu tiên là ngồi "kiết già", đây
là cách ngồi khó nhất. Nếu không quen thì bạn không thể
ngồi lâu ở tư thế này. Khi hai chân tréo vào nhau thì chỉ
ngồi vài phút là bạn đã cảm thấy đau. Cách thứ hai là
ngồi "bán già". Bạn đặt chân này chồng lên chân kia nhưng
không bắt tréo lại với nhau. Bạn có thể ngồi lâu hơn ở
tư thế này, tuy nhiên bạn cũng còn cảm thấy chân bị đè
và vài phút sau chân bạn sẽ bị tê. Cách thứ ba là cách
ngồi "thoải mái". Bạn đặt chân này trước chân kia, hai
chân không chồng lên nhau. Cách này được nhiều sách gọi
là ngồi theo lối Miến Ðiện. Ở Miến Ðiện, phần lớn
ngồi theo cách này. Ðây có thể là cách tốt nhất cho người
mới bắt đầu. Những người mới bắt đầu hành thiền có
thể ngồi ở tư thế này trong một thời gian lâu hơn mà không
cảm thấy khó chịu.
Một
số người cảm thấy rất đau đớn khi phải ngồi xếp bằng.
Và sự đau đớn đã làm cản trở việc hành thiền của họ.
Những người này có thể ngồi trên gối, trên ghế, trên
băng bởi vì khi hành thiền cũng cần phải có chút ít thoải
mái.
Thầy
tỳ khưu giữ lưng thẳng: điều này có nghĩa là thiền sinh
phải giữ lưng ngay ngắn trong lúc ngồi thiền. Khi bạn ngồi
thẳng thì cột xương sống của bạn cũng được giữ thẳng.
Khi cột xương sống được giữ thẳng thì mười tám đốt
xương sống cái này chồng lên cái kia một cách ngay ngắn.
Khi bạn ngồi thẳng thì bắp thịt, gân, da và thịt không
bị xoắn lại nên bạn không bị đau. Nếu ngồi không thẳng
thì bắp thịt, gân v.v... sẽ xoắn lại làm bạn đau [4]. Ngồi
thẳng trong lúc tham thiền thì tâm bạn sẽ dễ tập trung để
phát triển chánh niệm; và tâm không bị suy sụp khi cơn đau
gia tăng.
Bởi
thế ngồi xếp bằng giữ lưng thẳng là một tư thế rất
thích hợp cho việc định tâm.
A.-
Chánh niệm hơi thở
"Chánh
niệm vào đề mục hành thiền": nghĩa là thiền sinh gom tâm
vào đề mục. ở đây đề mục thiền là hơi thở. Bởi vậy
bạn phải chú tâm vào hơi thở vào và hơi thở ra.
"Chánh
niệm, thầy tỳ khưu thở vào, chánh niệm, thầy tỳ khưu
thở ra": Câu này giảng giải cách hành thiền. Khi hành thiền
bạn giữ tâm trên hơi thở vào và hơi thở ra. Thực ra, bạn
chú tâm vào cửa mũi và quán sát hơi thở "vào ra", "vào ra"...
Tâm phải đặt ở cửa mũi trong khi theo dõi hơi thở vào và
ra. Phải quán sát hơi thở vào và hơi thở ra riêng biệt.
Không ghép chúng dính liền với nhau. Hơi thở vào không có
mặt vào lúc hơi thở ra và hơi thở ra không có mặt vào lúc
hơi thở vào.
Khi
thực hành pháp quán sát hơi thở bạn có thể quán sát hơi
thở bằng nhiều cách [5]. Bốn trong các cách này được ghi
trong Kinh (sutta).
"Thở
vào một hơi dài, thầy tỳ khưu biết: "tôi đang thở vào
dài"; thở ra một hơi dài, thầy tỳ khưu biết: "tôi đang
thở ra dài".
Trong
suốt thời gian quán sát hơi thở; đôi lúc thiền sinh bỗng
nhiên thở một hơi dài. Thiền sinh phải nhận biết "tôi đang
thở vào dài". Ðiều này có nghĩa là thiền sinh không quên
ghi nhận hơi thở khi thiền sinh có sự chú tâm đầy đủ
vào hơi thở. Không có nghĩa là thiền sinh phải cố ý thở
ra một hơi dài để biết rằng mình đang thở một hơi dài.
Chữ "biết" ở đây, có nghĩa là biết một cách trọn vẹn
chứ không phải chỉ biết hời hợt, bề mặt.
Thở
vào một hơi ngắn, thầy tỳ khưu biết: "tôi đang thở vào
ngắn". Thở ra một hơi ngắn, thầy tỳ khưu biết: "tôi đang
thở ra ngắn"
Trong
suốt thời gian quán sát hơi thở; đôi lúc thiền sinh bỗng
nhiên thở vào một hơi ngắn. Thiền sinh phải nhận biết
"tôi đang thở vào ngắn". Ðiều này có nghĩa là thiền sinh
không quên ghi nhận hơi thở khi thiền sinh có sự chú tâm
đầy đủ vào hơi thở, chứ không có nghĩa là thiền sinh
phải cố ý thở ra một hơi ngắn để biết rằng mình đang
thở một hơi ngắn. Chữ "biết" ở đây có nghĩa là biết
một cách trọn vẹn chứ không phải chỉ biết hời hợt bề
mặt.
"Nhận
thức rõ toàn thể hơi thở vào", (khởi đầu, kéo dài và
chấm dứt) tôi sẽ thở vào, thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy
(nghĩa là thầy tỳ khưu tự huấn luyện như vậy). "Nhận
thức rõ toàn thể hơi thở ra" (khởi đầu, kéo dài và chấm
dứt), tôi sẽ thở ra, thầy tỳ khưu tinh tấn như vậy.
Khi
quán sát hơi thở bạn phải cố gắng để thấy rõ ràng toàn
thể hơi thở. Nhận thức rõ ràng có nghĩa là biết được
hơi thở, biết trọn vẹn, cố gắng ý thức được hơi thở
một cách sắc bén. Nhóm chữ "toàn thể hơi thở" tiếng Paa.li
là: "Sabbakaaya" nghĩa là toàn thể cơ thể hay toàn thân (sabba:
toàn thể; kaaya: cơ thể hay thân). Nhưng Kaaya (cơ thể) ở
đây không có nghĩa là toàn thể cơ thể của thiền sinh mà
là toàn thể hơi thở. Như vậy, "Sabbakaaya" ở đây có nghĩa
là toàn thể hơi thở. Theo tiếng Paa.li thì chữ Kaaya có thể
có nghĩa là cơ thể hay một nhóm. Giống như trường hợp
bạn nói đến nhóm hội viên hay toàn thể hội viên vậy.
Ở đây, Sabbakaaya không có nghĩa là toàn thể cơ thể vật
chất, mà là toàn thể hơi thở, và "toàn thể" ở đây có
nghĩa là sự khởi đầu, kéo dài và chấm dứt. Bởi vậy,
thiền sinh phải cố gắng ý thức trọn vẹn sự khởi đầu,
kéo dài và chấm dứt của hơi thở. Bạn cũng phải nên nhớ
rằng đây là mục nói về "quán sát hơi thở", bởi vậy đề
mục hành thiền ở đây phải là hơi thở, mà không phải
là toàn thể cơ thể vật chất.
Sách
"Thanh Tịnh Ðạo" (Visudhi Magga) đã giải thích như sau:
Thầy
tỳ khưu luyện tập như sau: "Tôi biết rõ, biết trọn vẹn
toàn thể, đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối (khởi
đầu, kéo dài và chấm dứt) của hơi thở, tôi 'sẽ' thở
vào. Tôi biết rõ, biết trọn vẹn toàn thể, đoạn đầu,
đoạn giữa và đoạn cuối của hơi thở ra, tôi 'sẽ' thở
ra". Thầy tỳ khưu luyện tập như vậy. Bằng cách này, thầy
tỳ khưu biết rõ, biết trọn vẹn hơi thở; thầy tỳ khưu
thở vào và thở ra với tâm có trí tuệ [6].
Bạn
cần phải chú ý đến thể tương lai trong nguyên bản Paa.li
của đoạn văn này. Thể tương lai ở đoạn văn này cho thấy
rằng trong việc quán sát hơi thở trước đây bạn không cần
nhiều trí tuệ, nhiều tinh tấn để phân biệt giữa hơi thở
dài và hơi thở ngắn, nhưng bắt đầu từ đây bạn phải
có nhiều nỗ lực để đạt trí tuệ, để thấy hơi thở
một cách rõ ràng và trọn vẹn. Trong bản Paa.li, thể tương
lai cũng được dùng ở các đoạn sau.
Ðiều
này không có nghĩa là thiền sinh phải thở thật mạnh để
hơi thở trở nên rõ ràng đối với mình. Tâm định và trí
tuệ của thiền sinh chỉ sâu và trọn vẹn khi thấy rõ điểm
khởi đầu, kéo dài và chấm dứt của mỗi hơi thở. Khi thiền
sinh ý thức hơi thở một cách rõ ràng bằng cách thở thật
mạnh thì đó không phải là kết quả của sự định tâm
và hiểu biết mà do ở đề mục thô mạnh. Bởi vậy, thiền
sinh không nên thở mạnh hơn với mục đích là để thấy
hơi thở rõ ràng hơn. Thở quá mạnh cũng làm thiền sinh chóng
mệt, do đó thiền sinh chỉ nên thở bình thường.
Khi
thực hành loại thiền này bạn phải thở bình thường, nhưng
phải cố gắng tinh tấn, chánh niệm và hiểu biết rõ ràng
hơi thở vào và hơi thở ra. Bạn cần phải làm gì để hiểu
rõ ràng hơi thở của mình? Có bao nhiêu yếu tố nằm trong
mỗi tác động của sự quán sát rõ ràng? Bạn cần phải
có tinh cần, chánh niệm, định tâm và trí tuệ hay tỉnh giác.
An
tịnh hơi thở vào còn thô tháo (thân hành hay nhân duyên bởi
thân), tôi sẽ thở vào, Tỳ khưu tinh tấn như vậy. An tịnh
hơi thở ra còn thô tháo (thân hành hay nhân duyên bởi thân),
tôi sẽ thở ra, Tỳ khưu tinh tấn như vậy.
(Theo
chú giải câu này có nghĩa: Tinh tấn chú tâm vào hơi thở
lúc hơi thở trở nên vi tế khi thở vào, Tỳ khưu thở vào.
Tinh tấn chú tâm vào hơi thở lúc hơi thở trở nên vi tế
khi thở ra, Tỳ khưu thở ra ).
Trong
câu này hơi thở được gọi là "thân hành nhân duyên bởi
thân" dịch từ chữ kaaya sankhaara trong tiếng Paa.li. Kaaya có
nghĩa là thân thể và Sankhaara có nghĩa là pháp hữu vi, nhân
duyên pháp, các pháp có sinh diệt, các pháp bị chi phối bởi
các điều kiện khác. Như vậy, kaaya sankhaara có nghĩa là pháp
bị điều kiện hóa bởi thân, có nhân duyên từ thân hay thân
hành. Hơi thở được gây nên bởi tâm, nhưng khi không có
thân thì không có hơi thở. Bởi thế, mặc dầu được gây
ra bởi tâm nhưng hơi thở tùy thuộc vào thân để sinh khởi.
Do đó, chữ hơi thở trong câu này được hiểu là pháp gây
ra bởi thân, pháp nhân duyên bởi thân, thân nhân duyên pháp
hay thân hữu vi pháp.
Sankhaara
là một chữ Paa.li rất khó hiểu. Sankhaara có nhiều nghĩa
khác nhau tùy theo câu văn. Trong Thập Nhị Nhân Duyên, Sankhaara
(thường được dịch là Hành) có nghĩa là sự cố ý hay tác
ý, thường gọi là nghiệp (kamma). Trong Ngũ Uẩn thì Sankhaara
khanda (hành uẩn) có nghĩa là năm mươi tâm sở dẫn đầu
bởi tác ý. Ðôi khi, Sankhaara (pháp hữu vi) có nghĩa là mọi
vật trên thế gian, mọi pháp có điều kiện như khi ta nói:
"Các pháp hữu vi đều vô thường". Sankhaara có nghĩa là nhắc
bảo hay sai khiến như danh từ asankhaarika trong Vi Diệu Pháp.
Trong đoạn kinh này, Sankhaara có nghĩa là "điều kiện", "pháp
hữu vi" hay "nhân duyên". Bởi vậy Kaaya-sankhaara ở đây có
nghĩa là hơi thở nhân duyên bởi thân.
Chữ
Kaaya-sankhaara cũng còn được dịch theo nhiều cách khác nhau.
Trong từ điển "Buddhist Dictionary", Kaaya-sankhaara được dịch
là "chức năng của thân". Trong cuốn "In The Way of Mindfulness"
của Soma Thera, Kaaya-sankhaara được dịch là "hoạt động của
thân". Trong "The Path of Purification", Nyaanamoli Thera dịch Kaaya-sankhaara
là "thân hành". Trong "The Heart of Buddhist Meditation" của Nyaanaponika
Thera, Kaaya-sankhaara được dịch là "chức năng của thân".
Ở đây danh từ Kaaya-sankhaara hàm nghĩa là hơi thở. Hơi thở
ở đây được xem là hơi thở "thô tháo" bởi vì nó cần
được "làm cho an tịnh".
Câu
"An tịnh hơi thở" không có nghĩa là thiền sinh phải cố ý
làm cho hơi thở an lạc, an trú, tĩnh lặng mà có nghĩa là
khi hơi thở trở nên vi tế thiền sinh phải cố gắng chú
tâm và tinh tấn nhiều hơn để thấy rõ. Ðối với các đề
mục thiền khác, khi thiền sinh càng định tâm và hiểu rõ
đề mục thì đề mục càng rõ ràng (Như đề mục kasina chú
tâm vào cái đĩa bằng đất chẳng hạn). Ðối với đề mục
hơi thở thì trái lại, càng tiến bộ thì đề mục càng vi
tế hơn.
Hơi
thở tùy thuộc vào thân và tâm; do đó lúc không hành thiền
nếu thân và tâm không an tịnh thì hơi thở sẽ trở nên thô
tháo. Khi bạn chuyên tâm hành thiền, thân tâm trở nên an tịnh
tĩnh lặng, lúc ấy hơi thở trở nên vi tế khó nhận thấy.
Tâm định càng mạnh thì hơi thở càng trở nên vi tế đến
đỗi bạn phân vân không biết có còn hơi thở hay không. Bởi
vì không thể tìm thấy hơi thở trong lúc này nên bạn nghĩ
là hơi thở đã mất. Lúc ấy bạn hãy tự nhủ: "Ta không
chết. Ta không bất tỉnh. Ta vẫn còn sống nhưng ta không thể
nhận ra hơi thở vì hơi thở quá vi tế và vì định tâm cùng
trí tuệ của ta chưa sắc bén và chưa phát triển đầy đủ
nên không nhận thấy hơi thở. Bởi vậy, ta phải phát triển
thêm nữa, phải nỗ lực chú tâm vào đề mục hành thiền
hơn nữa để nhìn thấy hơi thở vi tế này." Khi bạn hành
thiền với nỗ lực tinh tấn và đạt thêm nhiều hiểu biết
thì bạn sẽ thấy rõ hơi thở dù chúng nhỏ nhặt đến đâu.
Do
đó, trong lúc hành thiền, khi hơi thở trở nên quá vi tế
không thể nhận ra được thì bạn cũng đừng vội vã bỏ
thiền. Bạn phải tự khích lệ và tinh tấn để quán sát
hơi thở nhỏ nhặt vi tế ấy cho đến khi hơi thở rõ ràng
trở lại. Ðó là ý nghĩa của câu "An tịnh hơi thở khi thở
vào" hay "Tinh tấn chú tâm vào hơi thở (khi hơi thở trở nên)
vi tế khi thở vào".
Như
vậy, khi hành thiền đề mục quán sát hơi thở bạn phải
nhận thức trọn vẹn:
(1)
hơi thở dài,
(2)
hơi thở ngắn,
(3)
toàn thể hơi thở (đoạn đầu, đoạn giữa, đoạn cuối)
và
(4)
sự vi tế hầu như không thể nhận thấy được của hơi
thở.
Ðức
Phật đưa ra một ví dụ để thầy tỳ khưu hiểu những lời
dạy của Ngài một cách rõ ràng hơn:
Như
một người thợ tiện rành nghề và học trò của ông ta khi
quay một vòng dài thì biết rằng: "tôi quay một vòng dài",
khi quay một vòng ngắn thì biết rằng: "tôi quay một vòng
ngắn". Cũng vậy, Tỳ khưu khi thở vào một hơi dài biết
rằng: "tôi thở vào dài", Tỳ khưu khi thở ra một hơi dài
biết rằng: "tôi thở ra dài", Tỳ khưu khi thở vào một hơi
ngắn biết rằng: "tôi thở vào ngắn", Tỳ khưu khi thở ra
một hơi ngắn biết rằng: "tôi thở ra ngắn". "Nhận thức
rõ toàn thể hơi thở vào" (khởi đầu, kéo dài và chấm dứt)
tôi sẽ thở vào, Tỳ khưu tinh tấn như vậy (nghĩa là thầy
tỳ khưu tự huấn luyện như vậy). "Nhận thức rõ toàn thể
hơi thở ra" (khởi đầu, kéo dài và chấm dứt) tôi sẽ thở
ra, tỳ khưu tinh tấn như vậy. Tinh tấn chú tâm vào hơi thở
khi hơi thở trở nên vi tế khi thở vào, Tỳ khưu thở vào.
Tinh tấn chú tâm vào hơi thở khi hơi thở trở nên vi tế
khi thở ra, Tỳ khưu thở ra.
"Quay
một vòng dài" có nghĩa là: khi làm một vật gì lớn, như
cái trống chẳng hạn, người thợ tiện phải quay một vòng
lớn trên máy tiện. "Quay một vòng ngắn", có nghĩa là khi
làm một vật nhỏ, như những cây kim bằng ngà chẳng hạn,
người thợ tiện phải quay một vòng nhỏ trên máy tiện.
Quay những vòng lớn, nhỏ này, người thợ tiện phải ý thức
mình đang quay vòng nào?
Như
vậy, tỳ khưu quán sát thân trong nội thân hay tỳ khưu quán
sát thân trong ngoại thân hay tỳ khưu quán sát thân trong nội
thân và ngoại thân
Thế
nào là "quán sát thân trong nội thân"? Câu này có nghĩa là
thiền sinh quán sát hay ghi nhận hơi thở vào và hơi thở ra
của mình. Khi thiền sinh chú tâm trên hơi thở của mình thì
được gọi là quán sát thân trong nội thân. Khi thiền sinh
đã đạt được một số tiến bộ trong việc chú tâm vào
hơi thở của chính mình, bỗng nhiên thiền sinh nghĩ đến
hơi thở của người khác và tự nhủ: "Hơi thở của ta có
điểm khởi đầu và điểm chấm dứt, sinh và diệt, thì hơi
thở của người khác cũng vậy". Ðó là thiền sinh đã "quán
sát thân trong ngoại thân".
Câu
"Quán sát thân trong ngoại thân" chỉ có nghĩa là trong khi quán
sát hơi thở mình bỗng nhiên "nghĩ" đến hơi thở của người
khác chứ không có nghĩa là "nhìn" vào người khác và quán
sát hơi thở của họ. Tuy nhiên khi bỗng nhiên quán sát hơi
thở của người khác thì bạn cũng phải chánh niệm nữa.
Ðôi
khi bạn quán sát hơi thở của chính mình rồi bỗng nhiên
lại "nghĩ" đến hơi thở của người khác, xong lại trở
về với hơi thở của mình, tiếp đó lại nghĩ đến hơi
thở người khác... Ði đi lại lại giữa hơi thở của mình
và hơi thở của người khác đó là "quán sát thân trong nội
thân và thân trong ngoại thân". Câu này không có nghĩa là phải
quán sát hơi thở của chính mình và hơi thở của người
khác. Trong khi hành thiền bạn chỉ chú tâm quán sát hơi thở
của chính bạn mà thôi.
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của toàn
thể hơi thở hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự
diệt tận) của toàn thể hơi thở hoặc tỳ khưu quán sát
yếu tố sinh khởi và diệt tận (sự sinh khởi và sự diệt
tận) của toàn thể hơi thở.
Ở
đây, "chữ yếu tố sinh khởi" có nghĩa là những yếu tố
khiến hơi thở có mặt. Chú giải cắt nghĩa yếu tố sinh
khởi qua ví dụ sau đây: - Người thợ rèn thường dùng bễ
lò để gây lửa. Bễ lò có một bộ phận phát hơi và một
cái vòi. Muốn có hơi người thợ rèn phải dùng sức để
thụt hay quay bộ phận phát hơi. Hơi được tạo nên do ba
yếu tố: bộ phận phát hơi, vòi chuyền hơi và sức người
thợ rèn. Cũng vậy, muốn có hơi thở phải có: cơ thể, lỗ
mũi và tâm. Không có ba yếu tố trên sẽ không có hơi thở.
Do đó, ba yếu tố này được gọi là "các yếu tố làm phát
sinh hơi thở". Trong khi hành thiền đôi khi tư tưởng sau đây
đến với bạn: "Do có cơ thể, có mũi, có tâm nên mới có
hơi thở này". Khi quán sát như thế là bạn quán sát "các
yếu tố sinh khởi hơi thở".
"Yếu
tố diệt tận" có nghĩa ngược lại. Khi không có cơ thể
thì không có hơi thở. Khi không có mũi thì không có hơi thở.
Khi không có tâm thì không có hơi thở. Ba yếu tố: "cơ thể
tan rã", "mũi hư", "tâm không còn hoạt động" được gọi
là những yếu tố diệt tận. Bởi thế khi quán sát ba yếu
tố này là bạn quán sát "các yếu tố diệt tận của hơi
thở".
Và
khi bạn quán sát cả sáu yếu tố sinh khởi và diệt tận
của hơi thở là bạn đã quán sát cả hai: "yếu tố sinh khởi
và yếu tố diệt tận của hơi thở".
Quán
sát "yếu tố sinh khởi", "yếu tố diệt tận" hay "yếu tố
sinh khởi và diệt tận" của toàn thể hơi thở không có nghĩa
là trong khi hành thiền bạn phải cố ý tìm yếu tố sinh khởi,
yếu tố hoại diệt vv... mà có nghĩa là: trong khi bạn đang
hành thiền, ngẫu nhiên tư tưởng về các yếu tố này khởi
lên thì bạn phải ghi nhận sự sinh và diệt của chúng mà
thôi. Ðây là lối giải thích của Chú giải xưa.
Hòa
thượng Mahasi đã giải thích thêm như sau: "Trong đoạn kinh
này cũng giải thích sự "sinh" và "diệt" của hơi thở. "Các
yếu tố sinh khởi" được dịch từ chữ Paali "Samudaya dhamma".
"Samudaya dhamma" có nghĩa là "những yếu tố từ đó vật gì
được sinh khởi"; cũng có thể có nghĩa là "bản chất hay
đặc tính sinh khởi" hoặc chỉ đơn giản là "sự sinh khởi"
hay "Sinh". Cũng vậy, "các yếu tố diệt tận" (Voya dhamma) có
thể có nghĩa là "những yếu tố từ đó vật gì bị hoại
diệt", cũng có thể có nghĩa là "bản chất hay đặc tính
của sự diệt tận" hoặc chỉ đơn giản là "diệt tận" hay
"Diệt". ‘
Do
đó, theo ý kiến của Hòa thượng Mahasi thì khi thiền sinh
chăm chú quán sát sự sinh khởi của hơi thở từng chút một,
từng giây phút một tại bất kỳ nơi nào (như nơi hơi thở
xúc chạm vào mũi) được gọi là quán sát sự sinh khởi của
hơi thở (samudaya dhamma). Cũng vậy, khi thiền sinh chăm chú
quán sát sự diệt tận của hơi thở từng chút một, từng
giây phút một tại bất kỳ nơi nào (như nơi hơi thở xúc
chạm vào mũi) được gọi là quán sát sự diệt tận của
hơi thở (vayo dhamma).
Khi
quán sát hơi thở, trước tiên bạn thấy đoạn đầu của
hơi thở sau đó là đoạn cuối, và bạn theo dõi sự biến
mất của hơi thở. Khi chăm chú theo dõi, bạn sẽ quán sát
được sự sinh diệt của hơi thở và bạn sẽ thấy "sự
sinh diệt của hơi thở" dễ dàng và tự nhiên hơn là thấy
"các yếu tố sinh diệt của hơi thở". Tuy nhiên bạn không
thể loại bỏ sự thấy "nguyên nhân sinh diệt của hơi thở"
trong lúc hành thiền. Như vậy cả hai lối giải thích trong
đoạn kinh này đều phải được áp dụng. Ðối với nghĩa
thứ hai, đoạn kinh trên có thể được dịch như sau: "Tỳ
khưu quán sự sinh khởi của hơi thở, hay tỳ khưu quán sát
sự diệt tận của hơi thở, hay tỳ khưu quán sát sự sinh
khởi và sự diệt tận của hơi thở".
Hoặc
tỳ khưu chánh niệm rằng chỉ có toàn thể hơi thở mà thôi
(nghĩa là chỉ có thuần hơi thở mà thôi)
Trong
kinh Ðại Niệm Xứ, chữ kaaya (thân hay toàn thể) thường
được dùng với nhiều nghĩa khác nhau . Tùy theo mỗi đoạn
văn chữ kaaya được hiểu theo một nghĩa khác. ở đây là
đoạn kinh nói về hơi thở, bởi vậy mỗi khi gặp chữ kaaya
ta phải hiểu đó là toàn thể hơi thở. Khi thiền sinh chánh
niệm trên hơi thở, thì "chỉ chánh niệm trên hơi thở mà
thôi". Nghĩa là khi chú tâm vào hơi thở, thiền sinh không thấy
gì ngoài hơi thở. Chỉ có hơi thở, không có người, không
có chúng sinh, không có đàn ông, không có đàn bà, không có
cá nhân, không có tôi, không có của tôi, không có linh hồn
hay tự ngã, không có cái gì thuộc về linh hồn hay tự ngã
vv... Chỉ có hơi thở mà không có ai điều khiển, sắp đặt
hơi thở, không có ai ra lệnh cho hơi thở cũng không có ai
tạo ra hơi thở, chỉ có hơi thở mà thôi. Thấy được như
thế là chánh niệm đã được thiết lập.
Và
chánh niệm này cần được thiết lập để giúp cho sự phát
triển trí tuệ và chánh niệm về sau.
Câu
này có nghĩa là sự chánh niệm rằng "chỉ có hơi thở mà
thôi" đã được thiết lập để giúp cho sự phát triển trí
tuệ và chánh niệm sau này. Khi bạn thực tập Thiền Minh Sát
về đề mục niệm hơi thở, bạn đi từ mức này đến mức
kia; từ mức hiểu biết thấp lên đến mức hiểu biết cao
rồi lên đến mức cao nhất. Chánh niệm được thiết lập
để giúp trí tuệ và định tâm đạt mức cao hơn. Khi bạn
không thấy rằng: "chỉ có hơi thở mà thôi" mà lại thấy
rằng hơi thở này là trường cửu hay có chủ, có linh hồn,
có tự ngã hoặc luôn luôn thường còn thì trí tuệ bạn chưa
được phát triển đầy đủ để thấy rõ bản chất thực
sự của các pháp trên thế gian. Bởi vậy, chánh niệm rằng:
"chỉ có hơi thở mà thôi" rất cần thiết cho việc khai triển
trí tuệ.
Tỳ
khưu không tham ái và tà kiến mà lệ thuộc hay dính mắc vào
bất cứ điều gì.
Nghĩa
là không để tham ái và tà kiến chi phối khiến phải dính
mắc vào bất cứ điều gì. Khi giữ tâm trên hơi thở, theo
dõi hơi thở và xem xét sự đến và sự đi của hơi thở
trong mọi lúc bạn sẽ không bị dính mắc vào bất cứ điều
gì. Hơi thở đến và đi; hơi thở chẳng là gì để dính
mắc vào, hơi thở chỉ là hơi thở thôi. Khi đạt những tuệ
minh sát cao hơn bạn sẽ thấy sự sinh diệt của mọi hiện
tượng thân tâm. Bạn sẽ không bị tham ái và tà kiến làm
bạn dính mắc vào bất cứ điều gì.
Ðôi
lúc bạn dính mắc vào vật gì bởi vì bạn có tham ái hay
thích vật đó. Khi bạn muốn vật gì, thích vật gì, bạn
sẽ dính mắc vào vật đó. Ðó là lệ thuộc hay dính mắc
do tham ái.
Ðôi
lúc bạn có ý nghĩ sai lầm về vật đó và bạn nghĩ rằng
vật đó là thường còn, thế là bạn đã có ý nghĩ sai lầm
hay có tà kiến. Khi bạn nghĩ rằng vật đó sẽ vững bền
mãi mãi, vật đó thật đẹp đẽ, đáng yêu, và nếu đó
là một người thì người đó có một linh hồn trường cửu,
vậy là bạn đã có tà kiến.
Như
vậy, do tham lam hoặc do tà kiến bạn đã dính mắc vào vật
đó. Tuy nhiên, khi thấy rõ bản chất thật sự của hơi thở
cũng như của thân và tâm bạn sẽ không còn bị dính mắc
hay lệ thuộc vào bất cứ điều gì.
Tỳ
khưu cũng không dính mắc vào bất cứ vật gì trên thế gian
do ngũ uẩn thủ hợp thành.
Ngũ
uẩn thủ có nghĩa là năm nhóm tập hợp làm đối tượng
cho tham ái và dính mắc. Ðó là: sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng
uẩn, hành uẩn và thức uẩn. Tất cả mọi vật trên thế
gian đều thuộc vào một hay các uẩn khác trong năm uẩn. Thấy
rõ bản chất của sự vật, người thực hành Thiền Minh Sát
sẽ không còn luyến ái, dính mắc vào bất cứ vật gì.
Như
vậy, này các thầy Tỳ khưu, Tỳ khưu quán sát thân trong thân.
Câu
này báo cho biết rằng phần dạy về quán sát hơi thở đã
chấm dứt.
Hơi
thở có thể dùng làm đề mục trong Thiền Ðịnh hay trong
Thiền Minh Sát. Thiền Ðịnh là Thiền Vắng Lặng giúp đạt
tâm định hay đạt các tầng định. Thiền Minh Sát dẫn đến
chỗ loại bỏ các phiền não trong tâm.
Hành
Thiền Ðịnh khác với hành Thiền Minh Sát. Khi dùng hơi thở
làm đề mục Thiền Ðịnh, bạn chú tâm vào hơi thở và đếm
từng hơi thở. Khi đếm, không được đếm dưới năm hay
trên mười. Phải đếm từ một đến năm, một đến sáu
cho đến một đến mười. Bạn có thể chọn cách đếm nào
thích hợp cho mình. Chẳng hạn: "Vào một, ra một, vào hai,
ra hai, vào ba, ra ba, vào bốn, ra bốn, vào năm, ra năm, vào
sáu, ra sáu. Rồi đếm lại từ đầu: " Vào một, ra một,
vào hai, ra hai, vào ba, ra ba, vào bốn, ra bốn, vào năm, ra năm,
vào sáu, ra sáu". Bạn có thể đếm đến sáu hoặc đến mười.
Lúc
đầu bạn phải đếm từ từ. Mục đích của việc đếm
là giúp bạn giữ tâm trên đề mục. Có thể so sánh sự đếm
này với việc cột đối tượng bằng một sợi dây. Một
khi bạn đạt được định tâm bằng cách đếm và có thể
trụ trên một đối tượng mà không bị phóng tâm, lúc bấy
giờ bạn có thể bỏ cách đếm và chỉ ý thức hay ghi nhận
hơi thở vào và hơi thở ra mà thôi. Lúc đầu còn dùng cách
"đếm", về sau chỉ dùng cách "nhận biết" hơi thở mà không
đếm. Bạn chỉ cần chú tâm nhận biết hơi thở và chẳng
bao lâu sau hơi thở sẽ càng lúc càng vi tế hơn.
Ðôi
lúc bạn có thể thấy "Tướng" hay hình ảnh trong tâm khi có
sự định tâm tốt. Hỏi mười người sẽ có mười "tướng"
khác nhau. Hình ảnh trong tâm hay "tướng" thì không thể kể
hết số lượng và loại hạng. Mỗi người có một "tướng"
khác nhau tùy theo tri giác, khuynh hướng và địa vị của họ.
Kinh điển có ghi lại một số "tướng" như sau: Tướng có
thể xuất hiện như những ngôi sao, những chuỗi hạt trai;
có thể thô mịn như những hạt bông vải hay những hạt làm
bằng lõi gỗ, một sợi dây bện dài, một tràng hoa, một
luồng khói hay một sợi tơ nhện dài, một đám mây, một
hoa sen, một bánh xe hay hình ảnh một cái dĩa tròn như mặt
trăng hay mặt trời. Khi việc hành thiền đạt đến một tầng
mức nào đó thì "tướng" hay hình ảnh trong tâm xuất hiện.
Thiền sinh bấy giờ sẽ tiến đến "nhập định" (Jhaana),
và từ các tầng thiền này có thể chuyển sang Thiền Minh
Sát.
Khi
lấy hơi thở làm đề mục Thiền Minh Sát, bạn sẽ không
đếm hơi thở mà chỉ chú tâm chánh niệm trên hơi thở và
tập quán sát hơi thở trong bốn trường hợp: hơi thở dài,
hơi thở ngắn, thấy rõ toàn thể hơi thở (khởi đầu, trải
dài và chấm dứt) và tinh tấn chú tâm khi hơi thở vi tế.
Có
thể bạn sẽ không thấy "tướng" khi hành Thiền Minh Sát.
Tuy nhiên, nếu thấy thì bạn hãy ý thức và ghi nhận: "thấy,
thấy, thấy" rồi trở về đề mục chính của mình. Cứ tinh
tấn kiên trì chú tâm vào đề mục thiền thì chẳng bao lâu
sau bạn sẽ thấy thân và tâm một cách rõ ràng, và bạn sẽ
tiến bộ dần dần cho đến khi đạt đến tầng mức giác
ngộ cuối cùng.
Kinh
này chỉ chú trọng đến Thiền Minh Sát chứ không chú trọng
đến Thiền Ðịnh hay Thiền Vắng Lặng bởi vì kinh dạy quán
sát những yếu tố sinh diệt. Chỉ có Thiền Minh Sát mới
dạy quán sát sự sinh diệt của đối tượng. Khi hành Thiền
Vắng Lặng, bạn không quán sát sự sinh diệt của đối tượng
mà chỉ chú tâm vào đối tượng thôi. Khi bạn chú tâm vào
sự sinh diệt hay sự khởi sinh và sự chấm dứt của đối
tượng thì bạn sẽ không bị luyến ái hay dính mắc vào bất
cứ điều gì. Thực hành như thế là hành Thiền Minh Sát (Vipassanaa)
chứ không phải hành Thiền Vắng Lặng (Samatha). Khi hành Thiền
Minh Sát, bạn chú tâm chánh niệm vào hơi thở đồng thời
chánh niệm vào bất cứ những gì đang xảy ra ở sáu cửa
giác quan trong giây phút hiện tại. Ðiều này có nghĩa là
khi bạn đang chú tâm vào đề mục chính (như sự chuyển động
của bụng, chẳng hạn) mà một đối tượng khác nổi bật
lên (như tiếng động, chẳng hạn) khiến bạn không còn giữ
tâm ở đề mục chính được thì hãy ghi nhận ngay đề mục
này, rồi trở về đề mục chính. Thấy điều gì, bạn phải
chánh niệm ghi nhận, nghe điều gì, bạn phải chánh niệm
ghi nhận, suy nghĩ điều gì hay bị phóng tâm, bạn đều phải
chánh niệm ghi nhận. Ðó là điểm khác biệt giữa Thiền
Vắng Lặng và Thiền Minh Sát. Khi hành Thiền Vắng Lặng bạn
chỉ chú tâm vào đối tượng chính mà quên hết mọi chuyện
khác. Khi hành Thiền Minh Sát bạn phải chú tâm vào từng đối
tượng đang xảy ra trong hiện tại, nếu đối tượng đó
nổi bật.
Trong
kinh này, bạn thấy rằng mỗi đối tượng của sự chú tâm
đều hướng về Thiền Minh Sát. Thực vậy, ở cuối chương
này bạn tìm thấy câu:
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (sự sinh khởi) của toàn
thể hơi thở, hay tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (sự
diệt tận) của toàn thể hơi thở, hoặc tỳ khưu quán sát
yếu tố sinh khởi và diệt tận (sự sinh khởi và sự diệt
tận) của toàn thể hơi thở.
[01-B]
Quán
sát Thân trong Thân
(Niệm
Thân)
(tiếp
theo)
B.-
Các Tư Thế Của Thân
Phần
hai của chương nói về Niệm Thân có tên là "Các Tư Thế
Của Thân". "Tư thế" ở đây là bốn tư thế: Ði, Ðứng,
Ngồi, Nằm. Thiền sinh phải chánh niệm trên cả bốn tư thế.
Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, khi đang đi tỳ khưu biết "tôi
đang đi", khi đang đứng tỳ khưu biết "tôi đang đứng", khi
đang ngồi tỳ khưu biết "tôi đang ngồi", khi đang nằm tỳ
khưu biết "tôi đang nằm", hoặc khi cơ thể làm gì thầy tỳ
khưu biết cơ thể như vậy.
Ở
đây, chữ "thầy tỳ khưu biết" có nghĩa là thiền sinh không
hiểu biết hời hợt mà hiểu biết trọn vẹn, sâu xa những
gì đang diễn tiến. Thiền sinh hiểu rõ ràng sự đi, đứng,
ngồi, nằm. Khi đi, bạn phải hiểu rõ ràng rằng: "tôi đang
đi"; khi đứng, bạn phải hiểu rõ ràng rằng: "tôi đang đứng";
khi ngồi, bạn phải hiểu rõ ràng rằng: "tôi đang ngồi";
khi nằm, bạn phải hiểu rõ ràng rằng: "tôi đang nằm". Phải
áp dụng chánh niệm trong mọi tư thế của cơ thể.
Câu
sau cùng - "khi cơ thể làm gì thầy tỳ khưu biết cơ thể
như vậy" - có nhiều lối giải thích:
Chú
giải giải thích rằng câu này là một câu tổng quát nói
đến bốn tư thế chính đã nói, không có gì khác. Có nghĩa
là khi thiền sinh đi phải biết "tôi đang đi", khi thiền sinh
đứng phải biết "tôi đang đứng", khi thiền sinh ngồi phải
biết "tôi đang ngồi", khi thiền sinh nằm phải biết "tôi
đang nằm".
Tác
giả "Phụ chú giải" giải thích thêm: "thầy tỳ khưu biết,
tôi đang đi khi đang đi v.v..." thì đó là nhấn mạnh đến
từng tư thế một. Nhưng câu sau cùng của đoạn này: "khi
cơ thể làm gì, thầy tỳ khưu biết cơ thể như vậy" nhấn
mạnh đến toàn thể cơ thể. Do đó, khi biết toàn thể cơ
thể đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm thì theo lời
chỉ dẫn của câu cuối. Nhưng khi biết "tôi đang đi" khi đang
đi... thì đã theo lời chỉ dẫn ở các câu trên.
Hòa
thượng Mahaasi cho rằng câu: "khi cơ thể làm gì, thầy tỳ
khưu biết cơ thể như vậy" bao gồm cả các tư thế hay động
tác nhỏ như co tay, duỗi tay, cúi mình, nghiêng mình v.v... chứ
không phải chỉ đề cập đến bốn tư thế hay oai nghi chính:
đi, đứng, nằm, ngồi. Thiền sinh hành Thiền Minh Sát không
thể bỏ qua các tư thế hay oai nghi nhỏ mà không chánh niệm.
Khi không chánh niệm ghi nhận được những oai nghi nhỏ thì
tham ái và tà kiến sẽ khiến bạn dính mắc vào chúng. Khi
hành Thiền Minh Sát bạn phải chú tâm chánh niệm vào bất
cứ những gì đang xảy ra trong hiện tại.
Bởi
vậy câu "Khi cơ thể làm gì thầy tỳ khưu biết cơ thể như
vậy" bao gồm tất cả mọi tác động của cơ thể. Khi hành
Thiền Minh Sát không phải ta chỉ chú tâm chánh niệm vào bốn
oai nghi chính mà phải chánh niệm vào mọi oai nghi nhỏ nữa.
Thiền Minh Sát phải được thực hành mọi lúc, không phải
chỉ thực hành trong các khóa thiền mà thôi.
Không
phải gần đây mới có sự hiểu lầm câu này. Sự hiểu lầm
này đã có trước khi Chú giải được viết ra văn tự. Bản
chú giải về bộ Kinh, bao gồm kinh Ðại Niệm Xứ, được
viết ra cách nay hơn hai ngàn một trăm năm. Ngay thời kỳ đó
đã có sự hiểu lầm về nghĩa lý của câu: "Tỳ khưu đang
đi biết rằng tôi đang đi, tỳ khưu đang đứng biết rằng
tôi đang đứng,... khi cơ thể làm gì thầy tỳ khưu biết
cơ thể như vậy". Một số người không hiểu rõ nghĩa thật
sự của đoạn kinh này nên chế diễu: --"Ngay cả người không
biết hành thiền hay ngay cả thú vật khi đang đi cũng biết:
'tôi đang đi' . Chỉ khi nào đang đứng hay đang nằm họ mới
không biết 'tôi đang đi' mà thôi!" Vậy thì, khi thiền sinh
đang đi mà ý thức rằng "tôi đang đi" v.v... có ích lợi và
ý nghĩa gì? Nếu đang đi mà biết rằng "tôi đang đi" là hành
thiền, là thiền Tứ Niệm Xứ, vậy thì ta có thể nói là
tất cả mọi người đều đang hành thiền. Thế thì sự hiểu
biết của người hành thiền và người không hành thiền khác
nhau chỗ nào?
Câu
trả lời là: hai người hoàn toàn khác nhau. Bây giờ ta hãy
xét xem người không hành thiền biết: "'Tôi đang đi" khi tôi
đang đi như thế nào? Trước khi sự đi xảy ra thì phải có
ý muốn hay ý định đi trước. Khi người không hành thiền
biết: "Tôi đang đi" khi họ đang đi thì họ chẳng biết từng
thời điểm một khi sự đi diễn ra. Có thể đôi lúc họ
biết sự đi, nhưng chỉ biết một cách hời hợt, còn những
lúc khác thì họ hoàn toàn không biết. Ý muốn đi và sự
đi không xảy ra cùng lúc. Thế nên, sự hiểu biết của họ
hời hợt và không chánh niệm. Lúc họ biết "Tôi đang đi"
khi họ đang đi thì họ không ý thức được ý muốn là Tâm
và cơ thể di chuyển là Thân tách biệt nhau. Họ chỉ có một
ý niệm mơ hồ về một cái gì đang đi. Họ nghĩ rằng thân
và tâm cùng hoạt động với nhau. Họ không thấy rõ ràng
khía cạnh tinh thần (tâm) và vật chất (thân) của sự đi.
Và họ cũng không thấy rõ sự biệt lập giữa thân và tâm.
Bởi vì không hành thiền, nên họ không chú tâm sâu xa vào
những gì đang xảy ra trong hiện tại. Sự hiểu biết của
họ có tính cách hời hợt bề mặt nên họ không có sự hiểu
biết trực tiếp rằng những khoảnh khắc kế tục của ý
muốn được theo sau bởi những khoảnh khắc kế tục của
sự di chuyển cơ thể.
Trong
một cái chớp mắt, hằng triệu sát na tư tưởng đến và
đi. Những sát na này có thể làm phát sinh những nguyên tố
vật chất. Có bốn nguyên tố chính còn gọi là Tứ Ðại:
Ðất, Nước, Gió, Lửa. Trong khi di chuyển thì yếu tố Gió
trội hơn cả. Ý muốn làm cho yếu tố Gió phát sinh trong các
cơ phận của cơ thể sắp di chuyển. Tiếp theo đó, yếu tố
Gió khiến cho cơ thể hay một vài phần của cơ thể di chuyển.
Nếu
bạn không quán sát kỹ càng sự đi, như bạn đã làm trong
khi hành thiền, thì bạn sẽ không hiểu rõ rằng sự đi bao
gồm những chuyển động kế tiếp nhau gây ra bởi ý muốn
đi. Bạn có thể nghĩ rằng một người nào đó, một quyền
năng cao lớn hay một thực thể trường tồn nào đó đã gây
ra sự đi này. Bạn không hiểu rằng tác động di chuyển chỉ
bao gồm ý muốn và sự di chuyển của cơ thể để đi, không
có một cá nhân hay một chúng sinh nào nằm ngoài ý muốn và
sự di chuyển này. Không có tôi, anh, đàn ông, đàn bà mà
chỉ có ý muốn và sự di chuyển của cơ thể diễn ra mà
thôi. Người không hành thiền không hiểu được điều này
vì họ chỉ có một ý niệm mơ hồ về sự đi.
Không
có một sự quán sát kỹ càng bằng Thiền Minh Sát thì bạn
không thể nào hiểu được rằng ý muốn và sự đi hay sự
di chuyển cơ thể xảy ra trong sát na hiện tại không thể
nào tồn tại trong sát na kế tiếp. Bạn nghĩ rằng ý định
và sự di chuyển cơ thể từ sát na đi này sẽ dẫn đến
sát na kế tiếp và từ sát na mới này đến sát na kế tiếp
nữa. Bạn thấy tiến trình đi là một tiến trình liên tục
và vĩnh viễn. Bạn không thể thấy rằng tại mỗi sát na
ý muốn đến và đi ngay tức khắc. Chuyển động của thân
thể cũng như yếu tố gió đến và đi ngay. Thế nên bạn
không thể nói rằng một sát na của ý muốn này sẽ chuyển
sang một sát na khác.
Trong
mỗi sát na, ý định và sự di chuyển đến rồi đi. Ðó là
những gì mà thiền sinh kinh nghiệm được trong lúc hành thiền,
nhưng những người không hành thiền thì không thể nào thấy
được. Sự hiểu biết của họ về sự đi hoàn toàn không
có chánh niệm. Nếu chận một người đang đi lại và hỏi
họ đang nghĩ gì thì phần lớn đều trả lời là họ đang
nghĩ đến một điều gì đó chứ không phải là đang nghĩ
đến sự đi. Có thể họ đang nghĩ đến nhà họ hay công
việc của họ. Mặc dù đôi lúc họ có nghĩ rằng họ đang
đi nhưng sự hiểu biết của họ cũng chỉ là sự hiểu biết
hời hợt bề mặt.
Người
ta nghĩ rằng có một chúng sinh và chính chúng sanh đó, trước
sau không thay đổi, hiện hữu trong quá khứ, hiện hữu trong
hiện tại và hiện hữu trong tương lai. Có thể họ có chút
hiểu biết mơ hồ về vô thường nhưng họ vẫn nghĩ rằng
chỉ có một chúng sinh và chúng sinh ấy đã có mặt trong quá
khứ, có mặt trong hiện tại và sẽ có mặt trong tương lai.
Bởi vậy, họ khư khư giữ mãi một định kiến vô căn cứ
là có một chúng sinh. Nhưng phân tích ra thì chẳng có một
chúng sinh nào cả. Ngoài ý muốn và chuyển động của cơ
thể ra, chẳng có một con người, một cá nhân nào cả. Sở
dĩ họ khư khư nắm giữ ý nghĩ có một con người vì họ
không thấy rõ được sự sinh diệt qua từng sát na của ý
muốn và tác động.
Sự
hiểu biết của họ không loại trừ được quan niệm về
một cái ta hay một linh hồn vĩnh cửu. Họ nghĩ rằng có một
cái gì đó nằm ngoài ý muốn đi và sự di chuyển của cơ
thể khi đi. Cái gì đó đã điều hành và sắp xếp cho sự
đi. Bởi vậy, hiểu biết của họ không phải là kết quả
của việc hành thiền. Tham thiền, tiếng Paa.li là Kammathaana,
được định nghĩa là điều kiện cho sự phát triễn về
sau. Một sự biết được gọi là kammathaana khi sự biết này
đưa đến một sự phát triển về sau. Phát triển về sau
ở đây là phát triễn trí tuệ để thấy rõ thực tướng
của sự vật.
Sự
biết của người không hành thiền là sự biết không chánh
niệm nên không thể gọi đây là sự biết của Tứ Niệm
Xứ.
Sự
biết của người hành thiền khác hẳn sự biết của người
không hành thiền. Khi bạn hành thiền trong khi đi thì bạn
ý thức được chuyển động. Bạn ghi nhận ba giai đoạn của
bước đi: dở, bước, đạp; dở, bước, đạp; dở, bước,
đạp. Bạn theo dõi kỹ càng tiến trình của sự đi. Khi đang
hành thiền, mỗi lần sự đi diễn ra bạn đều biết. Mỗi
lần ý muốn khởi lên và sự di chuyển của cơ thể diễn
ra bạn đều biết. Bao lâu bạn còn duy trì được mức định
tâm đầy đủ, bấy lâu bạn ghi nhận và sau đó quan sát tác
ý nằm bên trong mọi tác động hữu ý.
Nhiều
thiền sinh trong khi đang kinh hành cảm thấy dường như có
ai hay vật gì đang đẩy cơ thể mình từ sau ra trước. Ðó
là thiền sinh đã thấy được ý muốn đang di chuyển cơ thể
mình. Thiền sinh thấy rõ ràng ý muốn và sự di chuyển của
cơ thể. Mỗi khi có ý muốn và chuyển động thiền sinh đều
ý thức bởi vì họ theo sát hay theo dõi chặt chẽ các tác
động của sự đi. Khi theo dõi, thiền sinh thấy được ý
muốn hay tác ý và sự di chuyển của cơ thể là riêng biệt
với nhau. Sự di chuyển là hậu quả của tác ý bởi vì có
tác ý nên mới có sự đi. Ðó là những gì mà thiền sinh
quán sát trong lúc hành thiền.
Thiền
sinh cũng thấy rõ ràng rằng bởi vì có những sát na kế tục
của ý muốn nên mới có những sát na kế tục của sự di
chuyển cơ thể. Có hằng triệu sát na tư tưởng trong một
cái nháy mắt, bởi vậy có hằng triệu sát na di chuyển. Ðối
với người thường, chính những sự chuyển động hết sức
nhỏ nhặt này xuất hiện như là một chuyển động to lớn.
Tuy nhiên, thiền sinh sẽ thấy rõ những chuyển động nhỏ
nhặt đó khi thiền sinh tinh tấn chánh niệm trong lúc kinh hành.
Thiền
sinh thấy rõ rằng trong sự đi chỉ có ý muốn và chuyển
động của cơ thể, ngoài ra chẳng có gì khác. Chẳng có tôi,
anh, đàn ông, đàn bà, chúng sinh chi cả. Cũng chẳng có một
cái tôi đang đi. Chỉ có tâm là ý muốn và thân đang chuyển
động mà thôi.
Khi
quán sát kỹ càng ý muốn và sự chuyển động, bạn sẽ biết
rằng ý muốn và sự chuyển động đến và đi thật mau lẹ.
Chúng đến và đi trong mỗi sát na. Bạn sẽ thấy rõ điều
này khi bạn thực sự có định tâm. Bởi thế, sự biết của
thiền sinh là một sự hay biết trọn vẹn, rõ ràng và chính
xác.
Khi
bạn không thấy có người nào hay chúng sinh nào ngoài hai tiến
trình của ý muốn và tác động thì bạn không thấy sự đi
là một con người đang đi mà chỉ là diễn biến của ý muốn
và chuyển động; bạn không thấy bất kỳ một người hay
một cá nhân nào trong tác động đi. Khi bạn thấy ý muốn
và sự đi sinh diệt trong từng phút giây thì bạn sẽ thấy
rằng thân và tâm đang ở trong giây phút giây hiện tại khác
với thân và tâm trong giây phút trước đây. Bạn thấy rằng
thân và tâm hay ý muốn và chuyển động của cơ thể trong
sát na này không thể tồn tại đến sát na kế tiếp. Tại
mỗi sát na một thân tâm cũ chết đi và một thân tâm mới
hiện ra.
Thiền
sinh sẽ ý thức được rằng những gì đang có bây giờ không
giống với những gì đã có trong quá khứ và cũng không giống
với những gì sẽ có trong tương lai. Tại mỗi sát na - quá
khứ, hiện tại, vị lai - mọi vật đều không ngừng di chuyển,
đến và đi. Khi thiền sinh nhận biết được điều này thì
trí tuệ của họ sẽ giúp họ loại bỏ sự tin tưởng rằng
có một con người hay một chúng sinh. Khi thiền sinh thấy được
chỉ có ý muốn và chuyển động của cơ thể thì họ không
thể nào thấy được có một con người hay chúng sinh trong
các tác động của sự đi. Một thiền sinh quán sát kỹ càng
các tác động của mình, quán sát kỹ càng tâm mình và có
thể loại bỏ được sự tin tưởng rằng có một con người
hay một chúng sinh thì trí tuệ này có thể giúp họ loại
bỏ ý niệm về một thực thể vĩnh cửu, một linh hồn hay
tự ngã.
Sự
hiểu biết thâm sâu về sự đi là căn bản hay điều kiện
cần thiết cho những phát triển về sau. Thiền sinh sẽ tiếp
tục quán sát hiện tượng phát sinh tại mỗi sát na và sẽ
phát triển định tâm cùng trí tuệ về sau, và về sau sau
nữa cho đến khi đạt đến tầng mức Giác Ngộ cuối cùng.
Sự biết ở giai đoạn này là căn bản hay điều kiện cần
thiết cho sự phát triển về sau; thế nên sự biết ở đây
chắc chắn được gọi là tham thiền (kammatthaana).
Khi
trí nhớ ghi nhận được thiết lập vững chắc trong tâm của
người chăm chú hành thiền, chăm chú theo dõi các tác động
đi, đứng, nằm, ngồi thì mới có thể gọi đó là chánh
niệm. Bởi vậy, sự biết của người hành thiền mang cả
hai đặc tính: đặc tính tham thiền và đặc tính chánh niệm.
Những gì người không hành thiền làm không thể gọi là tham
thiền hay chánh niệm được.
Khi
thiền sinh hiểu một cách sâu xa, rõ ràng và chính xác những
yếu tố tạo nên sự đi, khi họ hiểu rằng chỉ có ý muốn
đi và chuyển động đi, ngoài ra chẳng có gì nữa thì trí
tuệ của họ trọn vẹn và đáp ứng được ba câu hỏi sau:
Ai đi? Sự đi này của ai? Tại sao sự đi xảy ra?
Khi
bạn hỏi một thiền sinh: Ai đi? Câu trả lời sẽ là: "Không
có ai hay chúng sinh nào đi cả". Bởi vì lúc bấy giờ họ
thấy trong tác động đi chỉ có ý muốn đi và một chuỗi
phong đại (yếu tố gió) gây nên sự đi. Họ chẳng hề thấy
một con người hay một chúng sinh nào đi cả. Vậy câu "Ai
đi?" được trả lời là: "Không có người hay chúng sinh nào
đi cả". Không có người hay chúng sinh nào đi, ngoài ý định
đi, chuyển động của gió và những chuyển động tiếp theo
của cơ thể.
Sự
đi này là của ai? Có một người hay một quyền năng nào
làm chủ hay có quyền lực trên sự đi này? Chẳng có ai hay
vật gì làm chủ sự đi. Bởi vậy câu: "Sự đi này là của
ai?" được trả lời là: "Chẳng có ai hay vật gì làm chủ
sự đi". Bởi vì không có một người hay một chúng sinh nào
nên sự đi chẳng có ai làm chủ, chỉ có ý muốn và sự chuyển
động mà thôi. Nói cách khác, vì không có một người nên
không có ai làm chủ sự đi, không có người hay quyền năng
nào có quyền lực trên sự đi này.
Tại
sao sự đi xảy ra? Hoạt động của tâm gây ra yếu tố gió
(phong đại) và yếu tố gió này tạo nên sự đi. Khi bạn
muốn đi, trước tiên ý muốn hay ý định khởi sinh. Ý muốn,
ý định hay tâm này làm yếu tố gió phát sinh trong phần thân
thể liên quan đến sự đi, như chân chẳng hạn, rồi yếu
tố gió làm cho phần thân thể này chuyển động (xem thêm
Mục "E.- Quán Sát Tứ Ðại" trong cùng Chương này).
Tại
sao có sự đi? Bởi vì có ba yếu tố: Tâm muốn đi, yếu tố
gió gây nên bởi tâm và sự chuyển động của phần cơ thể
bị tác động bởi gió. Giả sử có một chiếc xe do bốn
con ngựa kéo dưới sự điều khiển của người đánh xe.
Người đánh xe điều khiển ngựa chạy, ngựa chạy kéo theo
xe. Sự chuyển động của cơ thể cũng tương tự như vậy.
Tâm tạo ra năng lực làm cho gió khởi sinh, gió khởi sinh khiến
toàn cơ thể chuyển động. Tâm chẳng khác nào người đánh
xe, gió là ngựa, và xe là chuyển động của cơ thể. Bởi
thế, sự đi hay sự di chuyển bao gồm ba yếu tố: tâm, gió
và sự chuyển động. Chúng ta gọi đó là sự đi.
Khi
thiền sinh biết trả lời ba câu hỏi này một cách trọn vẹn
thì không thể nào thấy được có một chúng sanh, một thực
thể vĩnh cửu trong tác động đi, và thiền sinh sẽ ý thức
được rằng câu nói: "một người đi" chỉ là một sự chế
định mà không phản ánh sự thật. Chúng ta tạm gọi "một
người đi" để tiện dụng trong việc giao tiếp, nhưng thực
ra chẳng có một ai, đàn ông hay đàn bà nào ngoài ý muốn
đi và sự chuyển động của cơ thể.
Do
đó, người hành thiền sẽ thấy rõ thực tướng của sự
đi chứ không thấy qua sự biểu hiện bề ngoài của sự đi.
Ðiều này có nghĩa là thiền sinh có sự hiểu biết thực
sự hay hiểu biết đúng đắn về sự đi. Cũng vậy, thiền
sinh hiểu rõ ràng sự đi, đứng, nằm, ngồi và những oai
nghi hay tác động nhỏ khác của cơ thể.
Tóm
lại, cơ thể này di chuyển được nhờ có tâm, tâm làm cho
gió khởi sinh, và gió làm cho cơ thể di chuyển. Nếu không
có tâm thì sẽ không có sự chuyển động vì không có gió,
và nếu không có gió thì hoàn toàn không có sự chuyển động.
Khi thực hành thiền sinh sẽ thấy rõ điều này.
Trong
Chú giải có nhiều bài thơ nói đến những yếu tố tạo
nên sự chuyển động của cơ thể. Sau đây là một trong số
những bài thơ trên:
Thuyền
chạy được nhờ nơi gió đẩy,
Tên
bay do sức mạnh dây cung,
Cơ
thể này di chuyển vô cùng,
Không
có gió chuyện này khó được!
Như
con rối do dây điều khiển,
Cơ
thể này hướng dẫn bởi tâm,
Mới
chuyển di, đi, đứng, ngồi, nằm.
Tìm
đâu ra được một chúng sinh,
Nằm
ngồi hay đi đứng một mình,
Không
nương cậy nhân duyên nào cả?
Không
có những điều kiện này, không có những nguyên nhân hỗ
trợ này thì sẽ không thể có sự đi, đứng, ngồi, nằm
và chẳng bao giờ có sự chuyển động.
Như
vậy, bạn học "thấy" bằng cách hành thiền. Bạn đạt được
trí tuệ trực tiếp chỉ do ở sự quán sát thấu đáo những
gì đang xảy ra trong giây phút hiện tại. Bạn quán sát những
gì khởi lên qua sáu cửa giác quan trong giây phút hiện tại.
Bởi thế, cái biết của người hành thiền và cái biết của
người không hành thiền rất khác nhau. Thật vậy, sự biết
của hai loại người này hoàn toàn khác biệt. Khi thiền sinh
hiểu biết rõ ràng rằng trong sự đi chỉ có ý muốn đi và
chuyển động đi, biết rõ rằng ý muốn và chuyển động
là hai yếu tố khác biệt, và yếu tố này là nhân của yếu
tố kia, thì thiền sinh sẽ thấy ý muốn và chuyển động
đi sinh diệt trong từng giây phút một. Chỉ khi đó thiền
sinh mới có trí tuệ đúng đắn và sự hiểu biết đúng đắn
về cái gì đang đi.
Như
thế, tỳ khưu quán sát thân trên nội thân, hay tỳ khưu quán
sát thân trên ngoại thân, hay tỳ khưu quán sát thân trên nội
thân và ngoại thân.
Khi
thiền sinh quán sát các oai nghi đi, đứng, nằm, ngồi và các
tác động nhỏ nhặt của mình là thiền sinh đã "quán sát
thân trên nội thân". Ðôi khi, trong lúc đang hành thiền, thiền
sinh có thể nghĩ đến một người nào đó đang đi, đứng,
nằm, ngồi: "Sự đi, đứng, nằm, ngồi của ta là vô thường
và gây ra bởi ý muốn thì sự đi, đứng, nằm, ngồi của
người khác cũng vậy". Quán sát như thế là bạn đã "quán
sát thân trên ngoại thân". Ðiều này không có nghĩa là bạn
phải cố ý nhìn người khác trong khi bạn đang hành thiền.
Ðây chỉ là trường hợp bạn nghĩ đến người khác trong
khi bạn đang hành thiền mà thôi: "Sự đi hay sự di chuyển
của ta là vô thường, đến rồi đi, thì sự đi và sự di
chuyển của người khác cũng như vậy".
Ðôi
khi, thiền sinh quán sát trên sự đi của mình rồi nghĩ đến
hay liên tưởng đến sự đi của người khác, tới lui như
vậy nhiều lần. Quán sát tới lui như vậy là thiền sinh đã
"quán sát thân trên nội thân và ngoại thân". Ðiều này không
có nghĩa là thiền sinh phải cố ý nhìn người khác trong khi
đang hành thiền. Ðây chỉ là trường hợp thiền sinh nghĩ
đến người khác trong khi thiền sinh đang hành thiền mà thôi.
Nghĩ đến người khác trong khi đang hành thiền là "Suy Diễn
Minh Sát".
Chúng
ta có hai loại Thiền Minh Sát, "Trực Tiếp Minh Sát" và "Suy
Diễn Minh Sát". Khi quán sát sự đi, đứng, nằm, ngồi của
chính mình là bạn hành "Trực Tiếp Minh Sát". Khi suy nghĩ đến
sự đi, đứng, nằm, ngồi của người khác là bạn hành "Suy
Diễn Minh Sát" (xem "Hướng dẫn Hành thiền" ở Phần Ba).
Tỳ
khưu quán sát yếu tố sinh khởi (đặc tính sinh khởi) trong
thân, hay Tỳ khưu quán sát yếu tố diệt tận (đặc tính
diệt tận) trong thân, hay Tỳ khưu quán sát cả hai yếu tố
sinh khởi (đặc tính sinh khởi) và yếu tố diệt tận (đặc
tính diệt tận) trong thân.
Ðoạn
văn trên được lập đi lập lại nhiều lần. "Yếu tố sinh
khởi" ở đây có nghĩa là nguyên nhân sự sinh khởi của thân
hay vật chất và "chính sự sinh khởi đó". Có nhiều nguyên
nhân làm cho vật chất hay sắc sinh khởi. Người không hiểu
Vi Diệu Pháp khó có thể thấy được những nguyên nhân này.
Bạn
có mặt ở đây vì bạn đã làm một việc gì đó trong quá
khứ. Bạn ở đây do nghiệp của bạn. Nghiệp là nguyên nhân
sự sinh khởi của thân. Nghiệp sinh khởi do bạn tham ái đời
sống (hữu). Bạn có sự tham ái này vì bạn si mê. Mặc dầu
bạn nói là bạn biết mọi chuyện về tham ái, nhưng thực
ra bạn có si mê và sự si mê này là nguyên nhân khiến bạn
mong muốn có một đời sống tốt đẹp hơn. Bạn đã tích
lũy thiện nghiệp nên mới có một đời sống tốt đẹp trên
thế gian này.
Vật
chất hay sắc trong thế gian này khởi sinh từ nhiều nguyên
nhân khác nhau:
- Si
mê trong quá khứ
-
Tham ái trong hiện tại
-
Nghiệp trong quá khứ và
-
Thực phẩm giữ cho thân thể này sống còn trong hiện tại.
Ðôi
khi, trong lúc hành thiền, thiền sinh suy nghĩ hay quán sát nguyên
nhân sinh khởi của thân hay nguyên nhân sinh khởi của sắc:
"Cơ thể khởi sinh ở đây do ta có nghiệp hay do ta có tham
ái hay do ta có sự si mê".
Hơn
nữa, thiền sinh thấy chính sự sinh khởi. Thông thường các
thiền sinh ít hiểu biết về Vi Diệu Pháp sẽ thấy sự sinh
khởi thay vì thấy nguyên nhân của sự sinh khởi. Khi chánh
niệm vào sự đi, thiền sinh sẽ thấy "sự sinh khởi của
ý muốn" và "sự sinh khởi của chuyển động". Khi thiền sinh
thấy được bốn nguyên nhân (si mê, tham ái, nghiệp và thực
phẩm) hay thấy được chính sự sinh khởi là thiền sinh đã
quán sát tính chất sinh khởi. Như vậy, đặc tính sinh khởi
gồm có bốn nguyên nhân và một sự sinh khởi.
"Tính
chất diệt tận" là sự vắng bóng của si mê, vắng bóng của
tham ái, vắng bóng của nghiệp và vắng bóng của thực phẩm.
Chúng là nguyên nhân của sự biến mất hay nguyên nhân của
sự diệt tận của sắc hay của chính sự diệt tận. Chỉ
có hành thiền mới thấy được sự diệt tận. Khi thiền
sinh quán sát tính chất diệt tận thì thiền sinh sẽ thấy
ý muốn của mình và thiền sinh ghi nhận hay niệm thầm "muốn,
muốn, muốn". Khi niệm như vậy, ý muốn sẽ biến mất. Có
sự chuyển động ở giây phút này và sự biến mất ở giây
phút kế tiếp. Ðối với các hiện tượng khác, khi thiền
sinh chú tâm theo dõi cũng sẽ thấy sự biến mất hay sự diệt
tận . Khi thiền sinh thấy sự vắng bóng của si mê, vắng
bóng của tham ái, vắng bóng của nghiệp và vắng bóng của
thực phẩm thì cũng thấy sự biến mất của các hiện tượng
ghi nhận. Thấy một trong những yếu tố diệt tận này, thiền
sinh được xem như là thấy đặc tính diệt tận của thân,
sự diệt tận của bốn nguyên nhân và một sự diệt tận.
Khi
thiền sinh đạt đến tuệ giác thấy được đặc tính của
các hiện tượng tức tuệ giác thấy rõ Tam Tướng: vô thường,
khổ não, vô ngã thì thiền sinh sẽ thấy được tướng hay
hình ảnh của sự diệt tận một cách rõ ràng. Khi đạt đến
Tuệ Sinh Diệt thiền sinh sẽ thấy sự sinh khởi và sự diệt
tận hay sự sinh diệt của các hiện tượng một cách rõ ràng
hơn. Khi đạt đến Tuệ Diệt thiền sinh sẽ thấy sự diệt
tận hay sự diệt mất của các hiện tượng càng rõ ràng
hơn
nữa.
Hoặc
tỳ khưu chánh niệm rằng 'chỉ có thân mà thôi'. Và sự chánh
niệm này được thiết lập để giúp cho sự phát triển chánh
niệm về sau.
Khi
thiền sinh hoàn toàn ý thức vào những gì đang diễn ra trong
chính thân thể mình thì thiền sinh sẽ thấy rằng chỉ có
thân mà thôi, chẳng có người hay một thực thể vĩnh cửu
nào cả. Lúc mới hành thiền, thiền sinh sẽ không thấy rõ
rằng chỉ có thân mà thôi. Nhưng khi tiến bộ, chánh niệm
được thiết lập vững chắc, thì thiền sinh sẽ thấy rõ
chỉ có thân mà thôi, chẳng có gì nữa cả.
Vị
ấy sống không dính mắc vào bất cứ một vật gì do tham
ái và tà kiến gây ra; không chấp trước vào bất cứ một
vật gì trên thế gian do ngũ uẩn thủ hợp thành này.
Thấy
sự sinh khởi và sự diệt tận của mọi hiện tượng nên
thiền sinh không còn tham ái hay dính mắc vào bất cứ một
vật gì. Thế rồi, thiền sinh không còn tham ái vào những
gì đang diễn ra. Thiền sinh không còn tham luyến vào chính
mình hay các tác động đang diễn ra. Thiền sinh không còn chấp
trước vào bất cứ vật gì. Bây giờ thiền sinh thấy bằng
trí tuệ trực tiếp một cách rõ ràng rằng mọi vật đều
vô thường, đến rồi đi, sinh rồi diệt.
Khi
thiền sinh không dính mắc vào bất cứ một việc gì, không
chấp trước vào bất cứ một việc gì thì tham ái và chấp
trước của thiền sinh sẽ tạm thời vắng bóng hay bị loại
trừ trong khoảnh khắc. Khi không tham ái, không chấp trước
vào vật gì thì thiền sinh đã từng sát na một loại trừ
tham ái và chấp trước vào những gì mà thiền sinh đang theo
dõi. Ðó là "sát na loại trừ tham ái và chấp trước".
Khi
đã có thể loại trừ tham ái và chấp trước vào "những
gì đang quán sát" thì cũng sẽ có thể loại trừ tham ái và
chấp trước vào "những gì không quán sát." Khả năng loại
trừ tham ái và chấp trước vào những gì không quán sát là
"tạm thời loại trừ". Như vậy, thiền sinh thực hành sát
na loại trừ đối với những gì đang quán sát và thực hành
tạm thời loại trừ đối với những gì không quán sát. Nhờ
có được hai loại loại trừ này, thiền sinh sẽ không còn
chấp trước vào bất cứ điều gì. Ðây là kết quả của
sự quán sát theo dõi các hiện tượng ngay khi chúng sanh khởi.
Này
các thầy tỳ khưu, như vậy là tỳ khưu quán sát thân trên
thân.
Tóm
lại, thiền sinh phải chánh niệm vào bất kỳ những gì mình
đang làm: đi, đứng, nằm, ngồi và tất cả các oai nghi khác.
Chánh niệm vào các tác động của cơ thể như thế gọi là
"quán sát thân trên thân".
(Xin
xem tiếp: Phần C, Chương 01)
[01-C]
Quán
sát Thân trong Thân
(Niệm
Thân)
(tiếp
theo)
C.-
Chánh Niệm và Tỉnh Giác
Khi
hướng dẫn hay chỉ bảo thiền sinh cách hành thiền, thiền
sư thường dùng những từ như sau: "Hãy thuần ý thức sự
có mặt của đối tượng", "Chánh niệm về đề mục", "Theo
dõi đề mục", "Ghi nhận đề mục", "quan sát đề mục", "Cố
gắng thấy rõ đề mục", "Cố gắng hiểu biết đối tượng
một cách rõ ràng" v.v... Tất cả những câu trên đều có
cùng nghĩa là: "Chú tâm vào đề mục, quán sát một cách tỉ
mỉ và chính xác".
Trong
đoạn kinh nói về sự tỉnh giác hay sự hiểu biết rõ ràng
Ðức Phật dạy:
Tỳ
khưu tỉnh giác trong khi đi tới, đi lui.
Phải
áp dụng tỉnh giác như thế nào trong khi đi? Trước khi tìm
hiểu cách áp dụng tỉnh giác, chúng ta cần biết "tỉnh giác"
là gì? Muốn hiểu nghĩa chữ tỉnh giác bạn cần phải trở
về với chú giải và tìm hiểu nguyên ngữ Paa.li của chữ
tỉnh giác, Sa"mpaja~n~na.
Sa"mpaja~n~na
hay tỉnh giác xuất xứ từ chữ sa"mpajaana, có nghĩa là "Người
thấy đúng", "Người thấy đúng, chính xác, trọn vẹn và
quân bình". Một người được gọi là sa"mpajaana khi họ đạt
được trạng thái hay có tư cách sa"mpaja~n~na. Như vậy, sa"mpaja~n~na
là "thấy hay hiểu hoặc biện biệt một cách đúng đắn,
chính xác, trọn vẹn và quân bình". Tiếp đầu ngữ "sam" trong
chữ sa"mpaja~n~na có nhiều nghĩa. Phụ chú giải đưa ra ba nghĩa
chính của "sam":
- Ðúng
hay chính xác.
-
Trọn vẹn.
-
Quân bình hay cân bằng.
* Ðúng
hay chính xác: Thiền sinh phải quán sát đối tượng hay đề
mục một cách rõ ràng chính xác. Không được lầm lẫn đối
tượng đang quán sát với một đối tượng khác. Phải phân
biệt Thân với Tâm hay phân biệt Tâm với Thân, nghĩa là phải
thấy Thân riêng biệt với và Tâm riêng biệt với Thân. Không
được lẫn lộn cái này là cái kia và cái kia là cái này.
Phải thấy một cách rõ ràng chính xác.
* Trọn
vẹn: Thiền sinh phải hiểu đối tượng hay đề mục một
cách trọn vẹn. Hiểu trọn vẹn có nghĩa là hiểu mọi khía
cạnh của các hiện tượng Thân và Tâm. Phải hiểu đặc
tính, công năng và sự biểu hiện của đối tượng quán sát.
* Quân
bình hay cân bằng: Thiền sinh phải hiểu cách quân bình Ngũ
căn - Tín, Tấn, Niệm, Ðịnh, Huệ. Năm yếu tố này phải
được quân bình hài hòa: Tín quân bình với Huệ, Tấn quân
bình với Ðịnh, Niệm càng nhiều càng tốt. Sự quân bình
giữa Tấn và Ðịnh đóng vai trò quan trọng đặc biệt. Khi
Ngũ căn không quân bình thì Ðịnh tâm bị rối loạn, phân
tán, và kết quả là thiền sinh không thấy rõ được bản
chất của sự vật.
"Tỉnh
giác" có nghĩa là thấy chính xác, thấy trọn vẹn, thấy trong
sự quân bình ngũ căn. Yếu tố quân bình ngũ căn rất quan
trọng, vì ngũ căn có quân bình thì trí tuệ mới phát triển.
Áp dụng tỉnh giác có nghĩa là quán sát, ghi nhận đối tượng
với sự chú tâm tinh tế, tỉ mỉ, nhìn thấy chính xác, trọn
vẹn trong sự quân bình ngũ căn.
Chú
giải đề cập đến bốn loại tỉnh giác:
- Lợi
ích tỉnh giác
-
Thích nghi tỉnh giác
-
Giới vực tỉnh giác
-
Không tà kiến tỉnh giác, hay Chánh kiến tỉnh giác
Thiền
sinh phải áp dụng bốn loại tỉnh giác này trong các oai nghi:
đi, đứng, nằm, ngồi (đại oai nghi) cũng như trong các tác
động nhỏ nhặt khác: co tay, duỗi tay, khom mình, ngẩng cổ,
quay trước, quay sau... (tiểu oai nghi)
1.
Lợi ích tỉnh giác: Trước khi làm điều gì phải cân nhắc
xem điều đó có đem lại lợi ích không? Nếu thấy không
đem lại lợi ích thì đừng làm.
Chẳng
hạn đi đến chùa tháp hay đi đến cây Bồ đề để lễ
bái là một việc làm có lợi ích cho người Phật tử. (Phật
tử ở các quốc gia Phật giáo như Miến Ðiện, Thái Lan, Tích
Lan v.v... thường hay đến cây Bồ Ðề để lễ bái. Họ tỏ
lòng cung kính với cây Bồ Ðề vì Ðức Phật đã giác ngộ
đạo quả dưới cội cây này. Phật tử lễ bái cây Bồ Ðề
để tưởng nhớ công ơn của Ðức Phật). Phật tử đến
chùa, tháp hay cây Bồ Ðề để lễ bái hầu tạo phước báu
và phát triển các tâm sở thiện. Ðó là việc làm tốt đẹp
và đem lại lợi ích. Giảng giải cho người khác nghe, đặc
biệt giảng giải Giáo Pháp, là việc làm đem lại nhiều lợi
ích. Thiền đề mục tử thi để hiểu rõ bản chất của
tử thi cũng là bản chất của chính cơ thể mình hầu loại
bỏ tham ái dính mắc cũng là một việc làm hữu ích.
Lễ
bái chùa, tháp, cây bồ đề, thuyết pháp, thiền đề mục
tử thi là những việc làm tốt đẹp đem lại lợi ích. Tuy
thế, trước khi làm một việc gì, mình cho là tốt đẹp và
hữu ích, phải đắn đo suy nghĩ xem điều đó có thích nghi
không? Xét đến sự thích nghi là chúng ta đã bước sang sự
tỉnh giác thứ hai, thích nghi tỉnh giác.
2.
Thích nghi tỉnh giác: Ðôi khi việc làm có ích lợi nhưng không
thích nghi vì không đúng lúc, đúng chỗ. Chẳng hạn, đến
nơi lễ bái, chùa tháp hay đến cây Bồ Ðề là việc làm
tốt đẹp và lợi ích. Nhưng nếu ở những nơi đó đang có
lễ lớn, Phật tử các nơi tề tựu về đông đúc, ồn ào
thì thiền sinh không nên đến. Ðến những nơi đó, gặp nhiều
người và thấy nhiều chuyện, thiền sinh sẽ bị phân tâm
và việc hành thiền của thiền sinh bị khuấy động. Bởi
vậy, mặc dầu đến chùa, tháp, đến cây Bồ Ðề là những
việc làm hữu ích nhưng nếu những nơi đó đang có người
tụ họp ồn ào thì thiền sinh không nên đến.
Thuyết
pháp đem lại lợi ích cho cả người thuyết lẫn người nghe.
Nhưng nếu nơi thuyết pháp quá đông đúc ồn ào, hoặc đang
có lễ lạc diễn ra thì cũng không đúng thời, đúng chỗ
để thuyết pháp và nghe pháp. Ðối với nhà sư thì việc
thuyết pháp cho phụ nữ nghe ở nơi vắng vẻ, không có sự
hiện diện của một người nam khác, cũng không thích nghi.
Thiền
đề mục tử thi để hiểu rõ bản chất của tử thi cũng
là bản chất của chính cơ thể mình hầu loại bỏ tham ái
dính mắc cũng là một việc làm hữu ích. Nhưng đề mục
này cũng không thích hợp khi thiền sinh quán sát tử thi với
tâm tham ái. Ðây là trường hợp quán sát tử thi của người
khác phái hay và trường hợp của người đồng tính luyến
ái quán sát tử thi của người cùng phái. Như vậy, quán sát
tử thi là việc làm hữu ích nhưng không thích nghi trong các
trường hợp này.
Hai
loại tỉnh giác đầu tiên, "lợi ích tỉnh giác" và "thích
nghi tỉnh giác" có thể áp dụng trong các sinh hoạt hàng ngày.
Áp dụng hai loại tỉnh giác này vào những việc đang làm
thì thiền sinh sẽ tránh được những hành vi sai lầm, nhờ
thế thiền sinh gặt hái được kết quả tốt. Những người
không hành thiền cũng có thể đạt được nhiều thành quả
tốt đẹp nếu biết áp dụng "lợi ích tỉnh giác" và "thích
nghi tỉnh giác"
3.
Giới vực tỉnh giác: Giới vực của thiền sinh là hành thiền
nơi thanh vắng. Cư ngụ trong lãnh vực hay trong giới vực của
mình thì thiền sinh sẽ không gặp một sự tai hại nào vì
không ai có thể quấy rối hay làm phiền thiền sinh. Nhưng
khi thiền sinh rời khỏi lãnh vực hay giới vực của mình
thì thiền sinh sẽ gặp nhiều phiền toái. Bởi vậy, đức
Phật thường nhắc nhở các Thầy Tỳ Khưu hãy sống trong
lãnh vực của mình. Lãnh vực hay giới vực của Thầy Tỳ
Khưu là Tứ Niệm Xứ. ở đây, giới vực tỉnh giác chỉ
có một nghĩa đơn giản là hành Tứ Niệm Xứ. Bất kỳ đi
tới hay đi lui, nhìn trước hay nhìn sau thiền sinh đều phải
chánh niệm tỉnh giác. Giới vực tỉnh giác chỉ có nghĩa
đơn giản là hành thiền. Trong phần giới vực tỉnh giác
và cách thực hành loại tỉnh giác này, chú giải đề cập
đến bốn loại tỳ khưu:
- Thầy
tỳ khưu mang thiền vào làng nhưng không mang thiền trở về
chùa.
- Thầy
tỳ thưu không mang thiền vào làng nhưng mang thiền trở về
chùa.
- Thầy
tỳ khưu không mang thiền vào làng cũng không mang thiền trở
về chùa. (Ðây là loại tỳ khưu tệ nhất, chẳng hành thiền
gì cả).
- Thầy
tỳ khưu mang thiền vào làng và mang thiền trở về chùa. (Ðây
là hạng tỳ khưu xuất sắc hơn cả, luôn luôn hành thiền.)
a/.
Thầy tỳ khưu mang thiền vào làng nhưng không mang thiền trở
về chùa là một vị tỳ khưu hành thiền. Thầy tỳ khưu này
có thể hành thiền suốt ngày, hết đi lại ngồi không ngưng
nghỉ. Thầy cũng hành thiền ban đêm suốt hai canh. Ðối với
nhà sư đêm bắt đầu từ sáu giờ chiều đến sáu giờ sáng
hôm sau. Ðêm chia làm ba canh, mỗi canh bốn giờ. Canh đầu
từ sáu giờ chiều đến mười giờ đêm. Canh hai từ mười
giờ đêm đến hai giờ sáng. Canh ba từ hai giờ sáng đến
sáu giờ sáng. Canh đầu canh cuối thầy tỳ khưu hành thiền,
canh giữa thầy tỳ khưu ngơi nghỉ. Như vậy thầy chỉ ngủ
bốn tiếng mỗi đêm, từ mười giờ đêm đến hai giờ sáng.
Hành thiền như vậy gọi là hành thiền suốt ngày và trọn
hai canh.
Thức
dậy thật sớm vào buổi sáng, thầy tỳ khưu làm những gì
cần phải làm cho chùa mình, đó là quét dọn chỗ cư trú,
dọn sạch sẽ cốc liêu, múc nước vv... Thầy làm việc trong
chánh niệm. Sau khi ngồi thiền một thời gian, thầy ôm bát
vào làng khất thực. Thầy đi trong chánh niệm.
Thầy
mang thiền vào làng nghĩa là thầy thực hành chánh niệm trong
khi đi: đi, đi, đi hay bước, bước, bước hay đạp, đạp,
đạp hay trái phải, trái phải, trái phải. Khi vào đến làng,
có thể thầy được mời vào nhà để thọ thực. Thầy có
thể ăn tại đó hay mang thức ăn trong bát về chùa. Trên đường
về chùa có thể thầy gặp một vài thầy tỳ khưu trẻ hay
sa di và những vị này hỏi thầy về thí chủ dâng thực phẩm:
"Thí chủ có bà con với Sư không? Ði đến đó bao xa?..." Thầy
phải nói chuyện với họ. Thầy nói rất nhiều về người
dâng thực phẩm cho thầy. Vì nói chuyện quá nhiều thầy bị
phân tâm, không chánh niệm nên thầy không thể mang thiền
trở về chùa. Thầy tỳ khưu này là: Thầy tỳ khưu mang thiền
vào làng nhưng không mang thiền trở về chùa.
b/.
Thầy tỳ khưu không mang thiền vào làng nhưng mang thiền trở
về chùa cũng hành thiền suốt ngày và trọn hai canh. Thầy
tỳ khưu này sáng thức dậy sớm, sau khi làm những việc cần
làm, thầy ngồi thiền một lát rồi vào làng khất thực.
Thầy có sự tiêu hóa dễ dàng. Trong buổi sáng, bụng thầy
trống, lửa tiêu hóa hay nước tiêu hóa tấn công dạ dày
nên thầy cảm thấy xót xa. Thầy thấy dường như có sức
nóng hay một chất gì đó đang đốt bao tử mình nên bụng
cồn cào không thể hành thiền, không thể giữ tâm trên đề
mục được. Có thể thầy toát mồ hôi và có thể thầy bị
xây xẩm. Vì quá đói nên trong khi đi vào làng khất thực
thầy khó chú tâm vào đề mục. Thầy bỏ hành thiền và đi
vội vào làng.
Sau
khi nhận được một ít thức ăn, có thể là một ít cháo,
thầy vào một phước xá trong làng để thọ thực. Thọ thực
xong thầy cảm thấy thoải mái vì nước chua trong bụng đã
tác dụng vào thức ăn mà không còn tấn công bao tử thầy.
Thầy cảm thấy thoải mái dễ chịu nên có thể hành thiền
một cách dễ dàng. Thầy ăn trong chánh niệm. Trong khi ăn thầy
ghi nhận kỹ càng mọi tác động trong sự ăn. Với chánh niệm
thầy thọ thực và mang thiền trở về chùa. Thầy có thể
mang thiền về chùa vì giờ đây thầy đã hoàn toàn thoải
mái. Bụng thầy không còn cồn cào nên thầy có thể dễ dàng
tập trung tâm ý trên đề mục hành thiền. Trong chú giải
có ghi rằng nhiều thầy tỳ khưu đã giác ngộ trong khi ăn
nhờ giữ chánh niệm. Bởi vậy, trong khóa thiền, giờ ăn
cũng là giờ hành thiền. Chú giải cũng đề cập rõ ràng
việc ghi nhận chánh niệm trong khi ăn.
c/.
Thầy tỳ khưu không mang thiền vào làng cũng không mang thiền
trở về chùa là loại tỳ khưu phóng dật, thiếu chánh niệm,
không muốn cũng không có hứng thú trong việc hành thiền.
Thầy tỳ khưu loại này chẳng biết hành thiền là gì. Việc
hành thiền có vẻ xa lạ đối với thầy. Thầy chỉ ăn, nói
chuyện và sống lẫn lộn với người đời. Thầy hoàn toàn
không hành thiền. Thầy không mang thiền vào làng, nghĩa là
thầy đi vào làng không chánh niệm. Nhận thức ăn và đi về
chùa cũng không chánh niệm. Thầy là một vị tỳ khưu thiếu
bổn phận và bỏ quên lợi ích của việc hành thiền. Các
vị tỳ khưu không nên làm như vậy.
d/.
Thầy tỳ khưu mang thiền vào làng và mang thiền trở về chùa.
Ðây là hạng tỳ khưu suất sắc và tuyệt hảo hơn cả. Thầy
hành thiền trong khi đi vào làng và hành thiền trong khi đi
trở về chùa. Thầy đã đào luyện tâm có đủ khả năng
để hành thiền. Thầy hành thiền suốt ngày và trọn hai canh.
Thức dậy thật sớm vào buổi sáng, thầy tỳ khưu làm những
gì cần phải làm cho chùa: quét dọn, làm sạch sẽ cốc liêu,
múc nước vv... Thầy làm việc trong chánh niệm.
Sau
đó thầy ngồi thiền một lúc rồi ôm bát vào làng khất
thực. Thầy đi trong chánh niệm. Thầy mang thiền vào làng
nghĩa là thầy thực hành chánh niệm trong khi đi: đi, đi, đi
hay bước, bước, bước hay đạp, đạp ,đạp hay trái phải,
trái phải, trái phải. Ðây là hạng tỳ khưu tốt nhất trong
bốn hạng tỳ khưu đã được chú giải nói đến. Thầy đã
mang thiền vào làng và mang thiền trở về chùa.
Thầy
hành thiền liên tục, tinh tấn trong mọi lúc. Khi đang ở trong
một khóa thiền các bạn phải làm như vị tỳ khưu này. Các
bạn phải hành thiền trong mọi lúc, duy trì tinh tấn, chánh
niệm từ khi thức giấc cho đến khi đặt mình xuống ngủ.
Ở
những thế kỷ trước đây, có những vị tỳ khưu hành thiền
rất tinh tấn. Các thầy mang thiền vào làng và mang thiền
trở về chùa. Ðôi khi có đến ba bốn chục thầy tỳ khưu
sống, hành thiền chung với nhau. Các thầy thỏa thuận cùng
nhau hành thiền thật nghiêm túc. Các thầy thường nhắc nhở
nhau: "Chúng ta trở thành những vị tỳ khưu không phải vì
bị chủ nợ thôi thúc hay sợ vua chúa trừng phạt cũng không
phải vì nghèo đói. Chúng ta trở thành tỳ khưu vì chúng ta
muốn thoát vòng sinh tử, vượt khỏi khổ đau. Bởi vậy phải
nỗ lực tinh tấn hành thiền."
Các
thầy quyết định hành thiền và quyết định loại trừ phiền
não ngay khi chúng hiện khởi. Chẳng hạn, trong khi đi, nếu
phiền não đến thì các thầy cố gắng loại trừ phiền não
ngay trong lúc đi mà không để chúng nhảy vào trong các tư
thế khác. Các thầy đã thực hành một loại qui tắc đặc
biệt. Trong khi đang đi nếu thầy tỳ khưu nào nhận ra một
tư tưởng bất thiện hay phiền não trong tâm, thầy ấy liền
cố gắng loại bỏ ngay. Nếu thầy không thành công trong việc
loại bỏ này, thầy bèn đứng lại. Khi thầy đứng lại thì
những thầy tỳ khưu đi sau thầy cũng đứng lại.
Khi
đứng lại, thầy tự nhủ: "Những thầy tỳ khưu khác biết
rằng ta đang có phiền não. Không nên để phiền não tồn
tại trong tâm. Ta phải cố gắng loại bỏ phiền não này".
Và thế là thầy cố gắng loại bỏ phiền não trong khi đang
đứng. Cho đến khi thành công trong việc loại trừ phiền
não này, thầy mới tiếp tục cất bước. Nếu không thể
loại bỏ phiền não trong khi đứng, thầy bèn ngồi xuống
và cố gắng trừ khử chúng trong khi đang ngồi. Thế là những
thầy tỳ khưu khác cũng ngồi xuống theo. Rồi thầy tự khuyên
nhủ mình rằng thầy có thể loại bỏ phiền não và thầy
có thể giác ngộ.
Các
thầy tỳ khưu phải hành thiền trong mọi lúc; luôn luôn giữ
thiền với mình, ngay cả khi đi vào làng lẫn khi trở về
chùa.
Có
vài câu chuyện liên quan đến loại tỳ khưu thứ tư này.
Chẳng hạn, có một tỳ khưu tên là Phussadeva (người sống
ở hành lang). Thầy có tên như vậy vì thầy sống trong vườn.
Thầy thực hành qui tắc mang thiền đến và đi. Có nghĩa là
thầy hành thiền trong khi đi vào làng và trong khi trở về
chùa. Thầy hành thiền tinh tấn trong mười chín năm. Trong
khi đang đi vào làng hay trong khi đi trở về chùa mà thầy
có một hành động gì không chánh niệm thì thầy đi trở
lại chỗ mình thất niệm và làm lại từ đầu. Khi đã đi
bốn năm bước không chánh niệm thì thầy sẽ đi lại chỗ
bước đầu tiên và bắt đầu bước trở lại. Dân làng làm
việc ngoài đồng thấy thầy như vậy tưởng thầy đi lạc
đường hay đánh rơi vật gì nên phải trở lại để tìm.
Thế nhưng thầy chẳng hề chú ý đến họ: Vào năm thứ hai
mươi, thầy đắc quả A la hán. Thầy đạt kết quả nhờ
hành thiền liên tục. Thầy mang thiền vào làng và mang thiền
trở về chùa.
Khi
vào làng, thầy tỳ khưu không nói chuyện. Nhưng khi có ai hỏi
chuyện gì, nhất là những câu hỏi có liên quan đến Phật
pháp, thì thầy phải trả lời. Chỉ những lúc thật cần
thiết thầy tỳ khưu mới nói chuyện còn những lúc khác thầy
phải giữ im lặng.
Một
vị trưởng lão khác tên là Mahaa Naagathera sống ở tu viện
Hắc Ðằng. Vị trưởng lão này suy tưởng đến nỗ lực
phấn đấu của Ðức Phật để thành đạo. Noi theo Ðức
Phật, vị trưởng lão thực hành qui tắc mang thiền vào làng
và mang thiền về chùa trong bảy năm. Trong suốt bảy năm này
thầy chỉ đứng hành thiền, không khi nào nằm xuống.
Thầy
nỗ lực hành trì trong suốt bảy năm nhưng vẫn chưa thành
đạo. Không chán nản thầy tiếp tục hành theo qui tắc này
trong mười sáu năm nữa, tất cả là hai mươi ba năm. Cuối
năm thứ hai mươi ba, thầy đắc quả A la hán. Ðể đạt thành
quả này thầy chỉ làm có một điều: khi đi vào làng khất
thực, thầy ngậm một ít nước trong miệng để khỏi nói.
Khi thiện tín đãnh lễ nhà sư, nhà sư phải nói vài câu:
"Cầu mong Phật tử sống lâu" hay "Cầu mong Phật tử an vui,
hạnh phúc"... Nhưng ngay cả những câu này thầy cũng không
muốn nói, bởi vì khi nói như vậy thầy sẽ bị trượt ra
khỏi đề mục hành thiền. Do đó, để khỏi phải nói một
cách thiếu chánh niệm, thầy ngậm một búng nước trong khi
đi vào làng. Khi có ai hỏi câu gì thật cần thiết thầy sẽ
nuốt ngụm nước ấy trước khi trả lời. Như vậy thầy
có thể giữ được qui tắc mang thiền vào làng và mang thiền
trở về chùa. Nhờ kiên trì thực hành như vậy nên cuối
năm thứ hai mươi ba thầy đắc quả A la hán.
Một
thời khác, có năm trăm vị tỳ khưu sống trong một ngôi chùa
có tên là Kalamba Landing, cũng thực hành một phương pháp tương
tự như vậy. Các thầy ngậm một ngụm nước khi đi vào làng.
Khi không có ai hỏi các thầy câu nào, các thầy sẽ nhổ ngụm
nước ấy ở cổng. Nhìn vào dấu nước dưới đất người
ta có thể biết được có bao nhiêu tỳ khưu đã đi vào làng:
"Hôm nay có năm thầy tỳ khưu đến" hay "Hôm nay có mười
thầy tỳ khưu đến". Những vị tỳ khưu này chỉ trong ba
tháng đắc quả A la hán.
Ðó
là cách mà các tỳ khưu ở các thế kỷ đầu tiên áp dụng
"giới vực tỉnh giác", tỉnh giác trong khi hành thiền. Các
thầy luôn luôn sống trong giới vực. Ngay khi đi vào làng để
khất thực hay khi trở về chùa các thầy cũng không rời giới
vực. Khi áp dụng giới vực tỉnh giác, các thầy tỳ khưu
cũng thực hành qui tắc mang thiền vào làng và mang thiền trở
về chùa.
Có
một vị tỳ khưu tên là Mahaathera hành thiền theo qui tắc
mang thiền đi và về: "mang thiền vào làng và mang thiền về
chùa". Một ngày nọ, trong khi đang ở trong chùa, một vài vị
tỳ khưu khác đến gặp thầy và hỏi vài câu hỏi. Thầy
phải nói chuyện với các vị tỳ khưu này. Trong khi nói chyện,
thầy làm một động tác không chánh niệm, có lẽ di chuyển
thân thể, duỗi tay hay khom mình. Trong khi đang làm như thế,
thầy chợt chánh niệm trở lại. Thầy bèn ngưng hẳn tác
động, đưa tay về vị trí cũ và di chuyển từ từ trở lại.
Các thầy tỳ khưu khác thắc mắc tại sao thầy làm như vậy.
Thầy trả lời: "Từ lúc tôi bắt đầu hành thiền, tôi chẳng
bao giờ làm tác động gì mà không chánh niệm. Hôm nay, trong
lúc nói chuyện với quí thầy, tôi đã làm một tác động
không chánh niệm; bởi vậy, tôi đưa tay về vị trí cũ và
làm lại từ đầu để duy trì việc hành thiền của tôi".
Các thầy tỳ khưu nghe thế rất lấy làm hoan hỉ nói: "Lành
thay! Thầy tỳ khưu thật sự hành thiền phải làm như thầy".
Thầy tỳ khưu này về sau cũng đắc quả.
Bằng
cách này, suốt trong những thế kỷ đầu tiên, các thầy tỳ
khưu đã thực hành qui tắc mang thiền đến và đi, các thầy
đã "mang thiền vào làng và mang thiền về chùa".
"Mang
thiền vào làng và mang thiền về chùa" là thời gian khó nhất
đối với các thầy tỳ khưu muốn giữ việc hành thiền của
mình được tốt đẹp. Khi thầy tỳ khưu ở trong chùa, ở
nhà hay trong trường thiền thì không có nhiều chuyện làm
thầy phân tâm nên rất dễ duy trì việc hành thiền. Khi thầy
đi vào làng để khất thực thì thầy phải đi bộ, và trong
khi đi bộ thì thầy phải thận trọng coi chừng đường đi,
thú vật, xe cộ v,v... nên rất khó giữ tâm chánh niệm. Nhưng
ngay cả những lúc khó khăn nhất thầy tỳ khưu cũng phải
duy trì việc hành thiền.
Những
câu chuyện kể trên cho ta thấy tầm quan trọng của loại
tỉnh giác thứ ba: "giới vực tỉnh giác".
4.
Không tà kiến tỉnh giác hay chánh kiến tỉnh giác: có nghĩa
là không lẫn lộn các động tác khác nhau khi đi tới và đi
lui. Bạn phải nhận ra chúng và hiểu biết rõ ràng sự khác
biệt của chúng. Khi bạn hiểu biết và phân biệt chúng một
cách rõ ràng là bạn áp dụng không tà kiến tỉnh giác hay
chánh kiến tỉnh giác. Không tà kiến tỉnh giác hay chánh kiến
tỉnh giác sẽ đến với bạn khi bạn áp dụng trọn vẹn
"giới vực tỉnh giác". Bạn đừng băn khoăn lo lắng về "không
tà kiến tỉnh giác hay chánh kiến tỉnh giác". Tỉnh giác này
sẽ tự động đến với bạn khi bạn có "giới vực tỉnh
giác" hay sự thực hành được thuần thục lão luyện. Bởi
vậy, việc thực hành "giới vực tỉnh giác" rất quan trọng.
Ðiều này có nghĩa là bạn phải áp dụng chánh niệm tỉnh
giác vào bất cứ việc gì bạn đang làm, dầu bạn đang đi
tới hay đi lui. Trong chương này Ðức Phật đã dạy:
Lại
nữa, này các thầy tỳ khưu, tỳ khưu tỉnh giác trong khi đi
đến và trong khi đi lui.
Tất
cả các loại tỉnh giác đều có thể áp dụng ở đây. Trước
khi ra đi hay trước khi trở về, thiền sinh phải xem xét có
lợi ích hay không. Thiền sinh cũng