ĐỐI
THOẠI VỚI THIỀN SƯ THÍCH NHẤT HẠNH VỀ HẠNH PHÚC
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn
 |
 |
Buổi
trực tuyến giữa nhà báo Nguyễn Anh Tuấn (tổng biên tập
VietNamNet) với thiền sư Thích Nhất Hạnh trong chiều 4.5.2008
diễn ra với nhiều nội dung thú vị. Nhưng điều đọng lại
lớn lao nhất, ấn tượng nhất trong người nghe là sự lý
giải, gợi mở của thiền sư về hai chữ HẠNH PHÚC của
con người.
Hình
ảnh trong Bàn tròn trực tuyến giữa VietNamNet và Thiền sư
Thích Nhất Hạnh
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi mang đến đây tặng
quý vị hai bức thư pháp. Bức "Từng bước nở hoa sen" là
phương pháp thực tập để mỗi bước chân mình đi thảnh
thơi, an lạc, tiếp xúc với những mầu nhiệm trên hành tinh
này, đem lại cho mình hạnh phúc. Bức thứ hai là phương pháp
lắng nghe để có thể hiểu được những khó khăn, khổ đau,
bức xúc của người đối diện, và có thời giờ nhìn lại
để chấp nhận và thương yêu: "Lắng nghe để hiểu, nhìn
lại để thương". Phương pháp này có thể giúp mình tái lập
lại truyền thông, hòa giải giữa hai người với nhau, đem
lại hạnh phúc không chỉ cho riêng mình.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh và TBT VietNamNet Nguyễn Anh Tuấn
"Chúng
tôi đã bỏ ra 30 năm để chia sẻ sự thực tập đạo Phật
với người Tây Phương"
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Cảm ơn Thiền sư Thích Nhất Hạnh
và tăng đoàn đã có những món quà rất ý nghĩa tặng VietNamNet.
Có lẽ chúng tôi không cần giới thiệu gì thêm về vị khách
mời đặc biệt hôm nay, bởi tên tuổi cũng như uy tín của
thiền sư đã lan tỏa sâu rộng cả trong và ngoài nước. Câu
hỏi đầu tiên: Xin thiền sư chia sẻ về thành tựu chung hiện
nay của đạo Phật trên toàn thế giới?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi đã để ra trên 30 năm
để chia sẻ sự thực tập đạo Phật với người Tây phương.
Hiện giờ đạo Phật ở phương Tây phát triển rất mạnh
và nhanh, được giới trẻ, giới trí thức hâm mộ nhiều.
Chúng tôi đã mở những khóa tu tập riêng cho giới doanh nhận,
giới bảo hộ môi trường, giáo chức, cựu chiến binh, văn
nghệ sĩ... Có khóa tu cho giới diễn viên Holllywood, dân biểu
quốc hội Hoa Kỳ, những người lo an ninh (cảnh sát, người
giữ tù...), luật sư... Đây đúng là đạo Phật đi vào cuộc
đời, mình không cần phải quy y nhưng có thể thừa hưởng
kho tàng tuệ giác của đạo Phật để tháo gỡ khó khăn trong
đời sống nội tâm, tái lập lại truyền thông với những
người khác, trong đó có gia đình, đồng nghiệp, đem lại
hạnh phúc trong đời sống hàng ngày.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thiền sư có thể lý giải vì
sao Phật giáo lại được chấp nhận và ngày càng phát triển
ở những vùng đất, những bối cảnh xã hội như châu Âu,
nước Mỹ, nơi các tôn giáo khác như công giáo, tin lành...
đã bám rễ rất sâu rộng?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi nghĩ một phần vì những
cố gắng hiện đại hóa Cơ đốc giáo, Do Thái giáo chưa thành
công lắm, trong khi chúng tôi thành công trong sự hiện đại
hóa đạo Phật. Ở phương Tây đạo Phật được trình bày
với ngôn ngữ mới, đưa ra những pháp môn tu tập rất thực
tế để giúp mỗi cá nhân tháo gỡ những khó khăn ngay khi
tu tập. Có những người đã từng là Linh mục, mục sư thương
đạo Chúa rất nhiều, nhưng họ nói đạo Phật giúp họ tìm
ra biện pháp cụ thể để tháo gỡ khó khăn.
Ví
dụ như mục sư Cyber Lee ở Houston, Texas, nhờ đọc sách của
mình (chúng tôi), áp dụng sự thực tập học ở trong sách
mà chữa lành bệnh ung thư, nên sau đó đã xin thụ trì 5 giới,
quy y tam bảo mà không thấy có sự mâu thuẫn gì giữa đức
tin cơ đốc giáo của bản thân với tuệ giác đạo Phật.
Sau đó vị mục sư này đến làng Mai tu học 3 tháng mùa đông,
tiếp tục tu học cho đến khi thành một vị giáo thọ của
làng Mai, tức người có khả năng mở những khóa tu theo giáo
lý đạo Phật. Vị mục sư này đã viết thư cho bề trên,
đề xuất nguyện vọng muốn được vừa làm mục sư, vừa
làm giáo thọ đạo Phật, trong trường hợp bề trên không
cho thì sẽ chỉ làm giáo thọ đạo Phật. Chúng tôi được
tin là bề trên đã đồng ý cho ông vừa làm mục sư, vừa
làm giáo thọ. Sáng chủ nhật thì ông giảng bài cho con chiên,
buổi chiều thì hướng dẫn thiền tập cho mọi người, trong
đó có cả những người trong nhà thờ.
Chúng
tôi không nghĩ phải từ bỏ đạo Thiên chúa hay Do thái mới
theo được đạo Phật, vì đạo Phật không phải chỉ là
tôn giáo tín ngưỡng, mà còn là nguồn tuệ giáo sâu sắc,
mà bất cứ ai cũng có thể thừa hưởng để tháo gỡ những
khó khăn trong đời sống nội tâm, giúp cho đời sống an lạc,
hạnh phúc.
"Mong
Giáo hội Công giáo và Phật giáo ra văn bản có hậu về hôn
nhân dị giáo"
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Chính nhờ những bước phát triển,
cập nhật cái mới mà đạo Phật đã có sức sống ở những
vùng đất như Âu-Mỹ. Ngược lại, đạo Phật có học hỏi
những điều hay của các tôn giáo khác để làm giàu thêm
cho mình không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Trong đạo tràng của chúng tôi, các
thầy - sư cô - phật tử - cư sĩ đều có bổn phận phải
học những truyền thống khác. Chúng tôi đã viết những cuốn
sách đối thoại Phật giáo với những tôn giáo khác, như
cuốn "Living Buddha, Living Christ" ("Bụt ngàn đời, Chúa ngàn
đời"), "Về đi thôi, Bụt và Chúa là hai anh em" (Coming home,
Buddha and Christ are brothers). Những cuốn sách đó cũng như những
khóa tu chúng tôi mở ra cho những người Phật tử và Cơ đốc
giáo đến tu tập chung là những phương tiện đối thoại
rất hay, khiến cho nhiều người Cơ đốc giáo và Do Thái giáo
có cơ hội tìm hiểu đạo Phật, đồng thời giúp những người
đạo Phật có cơ hội hiểu thêm về giáo lý Cơ đốc giáo,
Do thái giáo, nên sự hiểu biết chung ngày càng tăng, tình
thân hữu nhờ đó mà phát triển.
Chúng
tôi cũng đề cập đến Hôn nhân dị giáo. Bởi đã có biết
bao thanh niên thiếu nữ đau khổ vì không được lấy nhau,
do hai bên cha mẹ đều muốn giữ đạo của mình. Chúng tôi
có đề nghị biện pháp như cho phép hai người cưới nhau,
người nào giữ tôn giáo người đó, đồng thời có cơ hội
học thêm truyền thống của người bạn hôn phối của mình.
Chủ nhật 2 người cùng đi nhà thờ, rằm và mùng 1 hai người
cùng đi chùa. Thay vì có 1 gốc rễ thì hai người có hai gốc
rễ tâm linh, vì học 2 truyền thống thì khám phá được rõ
hơn châu báu của mỗi truyền thống, chỉ làm giàu thêm thôi.
Hôm chúng tôi đến thăm nhà thờ Phát Diệm, gặp một số
vị linh mục, chúng tôi có bàn về chuyện này, các vị linh
mục tỏ vẻ đồng ý. Hy vọng các giáo hội Công giáo và
Phật giáo sẽ ra một văn bản để tuổi trẻ khỏi phải
đau khổ như suốt mấy trăm năm qua khi có tình yêu với người
khác truyền thống.
Hiện
đại hoá đạo Phật?
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Phật giáo VN đã có truyền thống
lâu đời. Vậy thiền sư có nhận xét thế nào về Phật giáo
hôm nay tại Việt Nam?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Phật giáo VN có nhiều tiềm lực,
như mỏ dầu hỏa rất lớn. Vấn đề là có biết khai thác
để làm hạnh phúc cho dân, cho nước hay không? Cái học của
chúng ta trong các trường Phật học lý thuyết hơi nhiều,
sự thực tập mới chỉ tập trung vào sự tín mộ, cầu nguyện,
chứ chưa đi sâu vào quán chiếu và chuyển hóa. Chúng tôi
mong phương pháp học Phật và thực tập đạo Phật phải
được hiện đại hóa mau chóng, để Phật giáo đi kịp những
trào lưu khác trong xã hội.
Chúng
tôi ở Tây phương có hoàn cảnh thuận tiện nên hiện đại
hóa đạo Phật rất dễ dàng, đào tạo những thế hệ tu
sĩ, tăng sinh, thầy và sư cô mới, cư sĩ mới. Chúng tôi không
tốn quá nhiều thời giờ mà vẫn đào tạo được những
giáo thọ có khả năng mở những khóa thực tập (retreat) trong
đó người ta tới học những cái chúng tôi vừa trình bày,
học làm thế nào đem lại cái an, cái lạc cho thân tâm, thiết
lập truyền thông với người khác, xóa bỏ hận thù bạo
động, đem lại hạnh phúc. Sự thành công là nhờ ở chỗ
chúng tôi dám làm mới đạo Phật, đem lại một đạo Phật
thích hợp với tuổi trẻ, với người trí thức bây giờ.
Việt Nam hiện giờ có nhiều điều kiện để làm mới, hiện
đại hóa đạo Phật.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thiền sư có thể làm rõ, ta cần
hiện đại hóa, cập nhật điểm nào của đạo Phật?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi đã nói, cái học của chúng
ta phải thay đổi, phải học những biện pháp cụ thể để
chuyển hóa thân tâm chứ không học như lý thuyết suông. Sinh
viên y khoa ngoài giờ học trong lớp thì phải vào bệnh viện
xem các giáo sư chẩn mạch, cho thuốc. Các thầy, sư cô trong
các phật học viện cũng vậy, phải có khả năng tổ chức
giúp đỡ, tham vấn, soi sáng cho những người tới với mình.
Họ có những khó khăn, bức xúc, khổ đau, tai nạn, thì mình
phải dùng trí tuệ đạo Phật để giúp họ tháo gỡ.
Đức
Thế tôn từ 2600 năm trước đã cho người phụ nữ vào trong
giáo đoàn của ngài. Ấy vậy mà trong truyền thống của mình
vẫn trọng nam khinh nữ. Tuần trước chúng tôi có đưa ra
đề nghị BÁT KỈNH PHÁP của các thầy với các sư cô. Chúng
tôi biết có nhiều vị sẽ mừng lắm, nhất là những người
ở Tây phương. Nhưng cũng sẽ có những người bảo thủ,
và chúng tôi sẽ phải gánh chịu búa rìu dư luận. Nhưng chúng
tôi vẫn can đảm đưa ra để cho có được sự bình đẳng
thực sự giữa nam và nữ trong giáo đoàn Đức Phật.
Chúng
tôi cũng nghĩ Đạo Phật cần đi vào đời sống của tuổi
trẻ. Chúng tôi mong tổ chức Gia đình phật tử ở Việt Nam
được phục hồi, sẽ có những đoàn thanh niên Phật tử,
những đoàn Phật tử hoạt động trong xã hội lành mạnh
và từ bi hơn. Chúng tôi nghĩ rằng, làm cha mẹ phải học
Phật để tháo gỡ khó khăn, chăm sóc nhau, giúp cho con mình
học đạo Phật từ mình. Thầy cô giáo phải buông thả căng
thẳng trong con người của mình, đối phó với những bức
xúc trong tâm như sợ hãi lo lắng. Khi bố mẹ, thầy cô làm
được thì sẽ giúp con cái và học trò. Vì thế, đạo Phật
phải đi vào trong gia đình, trong học đường, trong xã hội.
Ví
dụ ông là một doanh nhân, ông biết nếu đem Đạo Phật vào
trong doanh nghiệp thì sẽ tạo ra sự hiểu biết, chấp nhận,
thương yêu, và nếu biết cách thì những công nhân trong doanh
nghiệp biết phương pháp buông thư, có thời giờ để tìm
hiểu khổ đau, khó khăn của nhau, thì sự hiểu nhau, chấp
nhận nhau, thương yêu nhau sẽ làm công việc phát triển và
thành công hơn.
Nếu
ông là nhà chính trị mà biết Phật-Pháp thì có thể đem
phương pháp thực tập vào đảng của ông, thiết lập được
sự đồng cảm, thương yêu, tin cậy giữa những người cộng
sự thì sự nghiệp chính trị sẽ thành công. Mỗi chúng ta
phải có chiều hướng tâm linh (spiritual dimension), nếu không
thì không tháo gỡ được những khó khăn, bức xúc trong đời
sống của mình, mà như thế thì rất khó thành công. Đạo
Phật vì thế cần phải cung cấp cho mỗi người trong xã hội
cái bình diện, chiều hướng tâm linh. Đó là điều mà giáo
hội Phật giáo cần lưu tâm, đó là cái đẹp nhất, quý nhất
mà đạo Phật có thể cống hiến cho xã hội, cho dân tộc.
Tâm
an và nhiệt huyết sống! Có mâu thuẫn không?
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa thiền sư, vậy có mâu thuẫn
không khi ta đề cao tâm an, nhẹ nhàng, thanh tịnh, nhưng thực
tế cuộc sống lại rất sôi động, cạnh tranh, mỗi con người
phải vươn lên. Cũng có khi người ta coi stress, căng thẳng
như là một thách thức thú vị của cuộc sống (như việc
chơi game chẳng hạn). Đạo Phật có mâu thuẫn khi gạt đi
những sôi động, những thách thức khiến con người phát
triển và có nhiệt huyết sống không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Một nhà chính trị thì luôn muốn
mình đem lại thành công cho đất nước. Một doanh thương
cũng muốn thành công cho cả doanh nghiệp chứ không phải chỉ
cho mình. Nếu hình hài không có an thì không thành công được.
Thực tập đem lại sự yên ổn trong thân, trong tâm sẽ giúp
họ thành công, dù là nhà chính trị hay doanh nhân, không có
gì chống đối hết. Khi sử dụng ái ngữ và lắng nghe thì
họ thành công hơn trong lĩnh vực chính trị, kinh doanh của
họ. Những niềm vui của họ có thể rất lớn khi họ thực
hiện những điều họ mơ ước. Sự thành công của mình không
hẳn trả giá bằng sự thất bại của người khác. Tại sao
người kia phải thất bại thì mình mới thành công? Đó là
câu hỏi quan trọng? Làm thế nào để tôi thành công và anh
cũng thành công, thì hạnh phúc của ta sẽ lớn hơn, vì không
ai đau khổ vì sự thành công của chúng ta hết. Hạnh phúc
của chúng ta đâu phải chỉ là quyền lực, danh vọng, tiền
bạc. Hạnh phúc là khi chúng ta có tình thương và sự hiểu
biết.
Trong
mỗi chúng ta có hai nhu cầu sâu sắc, đó là nhu cầu hiểu
biết và thương yêu. Những nhà khoa học vì nhu cầu hiểu
biết mà thức đến 3, 4h khuya để nghiên cứu thí nghiệm.
Những nhà đạo học không dùng phương tiện đo lường mà
dùng thiền quán để tìm hiểu. Con đường tâm linh cũng khám
phá, làm thỏa mãn nhu yếu hiểu biết của con người.
Nhu
yếu thứ hai sâu sắc của con người là thương yêu và được
thương yêu. Sở dĩ ngày xưa SIDDHARTHA bỏ nhà đi tu là tại
thấy rằng tình thương dành cho một người không đủ, không
làm thỏa mãn ý chí của người con trai đó, nên ra đi tìm
tình thương có thể ôm lấy mọi người, mọi loài, tình thương
không biên giới. Ta có khao khát rất lớn là được thương
yêu, thương yêu có thể phát triển tới vô biên, ôm lấy
vũ trụ. Khi ta có hiểu biết lớn, thương yêu lớn thì hạnh
phúc lớn. Vì vậy nhà doanh thương, nhà chính trị mà trong
khi hoạt động mở rộng được tình thương, hiểu biết của
mình, càng hiểu thì càng thương, hiểu sâu thì thương nhiều,
thì hạnh phúc rất lớn, không có gì mâu thuẫn.
Sử
dụng tuệ giác đạo Phật để chuyển hóa thân tâm, tháo
gỡ khó khăn?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Con người tìm đến với tôn giáo
là tìm đến với thế giới tinh thần, với sự an ủi, như
đạo Phật giúp giải thoát khỏi những đau khổ nội tâm
trong cuộc sống. Nhưng thưa thiền sư, lý thuyết giáo lý cao
đẹp ấy đã đi vào thực tế cuộc sống được nhiều chưa?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Với đạo Phật, phần lớn chúng
ta mới thực tập tín mộ, tín ngưỡng, chứ ít người sử
dụng được tuệ giác đạo Phật để chuyển hóa thân tâm,
tháo gỡ những khó khăn. Cầu nguyện cũng phần nào đem lại
sự an lạc, vì giúp lắng dịu những khổ đau, lo lắng. Nhưng
muốn giải quyết tận gốc vấn đề thì phải có tuệ giác,
mà tuệ giác phải do tu tập mới có được. Hiện ở Tây
phương chúng tôi đang xướng xuất phong trào Phật học ứng
dụng.
Hạnh
phúc là an lạc, không có an thì không có lạc, an trong thân
và trong tâm. Nếu con người chứa chất quá nhiều sự căng
thẳng, stress, thân không an thì tâm làm sao an được? Trong
khi đó tâm có những cảm giác, cảm xúc như giận hờn, tuyệt
vọng, bạo động, nếu không có phương pháp cụ thể thì
làm sao nhận diện và chuyển hóa được những bất an của
tâm? Trong kinh Niệm Xứ hay kinh Quán Niệm Hơi Thở, Đức Thế
Tôn đã dạy những phương pháp cụ thể để làm lắng dịu
những căng thẳng trong thân, trong tâm, rồi nhìn sâu để xem
gốc rễ của những khổ đau phiền não đó do đâu, từ đó
mới bắt đầu chuyển hóa được những tâm hành. Đó là
phương pháp khoa học.
Sở
dĩ người Tây phương theo chúng tôi học hỏi, thực tập nhiều,
vì chúng tôi không hiến tặng cho họ đạo Phật của đức
tin mà hiến tặng cho họ đạo Phật của sự thực tập kinh
nghiệm. Những khóa tu tổ chức ở New York, Los Angeles, Boston,
Born, London, thường có trên 1000 người tới tu liền 6, 7 ngày,
trong những ngày đó họ thực tập những phương pháp cụ
thể, trước hết lấy ra những căng thẳng trong thân - tập
buông thư, lấy ra những căng thẳng trong tâm - tập nhận diện
và ôm ấp những đau buồn, lo lắng, sợ hãi của mình, nhìn
sâu vào để có thể nhận diện những bản chất tâm hành
đó. Rồi nhìn vào người thân của mình để thấy trong họ
có căng thẳng trong thân, tâm, để phát khởi lòng thương,
chấp nhận họ. Lúc đó mình cởi bỏ được thái độ trách
móc, vì có sự lắng dịu trong thân và tâm, học thêm được
phương pháp ái ngữ và lắng nghe, hiểu được khó khăn và
bức xúc, mơ ước, khổ đau của người kia, từ đó chấp
nhận để giúp đỡ họ. Không nói những lời chua chát, buộc
tội, lên án, thì có thể giúp người kia hiểu được, thấy
được những nhận thức sai lầm của họ để thay đổi.
Đó
là những phương pháp cụ thể, chỉ cần tu trong 6, 7 ngày
là đã có thể đạt được những tiến bộ rất lớn rồi.
Không khóa tu nào mà không có phép lạ xảy ra, vợ chồng hòa
giải, cha con làm hòa là chuyện rất thường. Có điều lạ
lùng, nếu 2 người cùng tới khóa tu thì sự chuyển hóa dễ
dàng là đúng, nhưng có trường hợp chỉ 1 người đến khóa
tu, chuyển hóa và có khả năng nói được lời êm dịu và
lắng nghe được khó khăn của người đối thoại. Đến ngày
thứ 6 chúng tôi cho phép dùng điện thoại di động để thực
tập lắng nghe và ái ngữ, và có nhiều người đã báo cáo
rằng chỉ dùng điện thoại di động đã có thể hòa giải
với người kia ở nhà (bố, mẹ, anh chị em, vợ chồng, con...).
Khi nghe báo cáo như thế thì chúng tôi rất hạnh phúc, vì
biết rằng mình đã giúp được nhiều người.
"Năm
giới là sự thực tập cụ thể của tình thương"
Thực
sự chúng tôi không chủ ý quyến rũ người ta theo đạo Phật,
nhưng vào cuối khóa tu, người xin quy y và thọ 5 giới rất
đông, có những khóa tu mà 6 - 700 người Tây phương quỳ xuống
xin quy y Phật-Pháp-Tăng và thọ 5 giới. Vì họ biết rằng
5 giới là sự thực tập cụ thể của tình thương.
Giới
thứ nhất là Bảo vệ sự sống không chỉ của loài
người mà động vật, thực vật, khoáng vật. Giới này đi
theo đường lối bảo hộ môi trường (deep ecology), không chỉ
bảo vệ con người mà còn bảo vệ các loài khác trong đó
có thực vật và khoáng vật.
Giới
thứ hai là Chia sẻ thời giờ và tài vật của mình
với những người thiếu thốn, đừng lạm dụng và bóc lột
người khác. Đó là giới không trộm cắp, không bóc lột,
trái lại hiến dâng, là sự thực tập của tình thương.
Giới
thứ ba là Không tà dâm, không lạm dụng tình dục,
bảo hộ trẻ em, bảo hộ những cặp vợ chồng. Đó cũng
là tình thương, vì bao nhiêu trẻ em lớn lên trong gia đình
không giữ giới thì đau khổ vô cùng. Bởi vậy, sự thực
tập giới thứ ba là không ăn nằm với những người không
phải vợ chồng, không lạm dụng tình dục, bảo hộ cho những
đôi nam nữ, bảo hộ trẻ em cũng là sự thực tập của tình
thương.
Giới
thứ tư là Sử dụng ái ngữ và lắng nghe để tái
lập truyền thông giữa những người thân... cũng là sự thực
tập tình thương.
Giới
thứ năm là Tiêu thụ trong chính niệm, chỉ tiêu thụ
những sản phẩm mang lại sự an lạc cho thân tâm mình, còn
những sản phẩm có độc tố (như phim ảnh sách báo) thì
những độc tố đó sẽ làm thâm tâm bị hủy hoại. Biết
chọn đối tượng tiêu thụ cũng là sự thực tập của tình
thương, bảo hộ xã hội, bảo hộ con người.
Khi
họ thấy 5 giới là phương tiện bảo hộ mình và những người
thương thì đó không còn là đức tin mơ hồ mà là những
thực tập cần thiết. Họ tiếp nhận 5 giới với thái độ
khoa học chứ không phải người đi tìm đức tin, nên họ
thấy không chống đối gì với truyền thống tôn giáo của
họ.
Nên
học vua A Dục và Trần Thánh Tông để thống nhất lòng người
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Đúng là Giáo lý của đạo Phật
rất đẹp, rất hay. Nhưng từ mong muốn mà chuyển hóa thành
thực tiễn hành động, nhân cách mỗi con người thì không
dễ chút nào. Liệu giáo lý đạo Phật có thể giúp định
hình ra một nhân cách của dân tộc VN? Nhiều người mong muốn
điều đó, nhưng nay còn bộn bề trăn trở nhiều. Thiền sư
có đánh giá gì, có giải pháp gì đưa những điều hay của
giáo lý Phật-Pháp đến với mỗi con người, để hình ảnh
dân tộc Việt Nam có nhân cách tốt trong cộng đồng thế
giới?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Đạo Phật ngày xưa giúp đất
nước nhiều lắm. Học giả Hoàng Xuân Hãn đã nói Đạo Phật
giúp đời Lý là triều đại thuần từ nhất trong lịch sử,
khi từ vua quan tới dân đều thực tập đạo Phật. Đời
Trần cũng vậy, sau khi chiến thắng Nguyên Mông, quan quân có
đệ trình lên một hòm tài liệu của một số viên chức
chính quyền liên lạc với giặc. Nhưng Vua Trần Thánh Tông
đã đem hòm tài liệu đốt trước mặt bá quan để yên tâm
trăm họ, bởi chúng ta đã giành được độc lập, đẩy lui
được quân thù thì cần nhất bây giờ là đoàn kết quốc
gia. Đó là hành động phát sinh từ tuệ giác của đạo Phật.
Hiện
giờ, ta có thể học theo những hành động như thế. Cố nhiên
là trong chiến tranh chúng ta bị chia rẽ, có những ý thức
hệ đối chọi nhau, có những nhận thức khác nhau về chính
trị, có cách thức yêu nước khác nhau. Giờ phải làm thế
nào để buông bỏ thái độ đó đi. Đừng cho rằng chỉ có
lý thuyết của chúng tôi là đúng, còn mọi lý thuyết khác
đều sai lầm hết. Thái độ bám vào một chủ thuyết, không
bao dung đó sẽ tiếp tục làm cho dân ta khổ.
Trong
giới luật Tiếp Hiện của chúng tôi có đưa ra tinh thần
đạo Phật là không thờ phụng bất cứ một chủ nghĩa nào,
một lý thuyết nào, kể cả đó là lý thuyết Phật giáo.
Đạo Phật đưa ra những phương tiện để tu tập, để học
hỏi, để chuyển hóa bản thân chứ không phải là những
lý thuyết để thờ phụng, để phải phát động những cuộc
chiến đẫm máu. Tôi nghĩ thái độ đó rất cần thiết. Vua
A Dục ngày xưa sau khi thống nhất đất nước đã đi tu, yểm
trợ cho các tôn giáo để các tôn giáo thống nhất nhân tâm.
Vì thế, vua A Dục đã thống nhất được nhân tâm sau khi
thống nhất lãnh thổ. Chúng ta nên học bài học đó. Chúng
ta thống nhất Nam Bắc nhưng chưa thống nhất được lòng
người, vẫn có sự tị hiềm, hận thù, đau khổ trong lòng
mỗi chúng ta. Áp dụng đạo Phật là để buông bỏ những
hận thù trong quá khứ. Đó là một trong những thực tập
mà ta có thể thực hiện ngay, thống nhất lòng người, ôm
lấy nhau như đồng bào.
Năm
ngoái về Việt Nam, chúng tôi được phép của Thủ tướng
Chính phủ để tổ chức 3 đại trai đàn chẩn tế cầu siêu
bình đẳng giải oan cho người Bắc, cho người Nam, cho người
cộng sản và cả cho người chống cộng sản. Đó là tuệ
giác của nhà nước Việt Nam. Đó là lần đầu tiên người
Cộng sản và những người chống cộng sản được ôm lấy
nhau để cùng khóc thương, cầu nguyện cho 6 triệu người
chết, trong đó có bao người chết oan. Thực tập đó theo
đúng tinh thần đạo Phật, buông bỏ những hận thù, bực
bội, khổ đau trong quá khứ, đóng góp vào sự thống nhất
lòng người.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Sau một năm thực hiện hành động
mà thiền sư đánh giá là có tính đột phá và được Nhà
nước ủng hộ đó, thiền sư có thấy tiến bộ thêm trong
sự xóa bỏ hận thù của quá khứ không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Công việc đó cần phải được
tiếp tục, mọi giới đều phải đóng góp vào. Ba trai đàn
chẩn tế cũng chỉ là sự bắt đầu. Tôi nghe rằng nhiều
vị thượng tọa, đại đức cũng đang tổ chức những trai
đàn như vậy ở địa phương. Đó là sự tiếp nối. Chúng
tôi nghĩ rằng những công việc như thế rất quan trọng, bởi
thống nhất lòng người là điều căn bản. Chúng tôi nghĩ
hiện ta có điều kiện làm việc đó. Những người Phật
tử hiện đại hóa, làm mới được đạo Phật thì đạo
Phật đóng góp được rất nhiều trong sự nghiệp thống nhất
lòng người.
Bạn
đọc Nguyễn Trọng Chuyên: Thiền sư đã làm gì để gắn
kết khối đại đoàn kết dân tộc giữa người Việt với
người Việt, giữa người Việt với cộng đồng thế giới?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi đã giúp được rất
nhiều người Việt ở Hoa Kỳ thoát khỏi ngục tù của quá
khứ. Nhưng cũng nhiều người rất khó vượt qua vì trong quá
khứ họ có những chức vị, quyền lợi và họ không thể
chấp nhận được việc họ bị mất đi những chức vị,
quyền lợi ấy. Họ trở nên hận thù. Cả những Phật tử
cũng trở thành đối tượng hận thù của họ. Họ có thể
chửi mắng, bôi nhọ... Riêng về phần chúng tôi, chúng tôi
không đau khổ gì hết mà chỉ tội nghiệp cho họ. Vì bản
thân họ bị quá khứ giam hãm nên họ không biết sống hạnh
phúc trong hiện tại, do đó họ không có tương lai. Nếu họ
cứ ôm khư khư cái hận thù thì họ rất đáng tội nghiệp.
Chúng
tôi chỉ làm tối đa những gì có thể làm được, còn có
lẽ phải nhờ một sự kì diệu nào đó, một ngày họ sẽ
nhận ra thì đó là hạnh phúc của họ, và đó chính là sự
giác ngộ.
"Thực
tập để sống sâu sắc giây phút hiện tại" – cách để
hoàn thiện nhân cách!
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng thực tế không chỉ chuyện
thống nhất lòng người, mà trong ứng xử hàng ngày hiện
nay thì kể cả với những người theo đạo Phật, các bạn
trẻ cũng như người lớn tuổi, tính ăn gian nói dối, chiếm
dụng của công, đố kị tị hiềm, chụp giật "bốc ngắn
cắn dài" không nghĩ đến ngày mai... vẫn rất phổ biến trong
xã hội? Như vấn nạn giao thông, còn nhiều người đi đường
lạng lách, không lo lắng an toàn cho người khác. Phải chăng
đạo Phật bất lực trong việc này?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Những người ngoại quốc tới
VN nghĩ rằng lâu nay trong chiến tranh người VN không được
sống, nên nay có hòa bình thì họ sống hối hả, lái xe như
điên. Cái đó chỉ đúng một phần thôi. Tôi nghĩ cách sống
này là do cách suy nghĩ, quan niệm của chúng ta. Tuệ giác của
đạo Phật là mình có thể sống an lạc và hạnh phúc trong
giây phút hiện tại (hiện pháp lạc trú: Living happily in the
present moment). Đó là giáo lý căn bản của đạo Phật. Chẳng
hạn, khi đi từ đây ra bãi đậu xe, mục đích là lấy xe
để đi, nhưng không ai cấm mình đi từ đây ra bãi đậu xe
bằng những bước chân thảnh thơi, an lạc hạnh phúc, chứ
không phải chỉ khi lái xe mới an lạc hạnh phúc. Nếu đi
từ đây ra xe mà không an lạc hạnh phúc thì nắm vô lăng
cũng không thể an lạc hạnh phúc được. Vấn đề là phải
thực tập.
Làm
thức ăn sáng cho gia đình thì trong khi đun nước, nướng bánh
mỳ có thể vừa theo dõi hơi thở, mỉm cười, thực tập
thư giãn. Ngồi xuống bàn thì dành môt phút nhìn nhau mỉm
cười, để biết mình còn nhau, có ngay hạnh phúc trong giây
phút hiện tại. Nếu ông cầm tờ Wall Street Journal để xem
giá cổ phiếu lên hay xuống thì thay vì nhìn thấy vợ con,
ông lại phóng tâm vào tương lai.
Nếu
các thầy và sư cô đem ra giảng dạy, luyện tập cho người
ta sống trong giây phút hiện tại, thì sự hối hả, đi tìm
hạnh phúc trong tương lai kia sẽ giảm bớt. Vì biết tìm hạnh
phúc trong hiện tại thì không cần bươn chải để đến tương
lai. Hiện tại rất đẹp, quá khứ đã đi qua, tương lai thì
chưa tới. Mình chỉ có giây phút thực sự sống là hiện
tại, nếu sống sâu sắc mình có thể tiếp nhận trời xanh,
mây trắng, chim hót, thông reo, hoa nở... những nhiệm màu của
sự sống. Ly nước trong là nhiệm màu, mình có thể an trú
trong hiện tại để tiếp xúc với ly nước không? Hay khi uống
ly nước mà nghĩ tới dự án tương lai. Hiện pháp lạc trú
là một nghệ thuật sống có hạnh phúc. Nếu hạnh phúc trong
hiện tại thì chắc chắn tương lai sẽ hạnh phúc, còn nếu
không có hạnh phúc trong hiện tại thì tương lai cũng không
thể có hạnh phúc. Nếu lo rửa bát cho mau để cầm ly trà
cho hạnh phúc, thì khi cầm ly trà cũng lại hối hả đến
tương lai mà bỏ quên mất ly trà. Vấn đề là thực tập
để sống sâu sắc giây phút hiện tại. Ta có đạo Phật
mà không dùng đuợc tuệ giác của đạo Phật, nghĩa là đạo
Phật của ta chưa thành công.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Mọi người vẫn đang thắc mắc,
làm sao từ những khát vọng, lý tưởng của đạo Phật trở
thành máu thịt, thành cuộc sống hiện tại của từng con
người. Nếu trong 85 triệu dân Việt Nam mà có 80%, tức là
hơn sáu mươi triệu dân làm được thì đất nước cũng hạnh
phúc lắm rồi. Thiền sư có biện pháp cụ thể để điều
đó thành hiện thực không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Trong 30 năm, chúng tôi đã giúp
cho vô số người Tây phương nắm được phương pháp thực
tập để sống an lạc, hạnh phúc, hòa giải với nhau. Nếu
phương pháp này đã thành công trong giới trẻ và giới trí
thức ở Tây phương thì cũng sẽ thành công ở đây, trong
giới trẻ và giới trí thức Việt Nam. Trong những lần về
vừa qua, chúng tôi đã mở những khóa tu cho giới trẻ và
giới trí thức, và thấy sự tiếp thu đạo Phật rất nồng
nhiệt. Trước khi đi Hà Nội chúng tôi có khóa tu cho 4000 người
trẻ tại tu viện Bát Nhã - Lâm Đồng. Chúng tôi cũng vừa
kết thúc một khóa tu cho người trẻ Hà Nội tại chùa Bằng
A. Người trẻ tuổi và trí thức tới rất đông, nét mặt
rất rạng rỡ, rất hạnh phúc, bởi học được phương pháp
buông thư, ái ngữ lắng nghe để tháo gỡ những khó khăn
với người thân. Nghĩa là chúng tôi cũng đã thí nghiệm thành
công trong đất nước. Nếu ở Việt Nam, giới xuất gia và
giới tại gia biết lợi dụng phương pháp này thì vài ba năm
đã có sự thay đổi lớn trong cách sống rồi.
Bạn
đọc Tuấn Anh (TP.HCM): Xin thầy cho con hỏi phương pháp
hiện tại lạc trú có phải là không nghĩ về quá khứ, cũng
như không nghĩ tới tương lai? Nếu vậy thì làm thế nào để
rút ra những bài học kinh nghiệm từ quá khứ, hay hoạch định
kế hoạch cho tương lai? Còn nếu nghĩ về quá khứ hay tương
lai thì có thể nào lạc trú trong hiện tại được không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Hiện pháp Lạc trú tức là sống
sâu sắc đời sống của mình trong mỗi phút giây. Nguyên tắc
là đừng đánh mất mình trong sự tiếc thương hay hối hận
về quá khứ, chứ không phải là không được học hỏi từ
quá khứ. Mình có thể an trú trong hiện tại và coi quá khứ
là đối tượng của sự nghiên cứu của mình. Trong khi mình
thiết lập thân tâm trong hiện tại, mình đem quá khứ về
hiện tại để học tập thì mình sẽ học hỏi được nhiều
từ quá khứ.
Đối
với tương lai cũng vậy, đừng đánh mất mình trong sự lo
lắng và sợ hãi về tương lai. Còn mình có quyền thiết kế
tương lai của mình chứ. Mình an trú trong hiện tại và mình
đem tương lai về hiện tại để nghiên cứu và hoạch định.
Nói
cách khác, sống sâu sắc trong hiện tại thì đồng thời mình
cũng tiếp xúc được quá khứ, còn tương lai cũng nằm trong
hiện tại. Mình cần biết xử lý hiện tại với tất cả
khả năng của mình, thì có nghĩa là mình đang làm tất cả
những gì mình có thể làm cho tương lai rồi.
Lo
lắng và sợ hãi tương lai chỉ làm hư tương lai của mình,
còn tiếc nuối và mặc cảm về quá khứ sẽ biến quá khứ
thành nhà tù và mình không có khả năng sống trong hiện tại
nữa. Đó là sự đáng tiếc!
Không
phải ai đi tu cũng thành công
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhiều người trẻ cũng như trí
thức suy ngẫm, tự tâm niệm, cảm nhận đạo Phật và hướng
theo với sự tự giác, sâu sắc. Nhưng có người nhìn vào
đội ngũ tu hành và thấy những người tu theo giáo lý Phật
giáo mà không hành động, sống được như vậy, nên họ thất
vọng và không tin. Phải làm thế nào để giải quyết được
chuyện đó. Chẳng hạn có nhiều tình trạng giữa các nhà
sư đố kỵ hiềm tị lẫn nhau, thượng tọa này nói xấu
hòa thượng kia. Rồi chuyện phân bổ về chùa nọ chùa kia,
ở bên ngoài có chạy chức chạy quyền thì trong những người
tu hành lại có chạy chùa. Làm sao phải để người dân cảm
nhận sự mực thước, trong sáng trong đạo Phật?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Đi tu cũng có thể thành công hay
thất bại. Nếu gặp thầy giỏi, đoàn thể tu tập giỏi thì
có cơ hội thành công dễ dàng hơn. Nếu không gặp được
minh sư thì thất bại như một người tu. Khi mình xuất gia,
mình không sống đúng theo luật nghi thì cũng thất bại. Ở
đạo tràng Mai thôn có tới 3, 400 người, nhưng chúng tôi thực
tập không ai có xe hơi riêng, điện thoại riêng, không có
chương mục ngân hàng riêng, bởi đi tu là không có của riêng
nữa. Một người ra đường, dù đi dạy hay đi tổ chức khóa
tu, kể cả khi lên mạng thì có người khác đi theo. Chúng
tôi thực tập như vậy nên được an ninh rất nhiều.
Những
người Phật tử thấy một thầy ra thuê nhà ở riêng thì
phải biết rằng họ làm sai với giới luật của đạo Phật.
Nếu mình để họ như vậy và yểm trợ, rồi tìm tới với
họ không phải để học hỏi giáo lý, để tu tập mà để
có một sự thỏa mãn về tình cảm là hại cho người xuất
gia đó. Bên phía xuất gia thất bại vì không hướng dẫn
được cho cá nhân người tu sĩ đó. Bên cư sĩ lại không
biết nên đã yểm trợ và dung túng cho hành vi không đúng
của người tu sĩ, khiến họ có thể có lỗi lầm, có thể
lạm dụng tình dục một người cư sĩ. Người tu sĩ trở
thành nạn nhân của sự không thực tập, lỗi một phần ở
tăng đoàn, một phần ở người cư sĩ không biết để giúp
ngăn ngừa. Đạo Phật là đạo thực tập vô ngã, không có
cái ta riêng biệt, người kia cũng là mình. Như bàn tay trái
bàn tay phải có tinh thần vô ngã, bàn tay phải không bao giờ
nói bàn tay trái vô tích sự không làm được gì hết. Mỗi
khi bàn tay trái bị thương thì bàn tay phải chăm sóc như chăm
sóc chính bản thân mình. Hai bàn tay có tuệ giác vô ngã, tuy
hai mà một, không có kỳ thị.
Người
Phật tử mà nắm được tuệ giác vô ngã thì không thấy
cha với con là hai người riêng biệt, mà hiểu trong cha có
con, trong con có cha, con là sự tiếp nối của cha. Nếu cha
đau khổ thì con đau khổ, con hạnh phúc thì cha hạnh phúc,
thấy được đau khổ của cha là đau khổ của chính mình,
hạnh phúc của con là hạnh phúc của chính mình. Người tu
chứng thực được vô ngã thì sẽ không nói xấu những người
khác, không cho mình là nhất. Thấy một vị xuất gia, thượng
tọa, hòa thượng mà dương dương tự đắc thì thấy tội
nghiệp cho họ vì đã tu bao nhiêu năm mà chưa chứng được
tuệ giác vô ngã. Điều này áp dụng cho giới xuất gia cũng
như tại gia. Vấn đề là làm thế nào để có được minh
sư, mở được những môi trường để người tu tập có thể
thành công. Vì ý chí muốn tu học là chuyện khác, thành công
là chuyện khác. Ý chí không thì không đủ.
Thực
tập yêu thương, hạnh phúc, an lạc để thành chân tăng
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Từ ý chí đến kết quả còn
khoảng cách. Làm sao để những điều hay và giá trị tinh
thần cao quý đó phải được lan tỏa vào mỗi con người,
chứ hiện nay tỉ lệ thành công chưa cao? Nhiều người đến
chùa không phải vì nhu cầu tâm linh thiêng liêng mà chủ yếu
vì... mê tín. Họ cầu may để xin thành công trong làm ăn,
đôi khi cả làm ăn bất chính.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Nhiều người nghĩ Phật và các
vị Bồ Tát là thần linh, nếu mình đến cầu nguyện và "đút
lót", cúng cho vị Bồ Tát này mấy chục ngàn đồng, cúng
cho vị Bồ Tát kia mấy chục ngàn đồng là mình về sẽ không
bị tai nạn hay gặp tai hoạ nào trong cuộc sống nữa. Hiểu
như vậy là hiểu lầm về đạo Phật. Nhưng sở dĩ họ hiểu
lầm như vậy, một phần cũng là do các thầy, các sư cô và
các vị cư sĩ đứng ở cương vị lãnh đạo, nên mình cũng
không thể trách cứ những người dân thường được.
Nhiều
người lại nghĩ nhầm rằng khi gặp thất bại trong cuộc
đời rồi thì mới xuất gia. Ngày xưa, đức SIDDHARTHA xuất
gia là bởi muốn tìm tình yêu thương lớn dành cho muôn người,
muôn loài. Hay vua Trần Nhân Tông, một vị vua rất yêu nước
yêu dân cũng xuất gia, và khi xuất gia rồi vẫn phục vụ
cho nước cho dân. Vậy mà có những gia đình thấy con xin đi
xuất gia thì cảm giác như đó là một nỗi nhục nhã. Quan
niệm thất bại rồi mới đi xuất gia là một quan niệm rất
sai lầm.
Quan
niệm đó từ đâu tới? Đó là bởi đã có những thời điểm
trong lịch sử mình cho chuyện đi tu là duy tâm, mê tín, tư
duy không lành mạnh. Chúng ta cũng có một phần trách nhiệm
trong sự tư duy như vậy. Tôi nghĩ rằng muốn thay đổi suy
nghĩ này thì phải thiết lập những tăng thân - những đoàn
thể tu học đúng mức mà trong đó, đạo Phật được thực
tập như một nghệ thuật sống, mỗi người thực tập trong
tăng thân đều được an lạc, hạnh phúc, được thương yêu.
Khi có được những tăng thân như thế ở cả 3 miền để
những người quan tâm có thể tới tiếp cận để trực tiếp
tiếp xúc và thấy được đạo Phật thật sự mà họ cần
phải hướng tới là đạo Phật hiện đại, phù hợp với
tuổi trẻ và đời sống mới. Trong đạo Phật, sau khi qui
y Phật, qui y Pháp thì còn cần qui y Tăng nữa. Tăng ở đây
có nghĩa là "community" - là đoàn thể trong đó có người xuất
gia - xuất gia tăng, có người tại gia - tại gia tăng. Khi mình
tới với nhau để tu học mà thành công được thì hạnh phúc
đạt được rất lớn, Tăng trở thành chỗ nương tựa cho
nhiều người.
Quy
y Tăng không phải là đặt niềm tin vào một cái gì đó mơ
hồ mà Tăng là đoàn thể đang thực tập hạnh phúc, có tha
thứ, có vô ngã, có vô thường. Trong Tăng có Phật và có
Pháp. Còn Tăng mà có sự ganh tỵ, chỉ có hình thức bên ngoài
như cúng lạy thôi mà không có hạnh phúc, không có tha thứ,
không có sự tươi mát của tâm hồn và lắng nghe nhau thì
đó không phải "chân Tăng", do đó không có Phật và không
có Pháp ở đó.
Việc
làm của chúng tôi bây giờ là thiết lập những tăng thân
ở khắp nơi trên thế giới. Ở Tây phương, chúng tôi đã
xây dựng được trên 1000 tăng thân, là nơi nương tựa của
không biết bao nhiêu người. Ở mỗi thành phố lớn như London,
New York, Los Angeles chúng tôi có trên 10 tăng thân như vậy.
Tôi nghĩ, ở Hà Nội cũng nên có ít nhất 10 tăng thân, và
mỗi tăng thân phải chứa đựng trong mình Phật-Pháp mang tính
đời sống cụ thể hàng ngày. Xây dựng những tăng thân như
vậy là công việc cao quí nhất của người Phật tử, tại
vì đó là chỗ để con người tới để nương tựa, được
che chở và bảo vệ.
"Doanh
nghiệp Tăng, gia đình Tăng và… Quốc hội Tăng"?
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Nói như vậy thì một tổ chức,
một công ty có thể trở thành một tăng, một cộng đồng?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Doanh nghiệp mà thực tập theo
Phật -Pháp thì thành doanh nghiệp Tăng. Một gia đình thực
tập theo kiểu đó là gia đình Tăng. Khi tôi gặp ngài Chủ
tịch Quốc hội Ấn Độ, chúng tôi có bàn luận làm sao để
xây dựng quốc hội thành một đoàn thể mà ở đó mọi người
lắng nghe nhau, vì trước đó tôi nghe có những buổi đàm
luận rất bạo động, có khi một dân biểu nổi cáu đến
mức cầm ghế phang một dân biểu khác.
Ở
nước ngoài, một dân biểu thường thuộc một đảng và phải
nói theo đường lối của đảng mình, nên mình không được
hoàn toàn tự do nói kinh nghiệm sâu sắc của mình khi nói,
nếu mình lại dùng ngôn từ nặng nề thì sẽ làm phía bên
kia nổi giận lên, rồi chửi mắng lại. Như vậy thành ra
không có ái ngữ, không có lắng nghe. Trong khi đó, dân biểu
phải hiểu rằng dân chúng bầu mình lên là để lắng nghe
và để chia sẻ kinh nghiệm, tuệ giác của mình, để làm
ra những đạo luật cho tất cả mọi người được thừa
hưởng.
Tôi
đề nghị với ông Chủ tịch Quốc hội Ấn Độ rằng trước
mỗi buổi họp Quốc hội thì nên đọc một bài quán niệm,
nên thực hành một bài thiền, đọc một đoạn văn về bổn
phận của người dân biểu là những người được dân chúng
bầu lên, chúng ta có bổn phận phải lắng nghe nhau, học hỏi
từ nhau để có thể đi tới những quyết định đúng đắn
nhất, mang lại hạnh phúc cho nhân dân và đất nước. Do đó,
trong phiên họp này, mọi người phải lắng nghe nhau, sử dụng
ngôn từ hòa ái, đừng tức giận, đừng buộc tội, đừng
chua chát, đừng lên án nhau. Ông Chủ tịch của buổi họp
có một cái chuông, để khi thấy không khí của buổi họp
căng thẳng, nóng bỏng, tranh chấp thì ông có thể thỉnh một
tiếng chuông cho mọi người thở vào thở ra, khi nào lắng
xuống thì mới tiếp tục phát biểu.
Chủ
tịch Quốc hội Ấn Độ rất thích thú với đề nghị này,
và 10 ngày sau đã cho xây dựng "Ủy ban Đạo đức" để lo
lắng cho Quốc hội. Ngài có mời tôi trở về để nói chuyện
với toàn Quốc hội về ái ngữ và lắng nghe, nhưng tôi đã
không có cơ hội trở lại. Sau này, ngài Chủ tịch Quốc hội
đã trở thành Tổng thống của Ấn Độ.
Một
quốc hội cũng có thể trở thành một quốc hội tăng, trong
đó mọi người lắng nghe nhau, hiểu nhau và như vậy có lợi
cho đất nước.
Súng
bom không bao giờ lấy đi được những tri giác sai lầm
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn:
Thế quốc hội Mỹ đã trở thành một quốc hội tăng chưa,
thưa thiền sư?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chưa, và còn lâu lắm. Chúng tôi
cũng mong muốn Liên hợp quốc sẽ trở thành Liên hợp quốc
tăng vì khi đó mọi lời nói, việc làm sẽ vì lợi ích chung
của toàn thế giới. Tôi nghĩ Liên minh châu Âu là một sự
thành công lớn vì nước nào cũng hy sinh bớt quyền lợi quốc
gia để cho một Âu châu chung. Nghĩa là, họ đã thực tập
đạo Phật mà họ không biết.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Nhưng phải chăng vì sự hy sinh
quyền lợi quốc gia như vậy, mà ngày nay vị thế của Liên
minh Châu Âu trên thế giới bị kém đi, mỗi nước châu Âu
sẽ vì thế mà bị thiệt hại hơn. Thiền sư nghĩ sao về
điều này?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi không nghĩ như vậy. Bởi nếu
từng quốc gia châu Âu riêng lẻ sẽ không đủ mạnh để
là đối trọng với Hoa Kỳ.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa thiền sư, Phật-Pháp dạy
rằng các đệ tử của nhà Phật thì phải yêu thương lẫn
nhau. Vậy mà vẫn có những đất nước, dân tộc cùng theo
đạo Phật nhưng vì lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia xung
đột, nên vẫn tồn tại tình trạng nước này ăn hiếp nước
khác. Việt Nam ta cũng là một đất nước đi theo đạo Phật
mà có khi vẫn bị ăn hiếp bởi một nước khác cũng theo
đạo Phật, và họ vẫn chưa thực sự yêu thương, trải lòng
với ta? Có cách nào để Phật-Pháp đi vào lòng mỗi người,
mỗi dân tộc để mỗi quốc gia sẽ yêu thương, trân trọng
và đối xử hữu nghị với các quốc gia khác, để thế giới
này không còn cảnh hận thù, chiến tranh?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Nếu họ nói họ theo đạo Phật
mà họ lại biến mình thành thế lực xâm lăng, có chủ trương
xâm chiếm đất đai của người khác thì họ chỉ có đạo
Phật trong danh từ, trong hình thức thôi. Do vậy, mình có thể
nói thẳng với họ điều này, và hỏi thẳng họ rằng: "Từ
bi của ông ở đâu? Tình huynh đệ của ông ở đâu? Tại
sao ông lại đi xâm chiếm một nước khác? Đó có phải là
chủ trương hoà bình của đức Thế Tôn hay không?"
Các
Phật tử trên thế giới đã cố gắng lập ra "World Fellowship
of Buddhiste" - Liên minh Phật tử thế giới để điều hợp
các hành động tu tập trên thế giới này. Tôi thấy rõ rằng
đạo Phật có nhiều cách để đi vào mọi lĩnh vực của
sự sống, rằng sự thực tập lắng nghe và ái ngữ có thể
áp dụng trong bất cứ trường hợp nào để tạo ra sự hòa
giải.
Như
cuộc chiến tranh Iraq chẳng hạn. Nguyên nhân căn bản của
nó là sự hiểu lầm và những tri giác sai lầm, dẫn đến
sự sợ hãi và oán thù, vì thế mà phải loại trừ nhau, để
đạt được an ninh. Nếu mình nghĩ rằng người kia đang muốn
giết mình, thì mình sợ, mà bản thân mình không muốn bị
giết, do đó mình phải giết người ta trước khi người đó
giết mình. Cái đó là tình trạng hiện nay ở Iraq.
Cái
sợ hãi do tri giác sai lầm mà ra. Hoa Kỳ có những tri giác
sai lầm về mình và người Ả rập. Người Ả Rập cũng có
những tri giác sai lầm về mình và về Hoa Kỳ. Do đó chiến
tranh xảy ra dựa trên những tri giác sai lầm của cả hai phía.
Tri giác sai lầm luôn luôn mang đến nghi ngờ, sợ hãi và bạo
động. Ta biết rất rõ trong ánh sáng của đạo Phật, muốn
cho đừng có những nghi ngờ, bạo động, sợ hãi đó thì
phải lấy những tri giác sai lầm ra, bằng cách đối thoại
và lắng nghe nhau, phải nói với nhau những lời mà người
kia có thể hiểu được. Còn súng, bom... không bao giờ lấy
đi được những tri giác sai lầm cả.
Thành
ra, càng đánh dẹp khủng bố bao nhiêu thì càng tạo nên những
người khủng bố bấy nhiêu. Thực tế đã cho thấy, bao nhiêu
năm tiêu diệt khủng bố mà có bớt người khủng bố đi
đâu? Tại vì, họ không hiểu rằng phương pháp để tiêu
diệt khủng bố chính là lấy ra những sợ hãi, căm thù, bạo
lực, bằng tình người và bằng sự lắng nghe nhau. Phải có
những buổi gặp gỡ, để lắng nghe những sợ hãi, khổ đau
của nhau. Rồi từ đó, có cơ hội nói cho bên kia hiểu chúng
tôi không có chủ đích muốn tiêu diệt các vị như một tôn
giáo, một nền văn minh, một lối sống. Quý vị đã hiểu
lầm. Chúng tôi đã nói, đã làm gì gây ra cho quí vị cảm
tưởng đó thì chúng tôi xin lỗi. Chúng tôi sẽ không nói,
không làm như vậy nữa. Đó là phương pháp duy nhất để
mang lại hòa bình và là phương pháp thuần tuý từ đạo Phật
mà đi ra.
Khi
nói chuyện với những doanh nhân, nhà chính trị,... ở Hoa
Kỳ, chúng tôi cũng chỉ nói như vậy thôi. Chúng tôi đã từng
bảo trợ cho những gia đình người Palestine, Do Thái tới Làng
Mai để tu học. Ban đầu, họ nhìn nhau không được vì rất
nghi kị và sợ hãi nhau. Nhưng sau những tuần lễ thực tập
để buông thư, ôm ấp, nhận diện những sợ hãi đó và mọi
người thực tập lắng nghe, mục đích là để hai bên nói
được hết những khổ đau, sợ hãi, lo lắng của họ mà
không bị cắt lời. Sau vài 3 buổi thì hai bên sẽ hiểu rằng:
"À, hoá ra bên kia cũng giống hệt bên mình, cũng có những
sợ hãi, khổ đau, lo lắng như vậy...", và họ có thể bắt
đầu nhìn bên kia bằng con mắt cảm thông, nhận ra những
tri giác sai lầm tồn tại, để từ từ gửi những thông tin
để giúp cho bên kia tháo gỡ, điều chỉnh lại những tri
giác sai lầm. Và họ ngồi ăn cơm, nắm tay nhau đi thực tập
được.
Khi
trở về Trung Đông, họ đã thực tập, họ lập ra những
tăng thân để cho những người khác tới cho bớt khổ. Chúng
tôi đã làm được điều đó. Chứng tỏ rằng, mối quan hệ
giữa 2 quốc gia Palestine và Israel cũng có thể cải thiện.
Tương tự, mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Iraq cũng có thể
thay đổi được nếu áp dụng phương pháp này của đạo
Phật.
"Tôi
nghĩ, TT Bush là một trong những người đau khổ nhất trên
thế giới"
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thiền sư nghĩ thế nào về trường
hợp của tổng thống Bush ở Hoa Kỳ? Liệu ông Bush có thể
thực tập theo phương pháp của nhà Phật thành công được
không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi nghĩ, Tổng thống Bush xuất
thân từ bối cảnh tôn giáo bảo thủ, và lực lượng của
TT Bush là một lực lượng bảo thủ. Những người bảo thủ
đứng sau TT Bush, và những người cố vấn, cộng sự của
TT Bush cũng đại diện cho quyền lợi của những người đó
thành ra rất khó. Tôi đã từng viết thư cho TT Bush nhưng không
lọt đến tay ông được. Tôi nghĩ, TT Bush là một trong những
người đau khổ nhất trên thế giới. Ông ta không ngủ ngon
được, sẽ bị trăn trở hàng đêm. Làm sao ngủ ngon được
khi biết rằng con em của mình mỗi ngày đều bị chết ở
Iraq. Những người Iraq và những người Mỹ chết mỗi ngày
một nhiều, hận thù ngày một nhiều và ông ta sa lầy trong
chiến tranh Iraq. Nuốt cũng không vào mà khạc ra cũng không
được.
Nhiều
người nghĩ rằng ở cương vị của TT Hoa Kỳ, hẳn ông Bush
sẽ có rất nhiều quyền lực. Nhưng tôi thấy TT Hoa Kỳ là
một người rất bất lực, với quyền năng đó, quân đội
đó, với nền kinh tế đó mà không thể làm được gì để
giải quyết những vấn đề như vấn đề Iraq. Quyền năng
trên thế gian không đủ đưa lại hạnh phúc. Phải có quyền
năng tâm linh, nghĩa là khả năng hiểu và khả năng thương,
mà những điều này thì TT Bush không có đủ.
Tôi
nghĩ, nếu ứng cử viên Obama mà lên được TT Mỹ thì khả
năng không kỳ thị ở nước Mỹ là rất lớn. Nó chứng tỏ
nước Mỹ không kỳ thị người da đen, không kỳ thị người
trẻ. Do đó, nó thể hiện một hình ảnh mới của Hoa Kỳ.
Với
ông Obama, những người trí thức, những người tiến bộ
có một cơ hội để có thể mong muốn lý tưởng công bằng
xã hội, lý tưởng đổi mới, không kỳ thị được thực
hiện trong xã hội Hoa Kỳ.
Bạn
đọc Phan Dũng (Hà Nội): Làm thế nào để tĩnh tâm,
giữ bình yên thanh thản trong nền kinh tế hiện tại khi mà
cái tham lam dục vọng của con người ngày càng nhiều? Trong
cuộc sống hiện đại, nhiều khi con người muốn sống thiện
cũng rất khó vì sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt. Vậy
thiền sư hãy chỉ cho tôi cách nào để tránh những cái ác,
cái tà tâm mà vẫn có thể phát triển bản thân và góp phần
phát triển xã hội?"
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi nghĩ rằng mình không cần
đua đòi, đừng nghĩ phải có tiện nghi như mọi người khác
trong xã hội thì mới có hạnh phúc. Chúng tôi là những người
xuất gia, chúng tôi sống trong cộng đồng 300 - 400 người,
sống rất đơn giản. Không ai có xe riêng, không ai có điện
thoại riêng, không ai có tài khoản ngân hàng riêng, chúng tôi
tiêu thụ rất ít nhưng hạnh phúc chúng tôi có rất lớn.
Chúng tôi có rất nhiều tình huynh đệ và trong cuộc sống
chúng tôi giúp được rất nhiều người.
Điều
đó chứng tỏ rằng không phải mình phải có rất nhiều tiền
bạc, quyền hành, bằng cấp thì mới có hạnh phúc. Nếu mình
thấy được con đường như vậy thì mình không sợ hãi nữa.
Mình thấy rằng mình có khả năng sống đơn giản và hạnh
phúc. Đó chính là con đường sống hạnh phúc của chúng ta,
của không chỉ người Việt Nam mà còn của nhiều người
trên thế giới.
Ở
tu viện Lộc Uyển, chúng tôi không dùng điện nữa. Trong một
cộng đồng mấy trăm người, chúng tôi chỉ dùng năng lượng
mặt trời thôi cũng đủ sống. Chúng tôi không dùng xăng,
mà dùng dầu ăn người ta thải ra để chạy xe hơi của chúng
tôi. Chúng tôi không ăn thịt, không ăn cá, không uống bia,
không dùng các sản phẩm sữa, pho-mát, bơ... Vậy mà chúng
tôi rất mạnh khoẻ. Chúng tôi rất hài lòng vì sống như
thế là cách góp phần để trái đất có một tương lai.
Đứng
lo lắng thái quá về lạm phát
Bạn
đọc Lê Đình Thuận (Thanh Hoá): Về Việt Nam lần này,
Thiền sư thấy đất nước có những sự thay đổi nào? Việt
Nam đang phải đối mặt với những khó khăn như lạm phát,
thiền sư có suy nghĩ về giải pháp nào không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Lần này, về Việt Nam, chúng tôi
có tiếp xúc với rất nhiều bạn trẻ và các phật tử, thì
tôi thấy có những đau khổ mới, bức xúc mới. Cùng với
sự phát triển kinh tế thì các tệ nạn xã hội tăng thêm
mà luật pháp không đủ để khống chế. Bên cạnh luật pháp,
cần phải có đạo đức xã hội. Phải làm sao để đưa đạo
đức vào từng gia đình, phải đưa sự thực tập vào từng
gia đình để giảm thiểu những tệ nạn xã hội đó.
Khi
400 người thanh niên, phật tử quì xuống để tiếp nhận
5 giới ở tu viện Bảo Lộc và 300 thanh niên quì xuống để
tiếp nhận 5 giới ở tu viện Bằng A, chúng tôi biết rằng
những người này có một con đường. Đó là con đường của
yêu thương, của sự thực tập để bảo hộ mình và gia đình
mình khỏi rơi vào những tệ nạn xã hội như ma tuý, cờ
bạc, tà dâm...
Về
chuyện lạm phát, tôi có kiến giải thế này. Chúng ta phải
đối diện với sự sợ hãi, lo lắng của chúng ta. Nếu chúng
ta biết chấp nhận nhau, yêu thương nhau, lá lành đùm lá rách,
đừng lợi dụng để làm giàu riêng, đừng đầu cơ thì chúng
ta có đủ khả năng để đi qua được cuộc khủng hoảng
kinh tế này.
Do
vậy, lạm phát nhiều hay ít, có đi qua được lạm phát hay
không phụ thuộc rất nhiều vào cách suy nghĩ của chúng ta
chứ không chỉ vào yếu tố kinh tế khách quan. Sự lên xuống
của đồng đôla phụ thuộc phần nhiều vào sự lo lắng của
chúng ta mà thôi. Thành thử ra, đừng lo lắng quá, đừng làm
cho tình trạng nguy ngập thêm vì sự lo lắng sợ hãi của
chính chúng ta. Đó chính là điều chúng tôi muốn nói.
Mỗi
người là một phần của sự nghiệp lớn của dân tộc
Bạn
Nguyễn Tuấn Anh: …Câu hỏi ở đây là ý chí của
dân tộc, hồn thiêng của sông núi, vận mệnh của Tổ quốc,
của dân tộc Việt Nam, theo Thiền sư có MỘT lần nữa sẽ
lại tích tụ, lại sinh ra một cá nhân kiệt xuất, một người
con dân đất Việt với TÂM HỒN TRONG SÁNG NHƯ PHA LÊ và có
một TRÍ TUỆ PHI THƯỜNG, như một lãnh tụ tinh thần dẫn
dắt dân tộc Việt Nam vươn lên một cách thần kỳ, ngoạn
mục?
Trong
thâm tâm của mình, đã có lúc nào Thiền sư nghĩ đến điều
kỳ diệu đó chưa? Tại Việt Nam đã có hay chưa NGƯỜI đó,
trong dịp này Thiền sư có nghĩ rằng, có mong rằng mình có
NHÂN DUYÊN gặp NGƯỜI đó không? Nếu gặp, Thiền sư sẽ
đàm đạo với NGƯỜI đó về những vấn đề gì? Là một
nhà tu hành, Thiền sư quan niệm như thế nào về sự kỳ diệu
nói chung và sự kỳ diệu trong nền kinh tế tri thức, kỷ
nguyên của Internet và Công nghệ thông tin nói riêng? Thành
tâm cảm tạ thiền sư.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi có ý thức rằng dân số VN
giờ này đông hơn dân số Pháp, và đều rất trẻ. Khi về
VN, tiếp xúc với người trẻ nào tôi cũng nhìn bằng con mắt
đặc biệt: "Người trẻ này có thể là người đặc biệt
đó". Tuổi trẻ bây giờ rất thông minh, và bất cứ người
trẻ nào cũng có thể trở thành một vĩ nhân được.
Và
tôi muốn trao truyền cho mỗi người trẻ toàn bộ những kinh
nghiệm mà mình có, để họ trở thành tương lai của đất
nước. Tôi rất lạc quan, vì gia tài tâm linh của mình rất
lớn. Tôi không nghĩ nhiều đến chủ nghĩa anh hùng cá nhân.
Chúng ta thành tựu được một sự nghiệp không phải do 1
người mà do nhiều người hợp sức. Một vị lãnh tụ không
phải tự nhiên xuất hiện mà do khí thiêng của sông núi,
do những người phụ tá hỗ trợ.
Như
lúc nãy tôi nói, ông Bush không phải chỉ là cá nhân ông ta,
mà muốn hiểu ông ta thì phải hiểu hoàn cảnh của ông ấy,
bạn bè, phụ tá của ông ấy.
Ở
Việt Nam cũng vậy, phải nhìn vào quá khứ dân tộc Việt
Nam, nhìn vào những người cộng sự thì mới thấy được
cụ Hồ. Thành ra tôi không để ý quá đến anh hùng cá nhân.
Khoa
học thần kinh não bộ đã khám phá ra rằng, không có tế
bào nào là tế bào làm lãnh tụ hết. Tất cả các tế bào
đều hoạt động trong một bản "đại hoà tấu" và không
có nhạc trưởng. Khi tới với nhau thì tự nhiên có những
cảm xúc, tư duy và vì vậy khoa học đã chứng tỏ được
tuệ giác vô ngã trong đạo Phật.
Đây
là một cái nhìn của đạo Phật về đất nước. Mỗi người
trong chúng ta đều có tài năng, phần đóng góp của mình.
Và khi chúng ta tới với nhau được bằng tình huynh đệ, bằng
tinh thần đồng bộ thì ta làm ra việc lớn thôi. Tôi không
nghĩ đến cảnh một người hướng dẫn tất cả mọi người
đi theo, mà mỗi người cũng là một phần của sự nghiệp
lớn. Tôi nghĩ rằng tư duy này nó đúng với khoa học hơn,
đúng với tinh thần Phật giáo hơn.
"Nhà
báo đang thực hành Phật-Pháp như một người chân tu"
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thiền sư có chia sẻ gì với những
nhà báo về tinh thần Phật giáo?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi tiếp xúc rất nhiều
với các nhà báo, những người làm phim và làm phóng sự.
Chúng tôi không muốn chỉ cung cấp thông tin cho họ, vì cung
cấp thông tin không thì không đủ. Do đó chúng tôi cố gắng
thiết lập mối liên hệ tình người với họ. Nếu các vị
có khả năng lắng nghe, nhìn được bằng con mắt của từ
bi, tha thứ, thương yêu thì quí vị có thể viết một bài
phóng sự sâu sắc. Người đọc của quí vị cũng sẽ có
cơ hội tưới tẩm hạt giống thương yêu, tha thứ, hiểu
biết, chấp nhận. Còn nếu quí vị viết trên căn bản sợ
hãi, hận thù thì bạn đọc cũng sẽ cảm nhận được điều
đó.
Do
vậy, mỗi nhà báo đều có thể hành nghề ký giả như một
vị Bồ Tát, mang yêu thương, hạnh phúc cho độc giả bằng
cách tường thuật những gì đã nghe và đã thấy. Nhà báo
cần phải được bình an trong trái tim, nhà báo phải có khả
năng nhìn cho thật kỹ, lắng nghe cho thật rõ để hiểu nguồn
cơn tại sao sự việc ấy lại xảy ra như thế này, hay như
thế khác. Như vậy, nhà báo đang thực hành Phật-Pháp như
một người chân tu.
Trong
con người chúng ta có một chiến sĩ, một nghệ sĩ và một
tu sĩ. Và nếu chúng ta để cho cả 3 con người đó hoạt động
cùng lúc với nhau thì chúng ta sẽ trở nên hạnh phúc. Nhà
chiến sĩ muốn thành công, nhà nghệ sĩ phải làm thế nào
cho đẹp và người tu sĩ phải tham dự vào đời sống để
có khả năng tháo gỡ những đau khổ, khó khăn. Nhà báo sẽ
thành công nếu để cho nhà chiến sĩ, nghệ sĩ, chân tu có
cơ hội đóng góp vào sự nghiệp của mình.
Những
ai sẽ tiếp nối trọng trách của thiền sư Thích Nhất Hạnh?
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thiền sư là một người có uy
tín, có ảnh hưởng ở trong nước và quốc tế, đã truyền
bá hình ảnh Việt Nam ra thế giới. Chúng tôi mong sẽ có những
người tiếp nối trọng trách này của thiền sư. Vậy trong
những hậu duệ thì thiền sư trông đợi vào những ai?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi may mắn có nhiều học trò
xuất gia và tại gia mà tôi rất tin tưởng. Những năm gần
đây thì học trò của tôi đã được gửi đi khắp nơi trên
thế giới để tổ chức những khoá tu. Và họ đã chứng
tỏ được họ có thể độ đời và giúp đời rất nhiều.
Cho nên tôi rất an tâm. Nếu tối nay tôi phải thở hơi thở
cuối cùng thì tôi cũng không tiếc nuối gì, bởi tôi nghĩ
mình được tiếp nối xứng đáng. Tôi nghĩ rằng bố mẹ
nào cũng có tâm trạng đó, thầy giáo, cô gíáo nào cũng có
tâm trạng đó. Để tâm đến thế hệ tương lai, trao truyền
cho thế hệ tương lai những gì quí nhất của mình là sứ
mệnh rất quan trọng. Mai mốt, mình cũng phải từ giã cõi
đời này thôi. Nên nếu mình bận rộn quá mà không trao truyền
được cho con cháu mình và học trò, đệ tử của mình những
gì quí giá thì tức là mình chưa làm tròn bổn phận của
một người con, một công dân.
Tôi
xin khuyên các vị làm cha mẹ, làm thầy bớt bận rộn lại
để có thì giờ ngồi với các con, cháu của mình, học trò
của mình mà dùng ngôn từ thương yêu, ái ngữ, trao truyền
tất cả những thương yêu, kinh nghiệm sống cho họ. Khi đó,
mình có thể rời bỏ cuộc đời này không luyến tiếc.
Tìm
hạnh phúc cho dân, cho nước từ văn hoá tâm linh?
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Thưa thiền sư, thiền sư có suy
nghĩ gì về tương lai của đất nước Việt Nam ta, ít nhất
là trong 10 năm tới?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi nghĩ, chúng ta phải tận dụng
nền văn minh tinh thần của chúng ta mà đừng quá tin tưởng
vào xã hội tiêu thụ Tây phương. Người Tây phương bây giờ
khổ lắm, nhiều người tiền bạc rất nhiều, quyền lực
rất lớn nhưng lại cực kỳ cô đơn, và phải tự tử. Chúng
ta đừng theo dấu xe đổ của họ. Đừng tin rằng ta chỉ
hạnh phúc nếu có tiền bạc, quyền lực...
Chúng
ta chỉ hạnh phúc khi có an trong lòng, có tình yêu và tình
thương. Nếu chúng ta có thể an lạc trong từng giây phút của
hiện tại thì chúng ta mới có thể có hạnh phúc. Vì vậy,
chúng ta hãy trở lại kho tàng tuệ giác, văn minh của chúng
ta đã có mà làm hạnh phúc cho dân, cho nước.
Một
điều rất rõ là trong 30, 40 năm vừa qua, chúng tôi đã sử
dụng kho tàng tuệ giác đó của dân tộc Việt Nam để mang
lại hạnh phúc cho biết bao người Tây phương. Tại sao họ
có được hạnh phúc nhờ nó mà chúng ta thì không? Mình là
chủ nhân của nền văn hoá tâm linh đó mà không khai thác
được thì rất lãng phí. Chúng ta phải tu tập, học hỏi.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Giá trị tâm linh đó có phải
là một trong những giá trị đặc sắc của Việt Nam đóng
góp với kho tàng văn minh nhân loại không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Đúng như vậy. Chúng tôi đã truyền
bá văn hoá đó, nếp sống, văn minh tinh thần đó trên thế
giới. Mỗi khi người ta tu tập, nghe đến truyền thống đó,
đọc sách đó thì ai cũng biết gốc của nó là từ Việt
Nam. Nhà báo Nguyễn Anh Tuấn: Bạn đọc Phan Công Tuấn gửi
đến VietNamNet kèm một đề xuất rất dài về vấn đề:
Tệ nạn giao thông đang là một vấn đề lớn của người
Việt Nam hiện nay. Đề nghị thiền sư tổ chức những khoá
tu tập để giúp cho người Việt Nam có ý thức hơn trong việc
tham gia giao thông, Trong 2 tháng ở VN, thiền sư có kế hoạch
gì cho việc này không?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Chúng tôi có thể đề nghị một
vài ý tưởng cụ thể thế này: Người nào muốn có bằng
lái thì phải qua một khoá tu 7 ngày, học về chánh niệm trong
khi lái xe, học về phương pháp theo dõi hơi thở khi muốn
lái xe hay muốn vượt một xe khác. Và cứ 6 tháng thì phải
về tu tập 3 ngày trong một khoá tu như vậy để được nhắc
nhở. Bộ Giao thông nên làm việc này, có những thầy, những
sư cô sẽ tình nguyện giảng dạy không lấy tiền. Đó là
một trong những điều chúng tôi có thể đề nghị được.
Cố
nhiên những người bị say không nên lái xe, do vậy thực tập
5 giới giúp mình trở thành người lái xe lý tưởng. Vấn
đề là phải tổ chức sao để mọi người được nhắc nhở
thường xuyên, và nếu không đi theo những lớp tu nghiệp như
vậy thì không có quyền sử dụng bằng lái xe của mình mãi
mãi. Xin bộ Giao thông lắng nghe!
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Câu hỏi cuối cùng, thiền sư
trông đợi gì ở đại lễ Phật đản Vesak tổ chức ở VN
trong vài ngày tới?
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh: Tôi thấy đây là một vinh dự lớn.
Phật tử bốn phương tới để tham dự sẽ thấy rằng Việt
Nam đang trên con đường mở ra và đi lên. Chúng tôi trong dịp
này đã cố gắng để đóng góp phần mình vào đại lễ.
Chúng tôi đã đưa về chừng 500 thiền sinh ngoại quốc từ
40 quốc tịch. Trước khi vào tham dự đại lễ Phật đản,
chúng tôi có một khóa tu "Đạo Phật đi vào cuộc đời" tu
tập suốt 7 ngày, 7 đêm cho người nước ngoài. Rồi chúng
tôi sẽ đem năng lượng đó, nội dung đó đi vào trong lễ
Phật đản. Lễ Phật Đản này sẽ có nội dung rất sâu sắc
chứ không phải chỉ có hình thức thông thường. Và trong
lễ Phật Đản sẽ có những buổi hội đàm về những vấn
đề nóng bỏng của thế giới như chiến tranh, hoà bình, năng
lượng, môi trường, bạo động, căm thù... Các thiền sinh
của chúng tôi đã được học hỏi nhiều năm sẽ tham dự
vào các buổi tọa đàm như vậy. Tôi tin rằng đây là lần
đầu tiên một lễ Phật Đản có nội dung rất là sâu sắc
được tổ chức.
Nhà
báo Nguyễn Anh Tuấn: Cảm ơn thiền sư. Hy vọng những
giá trị tinh thần cao quí của Phật giáo sẽ đi vào đời
sống của dân tộc Việt Nam và lan tỏa trên thế giới, để
dân tộc Việt Nam có nhân cách tốt, được bạn bè thế giới
yêu mến, trân trọng. Xin cảm ơn Thiền sư đã tham dự bàn
tròn với bạn đọc VietNamNet.
http://www.tuanvietnam.net//vn/tructuyenvoitop/3665/index.aspx
05-08-2008
12:23:14
PHỎNG
VẤN THIỀN SƯ NHẤT HẠNH
Bùi
Dũng
 |
 |
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh đã vận dụng giáo lý đạo Phật như
thế nào để mong muốn hòa giải lòng người, thống nhất
dân tộc? Và trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, đạo Phật
đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng nhân cách, lối
sống và giữ gìn văn hóa dân tộc?
Hình
ảnh trong Bàn tròn trực tuyến giữa VietNamNet và Thiền sư
Thích Nhất Hạnh
“…Năm
xưa khi đi ra ngoài để kêu gọi hòa bình, tôi có viết cuốn
Hoa Sen Trong Biển Lửa (Lotus in sea of the fire) bằng tiếng Anh,
được dịch ra nhiều thứ tiếng. Tôi nói rằng chiến tranh
Việt Nam biến thành biển lửa nhưng mà có sức sống tâm
linh trong đó, thành thử trong biển lửa nó có một sự kháng
cự và có một đài hoa sen mọc lên mà không bị cháy trong
lửa. Cái đó là đạo Phật của Việt Nam, cái đó là yếu
tố làm cho mình không bị ngập tràn bởi bạo động, bởi
căm thù, bởi chiến tranh…”
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh và TBT VietNamNet Nguyễn Anh Tuấn
Đó
là lời của thiền sư Thích Nhất Hạnh, người đứng đầu
Thiền Phái Tiếp Hiện (còn gọi là “An trú trong hiện tại”)
trong
cuộc trò chuyện với Vietimes (chuyên trang của VietNamNet)
tại thiền viện Bát Nhã – Lâm Đồng, năm ngoái.
Trong
những năm đất nước bị phân cắt, đặc biệt là giữa
thập kỷ 60 của thế kỷ trước, Sư ông Thích Nhất Hạnh
từng rất nổi tiếng vì những hành động phản chiến và
tham gia lãnh đạo phong trào Phật giáo phản chiến.
Năm
1966, dưới áp lực của chính quyền Việt Nam Cộng hòa, ông
đã từng bị phải sống lưu vong. Từ đó đến giờ, đạo
tràng Làng Mai tại Pháp và giáo phái Tiếp Hiện của thiền
sư Thích Nhất Hạnh đã có sự lan tỏa mạnh mẽ ở phương
Tây.
Triết
lý của Thiền sư Nhất Hạnh đã cho con người phương Tây
nhận ra con đường giúp họ thoát khỏi bế tắc và sự u
uẩn của đời sống tinh thần trong một xã hội hậu hiện
đại. Và triết lý này cũng cần thiết với đời sống tinh
thần của người Việt Nam nói chung, và giới chuyên gia, doanh
gia nói riêng trước những đe doạ của một nhịp sống công
nghiệp ngày một hối hả.
Năm
2005, trong chuyến trở về Việt Nam đầu tiên kể từ khi đất
nước thống nhất, thiền sư Thích Nhất Hạnh đã từng có
rất nhiều nỗ lực “xóa khổ đau” của một dân tộc nhiều
phân ly loạn lạc; xóa bỏ định kiến để con người gần
nhau hơn bằng tình yêu thương và hiểu biết.
Lần
trở về thứ nhì năm ngoái, với “Đại trai đàn giải oan”
được tổ chức ở cả ba miền Nam – Trung – Bắc, ông hoan
hỉ nhận thấy: “Việt Nam ngày một cởi mở và tiến bộ
hơn”. Mỗi lần trở về và “ở lại” của ông trên
đất Việt là mỗi lần cố gắng kéo người Việt gần nhau
thêm để dân tộc thực sự hòa giải và thống nhất.
“Chúng
tôi dùng hình thức lắng nghe và ái ngữ để dung hoà và kêu
gọi hòa giải. Quan điểm của tôi là ôm lấy cả hai bên,
không gây thù oán. Tình thương đích thực có chất liệu của
sự kiên nhẫn và không có kỳ thị” (Người Viễn xứ
- chuyên trang của VietNamNet).
Dùng
tình thương để xóa bỏ hận thù là tinh thần, là triết
lý của Phật giáo. Nhập thế một cách hữu hiệu nhất của
người hiểu Phật pháp là lan tỏa tinh thần tốt đẹp của
đạo Phật để giúp con người làm được nhiều điều tốt,
sống có ích hơn trên thế gian này.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh đã vận dụng giáo lý đạo Phật như
thế nào để mong muốn hòa giải lòng người, thống nhất
dân tộc? Và trong cuộc sống của chúng ta ngày nay, đạo Phật
đóng vai trò như thế nào trong việc xây dựng nhân cách, lối
sống và giữ gìn văn hóa dân tộc?
Đó
là chủ đề của buổi trực tuyến giữa nhà báo Nguyễn Anh
Tuấn (TBT Báo điện tử VietNamNet) và thiền sư Thích Nhất
Hạnh vào lúc 15:00 - 04.05.2008 tại toà soạn báo VietNamNet nhân
dịp thiền sư và tăng thân Làng Mai về Việt Nam tham dự Đại
lễ Phật đản.
Thiền
sư Thích Nhất Hạnh xuất hiện tại Tòa soạn với gương
mặt và ánh mắt hiền từ. Đi cùng Thiền sư là 6 vị tăng,
ni - những học trò của Thiền sư. Cuộc trò chuyện, đối
thoại được bắt đầu với hai bức thư pháp được Thiền
sư viết trên tấm toan trắng: "Từng bước nở hoa sen"
và "Lắng nghe để hiểu, nhìn lại để thương".
Nội
dung đó, thật tình cờ, với diễn giải của Thiền sư, cũng
là chủ đề chính của cuộc Bàn tròn: Để yêu thương
hơn, hạnh phúc hơn và đi qua đau khổ.
1.
Chủ
đề đầu tiên về tình hình đạo Phật trên thế giới.
Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh, đạo Phật Tây phương đang
phát triển mạnh, được giới trẻ, giới khoa học và nhiều
tầng lớp dân chúng hâm mộ, yêu thích. Các khóa thực tập
cho nhiều giới đã được mở ra thường xuyên (ở Mỹ có
khóa cho các nghệ sĩ Hollywood, cho các vị dân biểu Hoa Kỳ...).
"Đạo
Phật đi vào cuộc đời. Nhờ vậy, mỗi có thể thừa hưởng
kho tàng tuệ giác, được tháo gỡ những khó khăn, bế tắc
gặp phải trong đời sống nội tâm", Thiền sư nói.
Với
ý hỏi về sự nảy mầm của đạo Phật ở những vùng đất
mà các đạo giáo khác như Tin lành, Thiên Chúa đã ngự trị
từ lâu; thiền sư Thích Nhất Hạnh nói tiếp: Đó là vì đạo
Phật đã đưa ra được những phương pháp thực tập rất
thực tế, đã hiện đại hóa. Chính trong đạo Phật, nhiều
người đã tìm ra ý nghĩa của các đạo giáo khác, tìm thấy
sự hòa hợp.
2.
Sự
an lạc trong thân và trong tâm - đó một ý nghĩa to lớn
mà đạo Phật đã đem đến mọi người. Sự an lạc đó càng
có ý nghĩa hơn trong đời sống hiện đại hôm nay khi con người
đứng trước sự lựa chọn: sống ở hiện tại hay sống
vì tương lai hoặc cho quá khứ.
"Phật
học ứng dụng không chỉ là Phật giáo tín ngưỡng. Người
Tây phương theo Phật học ngày càng nhiều không phải được
vì tín mộ mà là được thực tập. Những khoá tu thường
có trên 1000 ngàn người, trong 6, 7 ngày. Khi đó, mỗi người
lấy ra những căng thẳng trong tâm, nhận diện căng thẳng,
sự sợ hãi... từ đó có sự lắng dịu trong thân và tâm...
hiểu thấu được những khó khăn, bức xúc...".
Thành
công và hạnh phúc dưới góc nhìn Phật pháp của Thiền sư,
đó là khi "có tình thương và sự hiểu biết".
Khi có hiểu biết lớn, thương yêu lớn thì có hạnh phúc
lớn. Hiểu sâu thì thương nhiều.
"Có
khả năng sống trong giây phút hiện tại thì đó là nghệ
thuật sống. Biết sống an lạc trong hiện tại thì tự tại
đi tới tương lai. Quá khứ đi qua, tương lai chưa tới. Giây
phút hiện tại là thực sự sống. Do đó cần an trú trong
giây phút hiện tại... Hiện tại không có hạnh phúc thì làm
sao có hạnh phúc trong tương lai", Thiền sư nói.
3.
Theo Thiền sư Thích Nhất Hạnh: Đạo phật có tiềm lực
lớn. Giống như mỏ dầu hỏa, cần làm sao để khai thác,
đem tới hạnh phúc cho dân.
"Lắng
nghe để hiểu, nhìn lại để thương".
Ở
phương Tây điều kiện để hiện đại hóa đạo Phật đã
diễn ra nhanh chóng. Ở Việt Nam cũng đang có nhiều điều
kiện để hiện đại hóa. Lúc này những người đến với
đạo Phật cần được thực tập nhiều chứ không chỉ dừng
lại ở sự tín mộ. Mỗi người chúng ta cần có chiều hướng
tâm linh để tháo gỡ bức xúc trong đời sống hàng ngày..
Thành
công của đạo Phật là dám làm mới đạo Phật, đưa ra một
đạo Phật thích hợp với tuổi trẻ, trí thức bây giờ.
Kết quả là đạo Phật đi vào gia đình, học đường, xã
hội và có những "tăng thân" (trong một thành phố, mỗi hội
sở...) - đó là nơi có mọi người biết "lắng nghe để
hiểu và nhìn lại để thương".
4.
Có
thể áp dụng đạo Phật để buông bỏ tất cả hận thù
trong quá khứ, thống nhất lòng người, ôm lấy nhau như đồng
bào cả nước.
Thiền
sư đã đưa ra hai ví dụ về sự "thống nhất lòng người,
hòa hợp dân tộc". Ở Ấn Độ, A Dục vương chọn
cách thống nhất nhân tâm sau khi thống nhất lãnh thổ. Với
Thiền sư, lần trở về trước (năm 2007), "chúng tôi làm
lễ cầu siêu cho tất cả. Những người dân thuộc các giới
khác nhau cùng cầu nguyện cho nhau, khóc thương cho những người
đã chết, bông bỏ những hận thù khổ đau trong quá khứ,
thống nhất lòng người".
Như
thế, hiện đại hoá đạo Phật thì đạo Phật sẽ đóng
góp rất nhiều trong sự nghiệp hiện đại hoá dân tộc.
5.
"Trong đời sống, đạo Phật là thực tập để sống
vô ngã. Người xuất gia nắm được tuệ giác vô
ngã thì không thấy cha và con là hai người riêng biệt. Trong
con có cha, cha là sự tiếp nối của cha. Vị sư tăng mà nắm
được điều đó thì không cho mình là nhất, nếu không thì
tội nghiệp cho họ. Ý chí muốn tu học là một chuyện, thành
công là chuyện khác", Thiền sư lý giải.
"Nhiều
người nghĩ Phật là thần linh, cầu nguyện là đút lót. Đó
là sự hiểu lầm đạo Phật rất nhiều. Có người nghĩ thất
bại trong cuộc đời thì mới đi xuất gia. Có thời đại
cho rằng theo tôn giáo là duy tâm, mê tín, không lành mạnh.
Đó là sai lầm. Đạo phật thực tập như nghệ thuật sống".
6.
Trong
thế giới và trong từng cộng đồng ngày nay, "tăng
thân" rất quan trọng; vì quy pháp rồi phải quy tăng (tăng
là đoàn thể - community, có người xuất gia, có người tại
gia). Tăng trở thành chỗ nương tự cho nhiều người.
"Một
Quốc hội cũng có thể trở thành Quốc hội tăng, họ lắng
nghe nhau, hiểu nhau, có lợi cho đất nước. Tôi mong Liên Hợp
Quốc trở thành tăng thân. Khi đó không phải nói gì là vì
quyền lợi quốc gia không thôi mà không phải vì quyền lợi
trái đất", Thiền sư nói.
"Cuộc
chiến tranh Iraq căn bản là sự hiểu lẫm, oán thù. Sợ hãi
nhau thì muốn loại trừ nhau để được an ninh. Nghĩ người
kia giết mình thì sợ hãi, trước khi người khác giết mình
thì mình phải giết họ.
Sợ
hãi do tri giác sai lầm mà ra. Hoa Kỳ có tri giác sai lầm về
Iraq và ngược lại. Tri giác sai lầm đem tới sợ hãi, nghi
ngờ, bạo động. Thế nên cần lấy tri giác sai lầm ra, ngồi
lại lắng nghe để hiểu nhau. Tri giác sai lầm sao có thể
lấy đi bằng bạo lực!
Tổng
thống Bush là một trong những người đau khổ nhất của thế
giới. Làm sao ngủ ngon khi biết con em mình mỗi ngày chết
ở Iraq. Sa lầy trong chiến tranh Iraq mà nuốt không vào, khạc
ra cũng không được... Quyền năng thế gian không đủ đưa
lại hạnh phúc, quyền năng tâm linh thì mới có đủ".

7.
Với
những vấn đề thiết thực của Việt Nam, ví dụ lạm
phát đang diễn ra hay cách nào để tĩnh tâm trước những
tham lam, dục vọng..., Thiền sư có những dẫn giải riêng
với những câu hỏi mà bạn đọc gửi đến.
"Không
phải có nhiều tiền bạc, quyền hành mới hạnh phúc. Có
khả năng sống đơn giản, hạnh phúc, thương yêu nhau, đó
là con đường không chỉ của VN mà còn trên thế giới",
Thiền sư nói.
Thiền
sư làm gì cho cộng đồng người Việt ở Hoa Kỳ quên đi
quá khứ? - một bạn đọc hỏi. Thiền sự Thích Nhất Hạnh:
"Có những người rất khó để quên đi quá khứ. Họ
không bao giờ tha thứ cho những người đã khiến họ mất
đi những địa vị đã có. Không có hiện tại thế nên họ
không có tương lai. Nếu cứ ôm khư khư hận thù, giam hãm
quá khứ thì rất tội nghiệp. Một ngày tỉnh thức nào họ
thấy được điều đó thì họ được giác ngộ".
Và
Thiền sư Thích Nhất Hạnh còn trả lời nhiều câu hỏi lý
thú, đầy ý nghĩa khác, ví dụ câu hỏi của một bạn đọc:
"Ý chí, hồn thiêng dân tộc ngày hôm nay có thể một lần
nữa tích tụ và sinh ra cá nhân kiệt xuất? Thiền sư sẽ
đàm luận gì khi đối diện với con người kiệt xuất đó?...".
"Dân
tộc, cộng đồng, khi đồng bộ sẽ tạo ra được sự nghiệp
lớn. Mỗi người là một phần của sự nghiệp lớn...",
Thiền sư gợi mở. Và mỗi con người như Thiền sư nói, cần
mang ba phẩm chất: Chiến sĩ, nghệ sĩ và tu sĩ.
Những
tâm sự và kiến giải đầy lý thú của Thiền sư Thích Nhất
Hạnh sẽ sớm được chuyển tài đầy đủ đến quý độc
giả.
Bùi
Dũng
(tuanvietnam.net)
05-04-2008
05:25:12
