LẮNG
NGHE ĐỂ HIỂU, NHÌN LẠI ĐỂ THƯƠNG
(Khoá
tu 4 ngày cho GĐPT và người trẻ tại Tu viện Bát Nhã,
Bảo Lộc, Lâm Đồng,
từ
24.04 đến 27.04.2008)
Tháng
04.2008 - Chân Giác Lưu phiên tả & biên tập :
Pháp
thoại của Thiền Sư Làng Mai ngày 24, 25 & 26 .04.2008 tại
tu viện Bát Nhã - Bảo Lộc (Lâm Đồng) Âm thanh MP3 : Phần
1 - Phần
2
Pháp thoại
ngày 24.04.2008
Kính
thưa quí vị, hôm nay là ngày 24, tháng tư, năm 2008, chúng ta
đang ở tại Bát Nhã, trong khóa tu với chủ đề Lắng
nghe để hiểu, nhìn lại để thương. Đây là một
khoá tu được tổ chức trong khuôn khổ lễ Phật Đản Quốc
Tế tổ chức tại Việt-Nam.
Như
ngồi trên bông sen
Chúng
ta hãy tập ngồi cho thoải mái. Chúng ta thường thấy, trong
chùa có tạc tượng Phật ngồi trên một bông sen. Điều đó
có nghĩa là, khi Đức Thế Tôn ngồi thì Ngài ngồi rất thoải
mái, rất thảnh thơi, nhẹ nhàng, như ngồi trên một bông
sen. Chúng ta có thể học ngồi như Đức Thế Tôn, ngồi thoải
mái như ngồi trên một bông sen.
Có
nhiều người trong chúng ta không ngồi yên được, họ ngồi
như trên một đống lửa. Khi ngồi không yên thì đứng không
yên, đi cũng không yên mà nằm xuống cũng không yên. Chúng
ta phải tập để ngồi yên được, ngồi thoải mái, thảnh
thơi như ngồi trên một bông sen chứ không phải ngồi trên
đống lửa hồng. Chuyện nầy chúng ta có thể làm được.
Sau vài ngày thực tập thì chúng ta có thể làm được. Dù
cho ngồi trên bãi cỏ, trên một tảng đá, ngồi dưới gốc
cây hay ngồi trước máy vi tính thì chúng ta cũng có thể ngồi
thoải mái giống như Đức Thế Tôn ngồi trên bông sen.
Chúng
ta hãy tưởng tượng Đức Thế Tôn sinh ra vào thế kỷ thứ
21, chắc chắn là Ngài cũng dùng máy vi tính như chúng ta. Ngài
sẽ ngồi trước máy vi tính cách rất thảnh thơi. Có thể
Ngài cũng dùng điện thoại di động. Nhưng cách của Ngài
dùng điện thoại di động khác với mình, Ngài dùng một cách
thảnh thơi, an lạc.
Buông
bỏ những căng thẳng trong thân
Chúng
ta có những căng thẳng trong nội thân. Có một sức ép, một
sự căng thẳng dồn chứa trong con người của mình. Người
nào cũng có cái đó, có ít hay nhiều thôi. Nếu chúng ta không
biết cách buông thư, chúng ta không buông bỏ được những
căng thẳng đó thì nó sẽ đưa tới nhiều chứng bệnh, bệnh
về thân trước rồi đến bệnh về tâm.
Thực
tập để buông bỏ được những căng thẳng trong tâm là một
việc rất quan trọng. 2600 năm trước, trong kinh An Ban Thủ
Ý, Đức Thế Tôn đã dạy làm thế nào để trong tư thế
nằm, tư thế ngồi hay tư thế đi, mình buông bỏ được những
căng thẳng trong thân và trong tâm. Khi có sự căng thẳng trong
thân và trong tâm thì mình bị bức xúc. Những điều mình
nói có tính cách trừng phạt, lên án, buộc tội, không có
tình thương. Những hành động của mình có tính cách bạo
động, hung dữ, không biểu lộ được tình thương. Điều
đầu tiên chúng ta phải học và làm cho được là lấy sự
căng thẳng (stress, tension) ra khỏi con người của mình.
Ngồi
là một trong những phương pháp giúp mình có thể buông bỏ
những căng thẳng đó (relaxation). Một bác sĩ Hoa Kỳ tên là
Benson đã viết một cuốn sách nói về hiệu năng của sự
buông thư. Ông cùng một tập đoàn bác sĩ và y tá đã thực
tập trong nhiều năm. Họ đã tìm ra được một sự thật
rất đơn giản: Khi chúng ta làm giảm thiểu những căng thẳng
trong cơ thể mình, khi cơ thể mình đã buông thư rồi thì
nó có khả năng trị liệu được những chứng bệnh trong
nó. Khi bị bệnh thì chúng ta đi mua thuốc uống. Nhưng nếu
chúng ta vẫn giữ nguyên mức căng thẳng và dồn ép trong thân
thì thuốc cũng không đủ để chữa bệnh. Nếu biết phương
pháp buông thư, biết phương pháp buông bỏ những căng thẳng
trong thân thì chúng ta cần rất ít thuốc hoặc là có khi không
cần dùng thuốc mà cơ thể mình vẫn trị liệu được những
chứng bệnh sẵn có trong người. Có nhiều chứng bệnh như
nhức đầu, đau nhức, bệnh tim mạch, nó có nguồn gốc ở
những căng thẳng trong thân.
Trong
kinh An Ban Thủ Ý (Ānāpānasati-sutra), Đức Thế Tôn có dạy
những phương pháp thở để chúng ta có thể buông bỏ được
những căng thẳng đó. Phương pháp thở rất hay và có thể
áp dụng trong tư thế ngồi, tư thế nằm, tư thể đi hay tư
thế đứng. Trong khoá tu nầy chúng ta sẽ có một buổi thực
tập buông thư (deep relaxation), buông thư hoàn toàn. Trong tư
thế ngồi chúng ta buông thư mà trong tư thế nằm chúng ta
cũng có thể buông thư.
Tôi
đang ngồi đây trên gối ngồi của tôi. Tôi không có một
sự căng thẳng nào trong cơ thể và trong tâm hồn. Tôi ngồi
rất thoải mái, tôi có thể ngồi giống như Đức Thế Tôn
ngồi trên bông sen. Tôi mong muốn các bạn trẻ học được
điều đó trong khoá tu nầy.
Khôi
phục lại hạnh phúc gia đình
Cách
đây khoảng 20 năm, có một cô thiếu nữ tới ghi tên học
một một khoá tu cho người lớn được tổ chức tại miền
Nam tiểu bang California Hoa Kỳ. Cô có khó khăn với ba cô. Ba
cô là một nhà văn và cũng là một nhà thơ. Vậy mà cô không
truyền thông được với ba. Hai cha con không nói chuyện được
với nhau. Có những khó khăn không giải tỏa được giữa
hai cha con. Người nào cũng có sự bực bội ở trong lòng.
Cha giận con, con trách cha và hai bên không biết làm cách nào
để tháo gỡ. Cô thiếu nữ đã ghi tên cho năm ngày ở khóa
tu tổ chức tại một trại nghỉ hè của thanh niên Mỹ. Sau
khi tu năm ngày cô trở về nhà và đã hoà giải được với
ba cô. Qua năm sau thì cô thuyết phục được ba cô ghi tên
tham dự khóa tu. Người con có thể giúp đỡ cho cha, cho mẹ
hòa giải được với nhau. Đó là chuyện thường xảy ra trong
các khóa tu mình tổ chức cho người trẻ tại Tây Phương.
Tại
Làng Mai Pháp quốc, mỗi mùa hè có hàng ngàn thiền sinh tới
tu tập, trong đó số người trẻ rất đông. Có tất cả 45
nước đến. Những người trẻ tới với nhau và họ có chương
trình tu tập riêng. Năm nay chúng ta bắt đầu thành lập Đoàn
Thanh Niên Phật Tử Âu Châu. Mỗi nước đều có thanh niên
Phật tử như người Anh, người Mỹ, người Áo, người Tây
Ban Nha, người Đức v.v.. Những thanh niên Tây Phương thực
tập cũng thành công lắm. Họ đem sự thực tập về nhà giúp
bố mẹ hòa giải lại với nhau.
Ở
nước Pháp năm 2007, số thanh niên bỏ nhà ra đi là 46000 người.
Vì không khí giữa bố mẹ quá căng thăng và sự truyền thông
giữa bố mẹ và con cái có khó khăn nên cuối cùng người
trẻ phải tìm cách bỏ nhà ra đi. Mỗi ngày có khoảng 33 thanh
niên Pháp tự tử tại vì họ tuyệt vọng, họ không giải
quyết được sự bế tắc. Thanh niên đến Làng Mai tu tập
hoặc tham dự khóa tu mình tổ chức tại các nước khác. Trước
hết, họ học phương pháp buông thư để làm giảm thiểu
những căng thẳng trong thân và trong tâm. Họ học nhìn lại
cho kỹ, lắng nghe cho hiểu. Khi có lòng thương và trí tuệ
thì mình mới có thể giúp cho ba mẹ mình, mình có thể khôi
phục lại hạnh phúc gia đình đã bị đánh mất từ lâu nay.
Cô
thiếu nữ đó đã về hòa giải được với bố, một nhà
văn. Cô giúp cho bố mẹ hòa giải lại với nhau và năm sau
cô đưa bố mẹ đến tham dự khóa tu. Số lượng người trẻ
đến tu tập rồi sau đó về hòa giải được với cha mẹ,
giúp được gia đình, số lượng đó rất nhiều. Họ giúp
thiết lập lại sự truyền thông giữa cha và mẹ và sự truyền
thông giữa cha mẹ và con cái. Khi làm được rồi thì chúng
ta có thể chia sẻ phương pháp của chúng ta với những người
trẻ khác để họ cũng làm được như chúng ta.
Khóa
tu nầy tuy ngắn ngủi, chỉ có bốn ngày, nhưng nếu thực
tập hết lòng thì chúng ta có thể làm được rất nhiều
chuyện. Chúng ta đừng phí thì giờ nói chuyện và làm những
việc không bổ ích. Chúng ta để thì giờ quí báu đó mà
thực tập cho được. Chúng ta có thể thay đổi được không
khí trong gia đình. Chúng ta có thể giúp tái lập truyền thông
giữa con cái và cha mẹ hoặc giúp cha mẹ truyền thông được
với nhau. Chuyện đó chúng ta có thế làm được cũng như
nhiều người đã làm được. Tội nghiệp cho 46.000 thanh niên
Pháp đã bỏ nhà ra đi trong năm 2007! Tội nghiệp cho hơn 33
thanh niên phải tự tử mỗi ngày vì hoàn cảnh bị bế tắc!
Số lượng người trẻ tự tử bên Anh, bên Mỹ còn nhiều
hơn nữa. Ở Việt-Nam, số lượng đó cũng đã khá nhiều
rồi đó!
Tôi
rất mong người trẻ tiếp nhận được giáo lý và sự thực
tập của Đức Thế Tôn để trị liệu thân tâm mình và đem
lại nguồn vui sống cho chính mình. Có như vậy thì sau đó
mình mới có thể giúp được anh em, gíup được cha mẹ, giúp
được bạn bè cũng làm được như mình. Chúng ta có thể
giúp được rất nhiều người!
Có
hiểu mới có thương
Trên
đời, có rất nhiều người có hạnh phúc. Người khổ thì
nhiều rồi, nhưng cũng có người có hạnh phúc. Không hẳn
là phải có tiền bạc, quyền uy hay sắc dục cho nhiều thì
mới có hạnh phúc. Những người có hạnh phúc nhất là những
người có tình thương, những người có tình thương trong
trái tim, ban phát được tình thương trong đời sống hằng
ngày của mình và làm cho người khác có hạnh phúc. Dù mình
không có tiền bạc nhiều, không có danh vọng, uy quyền trong
xã hội, nhưng với tình thương thì mình có hạnh phúc và
có thể dâng tặng hạnh phúc cho nhiều người. Có nhiều người
như vậy, xuất gia cũng như tại gia. Tôi đã gặp và đã chứng
thực được điều đó.
Khóa
tu của chúng ta có chủ đề Lắng nghe để hiểu, nhìn lại
để thương. Hiểu và thương là hai yếu tố của hạnh phúc.
Chúng ta có thể chế tác hiểu và thương bằng sự tu tập
của mình. Không có hiểu thì không có thương. Hãy tưởng
tượng một người cha không hiểu được con mình. Ông không
hiểu được những khó khăn, những khổ đau của đứa con.
Càng thương thì ông càng làm cho nó khổ. Tại vì thương mà
bắt ép con phải nghĩ như cách mình nghĩ, phải làm như cách
mình làm, phải nói như cách mình nói, phải suy tư theo cách
suy tư của mình. Vì vậy càng thương thì càng làm cho người
thương của mình khổ. Muốn thương thì phải hiểu, trước
hết là phải hiểu những khó khăn, những khổ đau, bức xúc
của người kia. Làm thế nào để hiểu được? Nhiều khi
mình không hiểu được cái khó khăn, cái khổ đau, bức xúc
của chính mình thì làm sao mình hiểu được cái khó khăn,
cái khổ đau, bức xúc của người kia?
Khóa
tu nầy giúp mình làm thế nào để buông thư được những
căng thẳng trong thân và trong tâm. Mình bắt đầu nhìn lại
và lắng nghe. Khi có cơ hội ngồi lại và lắng nghe thì tự
nhiên mình hiểu được mình, mình thương được mình. Có
những người không thế nào thương được chính bản thân
mình. Khi mình hiểu và thương được mình thì mình mới hiểu
và thương được người khác. Mình không hiểu và thương
được mình thì làm sao mình hiểu và thương được người
khác? Đó là sự thật rất đơn giản!
Thực
tập hơi thở
Mỗi
khi nghe chuông chúng ta dừng sự nói năng, đừng suy nghĩ gì
nữa và trở về với hơi thở: Thở vào, chúng ta để ý tới
hơi thở vào. Thở ra, chúng ta để ý tới hơi thở ra. Trong
khi thở vào, ta ý thức được hơi thở vào. Trong khi thở
ra, ta buông thư toàn thân. Đây là bài tập trong kinh An Ban
Thủ Ý:
Thở
vào, tôi ý thức được toàn thân của tôi.
Thở
ra tôi buông bỏ những căng thẳng trong toàn thân của tôi.
Bài
nầy, mình phải tập cho được và tập cho thành công. Sự
thật là trong cơ thể của mình có những căng thẳng, những
đau nhức, sầu khổ, những lo lắng, giận hờn. Mình phải
công nhận sự có mặt của những cái đó. Mình phải biết
cách buông bỏ những căng thẳng. Có làm vơi đi những căng
thẳng, sầu khổ, nặng nề trong thân và trong tâm thì mình
mong đi xa hơn được. Nếu chưa làm được thì không thể
nào đi xa được.
Khi
thở vào mình thấy hình hài của mình đang có mặt và trong
hình hài đó có sự căng thẳng, có sự dồn nén, có sự đau
nhức. Quí vị cũng biết rất rõ là khi có căng thẳng nhiều
thì có đau nhức nhiều và khi sự căng thẳng ít đi thì
sự đau nhức cũng bớt đi.
Thở
vào, tôi ý thức được sự có mặt của thân thể tôi.
Breathing
in, I am aware of my own body.
Khi
thở vào mình đừng để ý đến chuyện gì khác. Mình thấy
thân thể mình đang có mặt với những căng thẳng của nó.
Tội nghiệp cho thân thể, nó có những căng thẳng, nó có
những đau nhức. Mình bắt đầu thương, mình thương thân
thể của mình trước.
Thở
vào, tôi ý thức được sự có mặt của thân thể tôi với
những căng thẳng và những đau nhức. Thở ra, tôi thực tập
buông bỏ những căng thẳng và những đau nhức đó trong thân
tâm.
Khi
thở ra, tôi buông thư hết. trong con người của chúng ta có
biết bao nhiêu là cơ bắp. Ngay trên mặt đã có trên ba trăm
cơ bắp. Khi mình căng thẳng, giận hờn, lo lắng, thì những
cơ bắp co rúm lại. Nhìn vào kính, mình thấy mặt mình giống
như trái bom sắp nổ. Và bệnh tật phát sinh từ những căng
thẳng đó. Chúng ta cứ cho phép nhưng căng thẳng dồn lại
mỗi ngày một ít cho đến khi chúng ta ngã bệnh. Phương pháp
thực tập nầy là để chống căng thẳng (stress). Bài tập
thứ ba là:
Thở
vào, tôi ý thức được thân thể tôi có căng thẳng, đau
nhức.
Thở
ra, tôi buông thư, tôi buông bỏ những căng thẳng, đau nhức.
Khi
thở ra thì đồng loạt, mình để cho những căng thẳng trong
bắp thịt rơi rụng hết. Lúc đó nhìn vào gương thì thấy
mặt mình rất khác. Mình có thể nhìn vào kính để thực
tập. Và mình nên thực tập nụ cười. Cười được thì
tự nhiên ba trăm bắp thịt trên mặt mình buông thư liền.
Trong
khi thở vào mình ý thức toàn thân và sự đau nhức trong đó.
Trong khi thở ra thì mình mỉm cười. Mỉm cười là một hình
thái tập yoga. Ngồi cho thoải mái cũng là một loại yoga.
Khi thở ra, mình thở nhè nhẹ, buông thư và mình mỉm cười
thì mình tạo ra một trạng thái nhẹ nhàng, thư thái trong
thân.
Thở
vào tôi ý thức toàn thân
Thở
ra tôi buông thư toàn thân
Đó
là bài tập Đức Thế Tôn dạy mà mình phải làm cho
được. Bây giờ chúng ta làm chung, thầy trò cùng làm chung.
Nghe một tiếng chuông thì mình thở vào và ý thức toàn thân,
mình thở ra và buông thư những căng thẳng trong toàn
thân.
Thực
tập là một hạnh phúc
Muốn
được thành công thì mình đừng coi sự thực tập nầy là
một cố gắng, một sự gò ép. Thở vào có thể là một hành
động rất dễ chịu.
Tôi
thở vào và tôi thích thú khi được thở vào
Hãy
tưởng tượng mình bị nhốt trong một căn phòng nhỏ hẹp
và có mùi hôi, mùi mốc và không có không khí trong lành. Sau
hai giờ đồng hồ, người ta mở cửa cho mình ra. Không khí
ở ngoài rất trong lành. Mình thở và thấy khoan khoái vô cùng.
Thở vào, tôi cảm thấy khoan khoái trong khi thở vào. Hai lá
phổi của tôi còn tốt, tôi không bị suyễn và không khí
ở Bảo Lộc khá tốt. Thở vào là có thể có hạnh phúc liền.
Thở ra mình mỉm cười và buông thư hết những căng thẳng
trong cơ thể của mình.
Thở
vào, tôi cảm thấy hạnh phúc, thích thú.
Thở
ra, tôi cảm thấy thoải mái, buông thư.
Thực
tập là một hạnh phúc chứ không phải là một cực hình.
Nếu thực tập mà mình thấy khổ là không đúng theo pháp
môn Đức Thế Tôn dạy. Trong khi thở mình phải thấy hạnh
phúc, dễ chịu thì mới đúng.
Ngồi
cho an, ngồi cho lạc
Khi
ngồi mà mình thấy khổ, thấy gò bó là không đúng. An tọa
có nghĩa là ngồi yên, ngồi yên thì có hạnh phúc và an lạc.
Ngồi mà bồn chồn như bị lửa đốt thì làm sao có hạnh
phúc, có an lạc được? Khi ngồi mình có an lạc mà khi thở
mình cũng có an lạc. Có an mời có lạc. Thân có an thì tâm
mới an. Bước đầu là mình làm cho thân an. Làm cho thân an
là lấy đi những đau nhức, những căng thẳng trong thân. Trong
tư thế nằm hay ngồi mình cũng có thể làm được như vậy.
Trong
tư thế đi mình cũng đi được thoải mái như vậy. Ngày mai,
mình sẽ đi thiền hành chung với nhau. Mỗi bước chân đều
đem đến hạnh phúc và an lạc. Có người đi như bị ma đuổi.
Phần lớn trong xã hôi chúng ta, người nào cũng đi như bị
ma đuổi. Chỉ có một số rất ít người biết đi và biết
thưởng thức từng bước chân một. Về Bát Nhã, trong khóa
tu, mình thử tập đi những bước chân như vậy. Mỗi bước
chân là an lạc, mỗi bước chân là hạnh phúc, mỗi bước
chân là thảnh thơi.
Khi
ngồi, mình không gồng mình. Có người có chú tâm muốn ngồi
thiền, muốn tu. Nhưng vì gồng mình quá nên chỉ được mười
lăm phút thì lại đau nhức thêm. Tại vì họ không biết cách
ngồi. Ngồi mà đau nhức thêm thì ngồi làm gì? Mình phải
học ngồi cho thoải mái dù là ngồi trước máy vi tính hay
ngồi lái xe. Phải ngồi cho an, ngồi cho lạc. Mỗi buổi sáng
thức dậy, việc đầu tiên là chúng ta học ngồi với nhau,
ngồi yên. Ngồi yên là một nghệ thuật, chỉ cần ngồi thôi
mà có hạnh phúc.
Cách
đây mười mấy năm, có ông tổng thống Nam Phi tên Nelson Mandala.
Ông qua nước Pháp thăm ông tổng thống Pháp. Báo chí hỏi:
Thưa tổng thống, chúng tôi tò mò muốn biết tổng thống
ưa gì nhất? Trong đời sống hằng ngày, tổng thống ưa làm
gì nhất? Ông Nelson nói: Cái tôi ưa nhất là được ngồi
yên. Tôi bị tù mười mấy năm. Khi được thả ra và được
bầu làm tổng thống, từ lúc đó đến nay, tôi chưa có cơ
hội được ngồi yên. Công việc quá nhiều, tôi không có
thì giờ để thở, để ngồi, để ăn cơm cho thoải mái.
Cái tôi thiếu và cần nhất là được ngồi yên.
Tờ
nhật báo Le Monde ở Paris đã đăng lại tin đó. Tôi đọc
tờ báo và mỉm cười nghĩ: “Ông tổng thống đó, nếu mình
cho ông một ngày để ngồi thì chưa chắc ông đã biết cách
ngồi”. Ngồi yên để có hạnh phúc khó lắm, mình phải
học mới làm được. Mình quen bận rộn, lăng xăng rồi, bây
giờ mình ngồi yên không được. Ngồi yên là một nghệ thuật
mà mình phải học. Ngồi yên là an tọa và người làm mẫu
mực cho an tọa là Đức Thích Ca Mâu Ni, là Thầy của mình,
là Bụt. Nếu muốn làm một người học trò, một người
bạn, một người tiếp nối Đức Thế Tôn thì trước hết
mình phải học ngồi yên. - Bạch Đức Thế Tôn, con có thể
ngồi yên được. Con xứng đáng làm con của Ngài. Con xứng
đáng là sự tiếp nối của Ngài. Chỉ cần ngồi yên là có
thể xứng đáng được gọi là sự tiếp nối của Đức Thế
Tôn. Ngồi cho yên, tất cả mọi cái sẽ yên khi mình ngồi
yên. Yên vui nơi nầy, yên khắp mọi phương.

Buổi
sáng, chúng ta tập ngồi, ngồi không phải để thành công
hay là để chứng cái gì. Ngồi trước hết là để có an
và có lạc. Trong khi ngồi chúng ta phải biết thở. Thở
vào, chúng ta cảm thấy thích thú khi thở vào. Thở ra, chúng
ta buông thư hết những căng thẳng, chúng ta mỉm cười. Một
người mà có thì giờ, có cơ hội làm được như vậy trong
đời sống mới nầy thì người đó là một người có
văn hóa, một người có văn minh. Một người biết ngồi
yên, một người có khả năng ngồi yên rất hiếm có trong
xã hội của mình.
Thực
tập với trái tim thương yêu
Mình
rất mong ba mình, mẹ mình có thể ngồi yên được. Trong gia
đình mà có người có khả năng ngồi yên thì chắc chắn
là gia đình đó có hạnh phúc. Ngồi yên là một nghệ thuật
mà mình có thể học được. Mình có thể ngồi cho cha, cho
mẹ, cho tổ tiên, ông bà. Có nhiều khi ngồi thiền tôi quán
chiếu như thế nầy: Ba ơi, ba ngồi với con đi! Tôi biết
rất rõ là ba tôi đang có mặt trong từng tế bào cơ thể
tôi. Mẹ tôi cũng vậy! Bà cũng đang có mật trong từng tế
bào cơ thể tôi.
Nói
rằng ba đã chết, mẹ đã chết, nói như vậy chỉ đúng một
phần rất nhỏ. Ba còn sống trong mình, mẹ cũng còn sống
trong mình và tất cả tổ tiên nhiều đời cũng đang có mặt
trong từng tế bào cơ thể mình. Khi mình ngồi yên được
thì các vị cũng được ngồi yên. Bây giờ mình được gặp
thầy, gặp bạn, mình học được cách ngồi yên thì khi ngồi,
mình ngồi cho ba, mình ngồi cho má:
- Ba
ơi! Con ngồi với sống lưng của ba đây!
-
Mẹ ơi! Con đang ngồi với hai lá phổi của mẹ!
Hai
mẹ con cùng thở vào, thở ra, rất vui, trái tim của mình đầy
ấp thương yêu. Mình thấy mẹ cả đời tần tảo, lo làm
nuôi gia đình. Ít khi nào bà được ngồi yên, bà không biết
thở vào một cách thích thú, không biết thở ra mỉm cười
và buông thư. Bây giờ mình làm cho má, cho ba. Mình thấy cha
mẹ đang sống trong mình và mình truyền thông được với
cha mẹ một cách toàn hảo. Mình là cha mình, mình là mẹ mình.
Mình là sự tiếp nối của cha mẹ mình. Mỗi hơi thở là
tình thương. Mỗi nụ cười cũng là tình thương.
Mỗi
khi mình mỉm cười được và làm buông thư tất cả bắp
thịt trong cơ thể thì cha mẹ mình cũng được buông thư.
Mỗi khi mình bước được một bước chân an lạc, thảnh
thơi, thì cha mẹ trong mình cũng đi được an lạc thảnh thơi.
Mình thương hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày, khi thở
cũng thương, khi ngồi cũng thương. Mình thương bản thân mình.
Mình thương cha, mình thương mẹ, cha mẹ ở trong mình và ở
ngoài mình. Tại Bát Nhã có những bài thực tập đơn giản
rất hay, quí vị hãy ráng tập cho được một vài bài:
Thở
vào, tôi ý thức được sự có mặt của ba tôi trong từng
tế bào cơ thể tôi.
Thở
ra, tôi mỉm cười với ba tôi trong từng tế bào cơ thể tôi.
Thở
vào, tôi ý thức được sụ có mật của má tôi trong từng
tế bào cơ thể tôi.
Thở
ra, tôi mỉm cười với má tôi trong từng tế bào cơ thể
tôi.
Lúc
đó có sự truyền thông giũa mẹ và con. Thở vào, tôi mời
ba tôi cùng thở vào với tôi. Hai cha con cùng thở vào vì thân
nầy tuy là thân mình nhưng cũng là thân của ba. Thở vào con
thấy khỏe quá, ba có thấy khỏe như con không ? Hai cha con
cùng thở vào, thở ra và tất cả đều là tình thương.
Nhiều khi mình thương mà mình không tỏ lộ được tình thương
của mình. Thở như vậy là mình tỏ lộ được tình thương.
Thở vào, con mời má cùng thở với con. Phổi nầy cũng là
phổi của má chứ nào phải của riêng con. Không có má thì
làm sao có hai lá phổi nầy.
Khi
dạy đạo Phật cho Tây Phương, tôi thường dùng hình ảnh
của hạt bắp và cây bắp. Khi gieo một hạt bắp xuống đất
thì năm hay mười ngày sau nó thành ra cây bắp con. Mình không
thấy hạt hạt bắp nữa. Mình chỉ thấy cây bắp thôi và
mình tưởng hạt bắp đã chết rồi. Nhưng hạt bắp không
chết, hạt bắp vẫn còn dưới hình dạng mới của nó là
cây bắp con.
Tuy
mình là con, nhưng nhìn kỹ thì mình thấy có ba mẹ trong mình.
Mình là sự tiếp nối của cha mẹ, giống như cây bắp là
sự tiếp nối của hạt bắp. Khi mình nói:
- Má
ơi, mời má cùng thở với con. Hai má con mình cùng thở. Thì
tự nhiên hai má con cùng thở vô rất là hay, rất là
mầu nhiệm!
- Má
ơi, con thở vô thấy khỏe quá! Má có thấy khỏe như con không?
Con thở ra, buông thư. Con thấy nhẹ nhàng, má có thấy nhẹ
nhàng như con không?
Thực
tập thiền như vậy thì mình sẽ không bao giờ thấy buồn
ngủ tại vì mình thực tập với trái tim thương yêu. Hai lá
phổi nầy cũng là hai lá phổi của ba. Trái tim nầy cũng là
trái tim của mẹ. Tu là tu cho cha, cho mẹ, cho tất cả dòng
họ tổ tiên, chứ không phải chỉ cho riêng mình.
Trong
khóa tu nầy, quí vị phải nắm cho vững một số bài thực
tập để áp dụng vào cuộc đời mình, Khi lái xe, làm việc,
lúc giặt áo, tưới rau, khi ngồi trước máy vi tính, mình
có thể thực tập được với hình hài, với hơi thở, với
trái tim đầy thương yêu của mình. Mình thực tập suốt cả
ngày chứ không phải chỉ trong vài giờ đồng hồ.
Trong
kinh Quán Niệm Hơi Thở, Bụt có dạy 16 phương pháp thở rất
là mầu nhiệm. Tôi mong các bạn trẻ tìm kinh đó để học
và đem áp dụng vào đời sống hằng ngày của mình. Các nhà
khoa học, các bác sĩ cũng nhận thấy rõ công dụng của sự
buông thư, công dụng của hơi thở. Lúc sắp chích một mũi
thuốc, khi mà bệnh nhân sợ quá, tay gồng lên thì bắp thịt
rất cứng. Bắp thịt cứng quá thì đâm kim vô rất khó và
bệnh nhân lại bị đau. Lúc đó cô y tá nói: “Thở đi! Thở
với tôi đi! Thở vô buông thư đi!” và khi bệnh nhân đang
thở ra thì cô đâm mũi kim vô rất là nhẹ và không đau. Sự
buông thư những căng thẳng quan trọng vô cùng. Khi không có
sự căng thẳng thì mình không còn sự bực tức. Mình nói
năng và mình hành động có tình thương nhiều hơn. Mình sẽ
không làm hư sự liên hệ của mình với người khác. Vì vậy
tập ngồi, tập thở để buông thư thân tâm rất là quan trọng.
Trong
khóa tu, chúng ta cũng tập đi. Tập đi là một phương pháp
mầu nhiệm không thua gì tập ngồi và tập thở. Hôm nay tôi
đề nghị một bài tập ngắn để quí vị thực tập: chữ
thứ nhất là sự sống, chữ thứ hai là phép lạ, chữ thứ
ba là trị liệu và chữ thứ tư là thảnh thơi. Khi đi mình
đọc một câu kệ: Mỗi bước chân là sự sống.
Khi
thở vào mình bước hai bước. Bước thứ nhất mình đọc
“mỗi”, bước thứ hai mình nói “bước chân”. Khi thở
ra mình mình đọc “là sự sống”. Khi bước đi thì mình
ngưng mọi suy nghĩ, mình chỉ chú ý tới sự xúc chạm giữa
bàn của mình và mặt đất, mình đem sự chú tâm đặt dưới
gang bàn chân. Mình có thể đi trên cỏ hay trên đường đá.
Mỗi
bước chân là sự sống
Sự
sống là một điều rất là mầu nhiệm. Sự sống có mặt
trong ta và xung quanh ta. Có người không tiếp xúc được với
sự sống, không tiếp xúc được với sự sống thật sự.
Khi đi vào mạng là mình đi vào một thế giới ảo. Khi đọc
một cuốn tiểu thuyết là mình đi vào một thế giới ảo.
Khi coi phim thì mình đi vào một thế giới ảo. Đi thiền hành
là mình tiếp xúc được với sự sống thật sự. Mỗi bước
chân giúp mình tiếp xúc được với sự sống thật và tất
cả sự mầu nhiệm của nó: trời xanh, mây trắng, chim hót,
thông reo, hoa nở, suối chảy. Tất cả là những mầu nhiệm
của sự sống, sự sống có mặt trong mình và xung quanh mình,
Hai
mắt của mình rất mầu nhiệm. Hai mắt của mình đang tốt.
Chỉ cần mở mắt ra là mình có thể thấy tất cả những
gì mình muốn thấy: trời xanh, mây trắng, liễu lục, bông
hồng. Mình thấy được nét mặt của người mình thương
là nhờ mình có hai mắt. Một thiên đường của màu sắc
và của hình dáng đang có mặt cho mình trong cuộc sống hiện
thực mà mình chỉ cần mở mắt ra là có thể tiếp xúc ngay
được.
Trong
khi đó, có nhiều người trẻ đi tìm một thế giới ảo để
sống. Họ không có khả năng sống được trong thế giới
hiện thực. Đi thiền hành là một phương pháp để tiếp
xúc được với thế giới thật trong đó có mình và có hoàn
cảnh của mình.
Trái
tim của ta là một mầu nhiệm. Nó đập không ngừng nghỉ
trong hai mươi bốn giờ đồng hồ một ngày để nuôi những
tế bào trong cơ thể. Có khi tới hai mươi tuổi rồi mà mình
chưa thật sự tiếp xúc đuợc với trái tim của mình. Mình
chưa biết trái tim của minh nằm ở vị trí nào trong người
của mình. Mình không biết trái tim mình đang làm gì trong đó?
Mình hoàn toàn quên lãng trái tim của mình. Mình không dễ
thương với trái tim của mình.
Thở
vào, tôi ý thức là trái tim tôi đang còn đó.
Thở
ra, tôi mỉm cười ưu ái với trái tim của tôi.
Tội
nghiệp cho trái tim của tôi! Trái tim của tôi làm việc suốt
ngày không ngừng nghỉ. Vậy mà tôi còn làm tình, lam tội
trái tim của tôi bằng cách uống rượu, hút thuốc, thức
khuya. Để tay lên trái tim, tôi thở vào để thấy được
sự có mặt của trái tim. Khi thở ra tôi lấy năng lượng
thân thiện cho trái tim thì trái tim sẽ được an ủi.
Trong
cơ thể của mình có bao nhiêu là sự mầu nhiệm như hai mắt
và trái tim. Như là buồng gan của mình, có khi mình ăn nhiều
chất béo hay mình uống rượu, mình làm hại gan mình. Gan mình
kêu cứu mà mình không nghe.
Thở
vào, tôi ý thức được sự có mặt của buồng gan tôi.
Thở
ra, tôi mỉm cười và thương xót buồng gan tôi.
Thực
tập như vậy trong vài ngày thì mình sẽ ngưng uống rượu,
mình sẽ ngưng ăn những chất độc có hại cho buồng gan của
mình . Đó là gọi là giác ngộ. là giải thoát.
Có
một thế giới của sự sống rất là mầu nhiệm. Bông hoa
nầy cũng rất là mầu nhiệm, vậy mà mình không có thì giờ
để nhìn bông hoa. Mỗi bước chân đưa mình về với giây
phút hiện tại để mình có thể tiếp xúc được với sự
sống. Những mầu nhiệm của sự sống nuôi dưỡng mình, nó
làm cho cuộc đời sáng lên. Mỗi bước chân là sụ sống
có nghĩa là như vậy.
Các
bạn trẻ có những buồn khổ, có những lo lắng cho nên họ
đi tìm quên lãng trong thế giới ảo của phim ảnh, của mạng
lưới. Các bạn nên học trở về tiếp xúc với những mầu
nhiệm của sự sống hiện tại. Những mầu nhiệm đó có
khả năng nuôi dưỡng và trị liệu cho thân và tâm của mình.
Câu
“Mỗi bước chân là sự sống” đơn sơ nhưng rất sâu sắc.
Với mỗi bước chân, tôi tiếp xúc được với sự sống
mầu nhiệm. Đây không phải là tụng kinh bằng miệng. Mình
bước đi như thế nào để mỗi bước chân đều có thể
giúp mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của sự
sống. Lúc đó mình mới thành công! Đó là thiền hành! Thiền
hành là đi những bước chân giúp mình tiếp xúc được với
sự sống thực tại chứ không phải là một thế giới ảo
mà người thanh niên thời đại tìm tới để trốn tránh sự
thật.
Mỗi
bước chân là sự sống
Sự
sống rất là mầu nhiệm. Sự sống là một tặng phẩm lớn
của đất trời cho mình. Mình có sự sống mà mình không biết
trân quí, mình liệng nó đi để vào một thế giới ảo. Mỗi
bước chân là sự sống, đó gọi là tỉnh thức. Bụt có
nghĩa là tỉnh thức. Buddha là người tỉnh thức. Người tỉnh
thức là một người không sống trong thế giới ảo mà sống
trong thế giới thực tại.
Mỗi
bước chân là sự sống
Every
step is life
Mình
đừng nên nói suông, mình phải làm! Mỗi bước chân nào cũng
giúp cho mình tiếp xúc được với những mầu nhiệm của
sự sống trong mình và xung quanh mình. Khi thực tập thành công
rồi thì mình đi sang chữ thứ hai là phép lạ (miracle).
Mỗi
bước chân là phép lạ
Tổ
sư Lâm Tế có nói: Phép là không phải là đi trên mây, trên
nước mà là đi trên mật đất, gọi là địa hành thần thông.
Mỗi bước chân làm mình thức tỉnh. Mình biết mình đang
còn sống và mình đang đi trên hành tinh xinh đẹp nầy.
Mỗi
bước chân là phép lạ
Every
step is a miracle.
Mình
hãy tưởng tượng có một người đang nằm hấp hối, chờ
chết. Người đó dù có muốn đi thêm một bước cũng không
thể nào đi được. Mỗi bước chân là vô giá. Đức Thế
Tôn là người có khả năng đi những bước chân có công năng
đem lại hanh phúc. Mình biết giá trị của sự sống và giá
trị của từng bước chân. Mình đang được sống và đang
được đi trên hành tinh nầy mà mình không có hạnh phúc.
Có
những phi hành gia không gian bay lên thượng tầng không khí
và đi vào không gian. Họ ở đó sáu ngày, hai mươi ngày. Họ
nói, trên đó buồn lắm, không có gì hết. Thở thì phải
đem theo không khí để mà thở. Không có cơm ăn, họ phải
đem theo những viên thuốc nho nhỏ, mỗi ngày ăn vài viên.
Khi trở về lại trái đất và được đi trên thảm cỏ xanh
thì họ sung sướng cực kỳ. Không có chỗ nào đẹp hơn trái
đất, có suối chảy róc rách, có cá bơi lội trong suối,
có rêu, có cây cỏ, có những con đường đất hai bên có
bờ cỏ xanh, có những con nai, những con chim. Không nơi nào
đẹp bằng trái đất.
Mỗi
bước chân là phép lạ
Every
step is a miracle
Tổ
Lâm Tế nói: Phép lạ không phải là đi trên mây hay trên than
hồng. Phép lạ là đi trên mặt đất (địa hành thần thông).
Nếu quí vị có pháp danh bắt đấu bằng chữ Tâm, chữ Nguyên,
chữ Quảng hay chữ Nhuận thì quí vị đều là con cháu của
tổ sư Lâm Tế. Ngài đã nói: Đi trên mặt đất là một phép
lạ.
Mỗi
bước chân là phép lạ
Mỗi
bước chân là vô giá. Mỗi bước chân đem lại sự nuôi dưỡng
tại vì đời sống rất là mầu nhiệm. Đi như vậy thì tật
bệnh được tiêu trừ. Mình không đi như bị ma đuổi. Mỗi
bước chân mà an lạc, thảnh thơi, hạnh phúc thì tự nhiên
tật bệnh được tiêu trừ.
Mỗi
bước chân là trị liệu
Every
step is a healing. Nếu mình có đau nhức, có buồn khổ. Có bệnh
tật, thì đi thiền hành có thể chữa lành được. Mỗi bước
chân mình đi thảnh thơi, vững chãi, an lạc. Mình tiếp xúc
được với những mầu nhiệm của sự sống thì mỗi bước
chân đều có khả năng trị liệu. Mình đừng chỉ tin vào
thuốc men. Mình phải tin vào sự buông thư, tin vào sự thực
tập buông thư và nuôi dưỡng. Thiền có tác dụng buông thư,
nuôi dưỡng và trị liệu. Người nào cũng có một ít bệnh,
không nhiều thì ít. Sự thực tập ngồi, thực tập thở và
thực tập đi lấy ra được những lo lắng, những buồn phiền,
những căng thẳng trong thân và trong tâm. Thiền có khả năng
nuôi dưỡng và trị liệu.
Mỗi
bước chân là trị liệu
Chỉ
cần đi thiền là tật bệnh có thể được tiêu trừ.
Mỗi
bước chân là thảnh thơi
Thảnh
thơi là không bận rộn, không lo lắng. Phần lớn trong chúng
ta, người nào cũng có lo lắng, cũng có bận rộn. Có rất
nhiều Nguyễn văn Lo, rất nhiều Trần thị Sợ trong chúng
ta. Những lo lắng, sọ hãi làm cho chúng ta không được thảnh
thơi. Mình bước đi như thế nào để những sợ hãi, những
lo lắng rơi rụng thì mình mới thành công được.
Mỗi
bước chân là thảnh thơi
Chúng
ta buông bỏ hết. Đối với tất cả những mầu nhiệm như
vậy mà ta không hưởng, ta cứ bị giam cầm trong những lo
lắng, sợ hãi, thì tội nghiệp quá! Chúng ta phải học như
Đức Thế Tôn, đi được từng bước chân thảnh thơi, an
lạc như Ngài.
Mỗi
bước chân là thảnh thơi
Khi
bước những bước thảnh thơi thì bước chân đó có khả
năng trị liệu và nuôi dưỡng mình.
Nắm
vững phương pháp thực tập
Chúng
ta tập nắm cho được kỹ thuật ngồi, ngồi cho yên, cho thảnh
thơi, cho an lạc. Chúng ta tập nắm cho được kỹ thuật thở,
thở làm sao để chúng ta có hạnh phúc khi thở vào, chúng
ta có buông thư khi thở ra và chúng ta mỉm cười được, mỉm
cười với tình thương.
Chúng
ta thực tập như thế nào để mỗi bước chân tiếp xúc được
với những mầu nhiệm của sự sống, để mỗi bước chân
đều có tính cách trị liệu. Nếu ta đi được những bước
chân và thở được hơi thở đem lại sự thảnh thơi thì
đó là thiền mà chúng ta cần và ai cũng có thể làm được.
Những người trẻ đều làm được và còn có thể làm hay
hơn nữa.
Chúng
ta phải chuẩn bị nhiều ngày tháng để có thể về tu viện
tu chung với nhau bốn ngày. Vì vậy chúng ta phải trân
quí những thì giờ ở đây. Chúng ta phải sử dụng những
thì giờ đó để học cho được, nắm cho được những phương
pháp thực tập. Có những thầy, những sư cô, tuy còn trẻ
nhưng đã nắm vững được phương pháp. Có những vị cư
sĩ, tuy mới thực tập có sáu tháng, nhưng đã nắm được
khá vững rồi. Họ có mặt trong khóa tu và chúng ta có thể
học hỏi từ họ.
Làm
sao trong khi ngồi mình có an, có lạc, có thảnh thơi. Học
như thế nào để trong khi thở, mình thấy mỗi hơi thở đều
có tác dụng trị liệu và buông thư, đem lại an lạc và hạnh
phúc. Học như thế nào để khi đi, mình thấy mỗi bước
chân đem lại hành phúc, thảnh thơi và an lạc. Điều đó,
không cần phải nhiều ngày mới có thể học được, chỉ
cần vài giờ đồng hồ để tâm vào là mình có thể nắm
vững được rồi.
Khi
thấy một người đang đi những bước chân an lạc và thảnh
thơi thì tự nhiên mình cũng muốn trở về và đi những bước
an lạc, thảnh thơi như vậy. Mình không khơi chuyện với người
kia, không làm cho người đó mất sự thực tập. Mình cứ
để người đó đi những bước an lạc, thảnh thơi. Mình
đi bên cạnh người đó và cũng đi những bước an lạc, thảnh
thơi trong im lặng. Cảnh tượng đó rất đẹp, chúng ta phải
yểm trợ cho nhau trong sự thực tập.
Trong
khóa tu chúng ta đừng nói chuyện nhiều, chỉ khi nào cần
lắm thì chúng ta mới nói. Chúng ta chỉ nói trong những buổi
pháp đàm để chia sẻ kinh nghiệm tu tập. Chúng ta đã nói
những chuyện ngoài đời khá nhiều rồi. Vào khóa tu, chúng
ta đừng xài phí thì giờ cho những chuyện ngoài đời. Chúng
ta để thì giờ tập thở, tập ngồi, tập đi. Nếu biết
sử dụng thì giờ thì trong bốn ngày, chúng ta sẽ học được
rất nhiều.
Ăn
cơm với tình thương
Khi
ăn cơm thì chúng ta ăn như thế nào, để trong mấy chục phút
ăn cơm, chúng ta có sự an lạc, thảnh thơi và có hạnh phúc.
Khi gắp một miếng đậu hủ lên, tâm của ta phải để nơi
miếng đậu hủ. Nhìn miếng đậu hủ hay miếng dưa cải thì
mình thấy rằng, đây là một tặng phẩm của đất trời.
Mặt trời, đám mây, đất nước đã tụ họp lại làm ra
miếng đậu hủ, miếng dưa cải nầy để nuôi dưỡng mình.
Mình nhận diện nó và nói:
Thở
vào, tôi biết đây là miếng đậu hủ.
Thở
ra, tôi mỉm cười đưa miếng đậu hủ vào miệng và tôi
nhai.
Tôi
không suy nghĩ đến chuyện gì hết. Tôi chỉ nhai và tiếp
nhận miếng đậu hủ hay là miếng dưa cải như là tiếp nhận
một đại sứ của đất trời gởi tới để nuôi tôi và
tôi rất biết ơn!
Mình
nhai và mình đừng suy nghĩ tới chuyện quá khứ hay chuyện
tương lai. Trong khi nhai thì mình có hạnh phúc. Mình được
cả vũ trụ nuôi dưỡng. Trong miếng đậu hủ có sự có mặt
của vũ trụ, có đám mây làm ra mưa, có ánh sáng mặt trời
nuôi dưỡng cây đậu nành, có người nông phu trồng cây đậu
nành v.v.. Đừng nhai những lo lắng, sầu khổ của mình. Nhai
đi nhai lại những lo lắng, sầu khổ để làm gì? Nó sinh
ra những chất độc trong người. Mình chỉ nhai đậu hủ thôi,
đừng nhai những đau khổ, sầu héo, lo toan của mình. Mỗi
miếng ăn như vậy có khả năng trị liệu và nuôi dưỡng.
Ăn
cơm như như thế nào để có sự an lạc, thảnh thơi, có tình
huynh đệ trong khi ăn, thì ăn cơm mới đúng là thiền. Vì
vậy trong khi ăn chúng ta không nói chuyện để chúng ta quán
chiếu. Ăn cơm có thể là một thời gian có hạnh phúc. Có
khi chỉ cần mười lăm, hai mươi phút để ăn cơm, chúng ta
phải ăn như thế nào để thời gian đó là thời gian mà ta
có hạnh phúc. Chúng ta ăn chậm, nhai cho kỹ và cảm thấy
mình đang có hạnh phúc, ăn trong buổi sáng, buổi trưa hay
buổi chiều cũng vậy.
Mỗi
khi nghe tiếng chuông đại hồng hay chuông gia trì thì đang
nói gì chùng ta cũng phải ngưng lại dù là chúng ta đang nói
pháp hay đang pháp đàm. Chúng ta ngưng lại và trở về với
hơi thở:
Thở
vào, tôi ý thức được toàn thân với những đau nhức, những
căng thẳng.
Thở
ra tôi buông thư toàn thân.
Hoặc
là:
Thở
vào, tôi thích thú được thở vào.
Thở
ra, tôi thấy nhẹ nhàng.
Có
những bài kệ đã được phổ nhạc, chúng ta nên học thuộc
những bài kệ đó để thực tập trong khi ngồi, trong khi đi
hay trong khi ăn cơm.
Ăn
cơm trong bản môn
Nuôi
sống cả tổ tiên
Mở
đường cho con cháu
Cùng
tìm lối đi lên
Trong
khi ăn cơm thì mình nuôi tổ tiên trong mình. Tổ tiên mình
đang còn sống, đang có mặt trong mỗi tế bào của cơ thể
mình. Mỗi miếng cơm là để nuôi cha, nuôi mẹ, nuôi tổ tiên,
chứ không phải chỉ nuôi hình hài riêng của mình. Ăn cơm
như vậy là ăn cơm với tình thương. Khi mình đưa vào cơ
thể những chất độc như là ma túy thì tội nghiệp cho tổ
tiên mình. Ăn với tình thương là sự thực tập của mình.
Xin
chúc các bạn trẻ ngủ ngon đêm nay. Sáng mai thức dậy, mình
sẽ được ngồi yên chung với nhau, mình ngồi cho cha, mình
ngồi cho mẹ.
Ba
ơi, ba thở với con! Hai cha con mình cùng thở.
Mẹ
ơi, mẹ thở với con! Hai mẹ con mình cùng thở.
Thở
vào, con thấy khỏe! Mẹ có thấy khỏe với con không?
Mình
thực tập như vậy! Có nhiều bài rất hay, mai mốt quí vị
sẽ học thêm. Quí vị ngủ cho ngon. Sáng mai gặp lại mình
sẽ ngồi thiền chung, mình sẽ ăn sáng chung và đi thiền hành
chung.
Thở
vào tôi biết tôi còn trẻ
Tám
mươi ba tuổi cũng còn trẻ (cười). Ngày xưa, cách đây bảy
mươi năm, hồi tôi còn là học tăng ở chùa Báo Quốc - Huế,
có vị Hòa thượng trú trì tên là Phước Hậu, người gốc
Thanh Hóa làm thơ rất hay, thơ của ngài có bài:
Kinh
điển lưu truyền tám vạn tư,
Học
hành không thiếu cũng không dư.
Năm
nay tính lại chừng quên hết,
Chỉ
nhớ trên đầu một chữ Như (Như thị ngã văn).
Và
bài :
Tám
trăm tuổi mới già
Tám
chục cũng chưa tra (già)
Ngày
xưa ông Bành Tổ sống tới tám trăm tuổi tuổi thì mới tạm
gọi là già, còn bây giờ mình mới tuổi tám mươi, chưa già.
Thở
vào tôi thấy tôi đang còn trẻ
Thở
ra tôi mỉm cười với sự sống của tuổi trẻ trong tôi
Tuổi
trẻ đi qua rất là mau. Nếu mình đang còn trẻ mà mình không
hưởng sự tươi mát, nguồn năng lực của tuổi trẻ thì
uổng lắm.
Thở
vào tôi thấy tôi còn trẻ
Thở
ra tôi mỉm cười với tuổi trẻ của tôi.
Pháp thoại
ngày 25.04.2008
Kính
thưa đại chúng, hôm nay ngày 25 tháng 4 năm 2008, chúng ta đang
ở tu viện Bát Nhã, trong khóa tu cho người trẻ với chủ
đề: Lắng nghe để hiểu, Nhìn lại để thương.
Nuôi
con từ khi con chưa chào đời
Chúng
ta hãy tưởng tượng một cặp vợ chồng trẻ đang cãi nhau,
đang làm khổ nhau và họ có một đứa bé mới sinh được
sáu tháng, đang nằm trong nôi. Người chồng đôi khi có năng
lượng của sự giận dữ, sự bực tức, nói ra những câu
có thể làm thương tổn người vợ và người vợ trong lúc
đau khổ cũng tìm cách trả lời chồng bằng những lời rất
khó nghe. Hai vợ chồng trẻ phát ra năng lượng không lành
mạnh. Họ nghĩ rằng em bé sáu tháng làm sao biết được,
thấy được sự bất hòa của hai vợ chồng? Nhưng mà sự
thật, em bé cảm thấy được. Tuy nó không hiểu, chưa hiểu
được ba nói má cái gì, má ray rức ba cái gì? Nhưng nó cảm
nhận được không khí bất an, nặng nề, ngột ngạt trong
gia đình. Và như vậy em bé đã bắt đầu khổ từ hồi sáu
tháng, từ hồi chưa đầy một tuổi.
Có
nhiều người trong chúng ta đã khổ từ trong bụng mẹ, chưa
sinh ra đã thấy khổ rồi. Những lời đay nghiến, buộc tội,
chua chát của người cha đã đi vào người mẹ. Những cảm
xúc, buồn tủi, giận hờn, tuyệt vọng của người mẹ đã
thấm vào trong thai nhi. Cho nên nếu mình có ý hướng lập
gia đình để sinh con, đẻ cháu, nối tiếp của dòng họ,
mình phải chuẩn bị trước. Hôn nhân là bước đường có
chông gai chớ không phải là không.
Tôi
có đứa cháu gái lấy chồng ở Pháp, rồi hai vợ chồng sang
bên Hoa kỳ để sinh sống. Cháu tôi được học thở, học
cười, học buông thư từ hồi mười sáu tuổi (do chính tôi
dạy). Khi bác sĩ cho biết là cháu có mang em bé thì cháu bắt
đầu tụng kinh Pháp Hoa, tập thiền hành, nuôi em bé bằng
hơi thở, bằng bước chân và bằng những lời kinh Pháp Hoa.
Nuôi con ngay từ khi con mới tượng hình. Nếu biết nuôi con
như vậy thì tuy rằng con chưa sinh ra nhưng đã được hưởng
những thực phẩm ngọt ngào, trong lành, mát mẻ của người
mẹ. Người chồng biết vợ mình đang mang trong người chứng
tích của tình yêu “một đứa con”. Tất cả những gì mình
nói, mình làm đều có ảnh hưởng tới đứa con dầu con mình
mới được tượng hình. Đó là cái thấy rất là sâu.
Bà
mẹ trẻ biết mình sắp có con, phải cẩn thận lắm mới
được. Những gì mình ăn sẽ ảnh hưởng đến đứa con,
thành ra phải chọn những thức ăn rất là lành. Nếu mình
uống rượu, hút thuốc, nếu mình có những đau buồn, sợ
hãi, sầu khổ, lo lắng con mình sẽ lãnh đủ hết. Giữa đứa
con và mình có một liên hệ rất là mật thiết, mình chuyền
cho đứa con qua một cuống nhau không những thực phẩm vật
chất mà còn thực phẩm tinh thần nữa. Những buồn tủi,
sầu khổ, lo lắng của mình, mình cũng chuyền cho con và những
thảnh thơi, an lạc mình cũng chuyền cho con. Mình nuôi con từ
khi con chưa ra đời. Mình là người con trai cũng vậy, mình
biết rằng sau này mình sẽ lập gia đình với một người
con gái và thế nào mình cũng có con. Mình phải chuẩn bị
trước để khi có con thì đứa con không có khổ.
Gia
tài quí giá nhất mà cha mẹ
để
lại cho con là hạnh phúc của chính cha mẹ
Ở
bên Đức, chúng tôi đang thành lập Viện Phật học Ứng Dụng
Âu Châu. Trong những khóa học mình mở ra có khóa dành cho
những thanh niên, thiếu nữ trẻ sắp thành lập gia đình.
Chuẩn bị cho họ đàng hoàng để họ đừng có làm những
lỗi lầm khi họ về với nhau như những cặp vợ chồng khác.
Tôi mong rằng các thầy, các sư cô ở tu viện Bát Nhã cũng
mở những khóa như vậy cho những người trẻ. Một khóa tu
đặc biệt dành cho thanh niên, thiếu nữ sắp lập gia đình,
ít nhất là hai mươi mốt ngày [1].
Khi
nói chuyện với những người trẻ, ai cũng đồng ý một điều
là: gia tài quí giá nhất mà cha mẹ có thể để lại cho con
là hạnh phúc của chính cha mẹ. Nếu mà cha biết thương yêu
làm hạnh phúc cho mẹ và mẹ biết chăm sóc, lo lắng cho cha.
Giữa hai vợ chồng có sự hòa thuận, có niềm tin, có được
hạnh phúc thì đó là món quà lớn nhất có thể để lại
cho con. Nếu chúng ta làm khổ nhau thì chúng ta không có gì
quý hóa để lại cho con. Con chúng ta không cần chúng ta để
lại ruộng đất, nhà cửa, tiền bạc, con chúng ta có thể
tự mình làm ra những cái đó. Nhưng cái quí nhất mà chúng
ta có thể để lại cho con là hạnh phúc của chính chúng ta,
của hai vợ chồng.
Món
quà quí giá nhất mà ba mẹ để lại cho chúng con là hạnh
phúc của ba má. Đó là tiếng nói của người trẻ. Ba má
ơi, đừng làm khổ nhau nữa! Con khổ lắm! Từ hồi mới ba
tháng, sáu tháng con đã khổ rồi. Có những lúc ba má cãi
nhau, làm khổ nhau, con chịu không nổi, con không biết trốn
vào đâu, con mở cửa cầu tiêu, con vô, con đóng lại, con
khóc một mình ở trong đó. Ba má đâu có biết. Ba má làm
khổ nhau thì con khổ cho nên thương con là phải thương từ
khi con chưa ra đời.
Muốn
thương thì phải hiểu. Ở trong đạo Bụt, cái Bi đi với
cái Trí. Không có Trí thì không có Bi, không có Bi thì không
có Trí. Bi là thương, Trí là hiểu. Nếu mình không hiểu được
những khó khăn, những khổ đau, những ước vọng của người
kia thì làm sao mình thương người kia được. Cho nên mình
yêu ai mình phải có thì giờ để lắng nghe người đó, nhìn
kỹ người đó để nhận diện ra những khổ đau, những khó
khăn của người đó. Những khó khăn, khổ đau đó có thể
đã bắt đầu từ khi người đó còn một, hai tuổi.
Các
bạn nào đã học về Tâm lý học, Phân tâm học biết rất
rõ điều đó. Những hành xử, những nói năng, những tư duy
của mình có gốc rễ từ hồi mình còn ấu thơ. Những hạt
giống đau khổ đã được trồng vào trong đất tâm của mình
từ hồi mình còn ấu thơ. Cho nên sở dĩ người kia nói năng,
hành xử không dễ thương thì có lẽ là từ hồi ấu thơ,
những hạt giống của khổ đau đã được gieo trồng và từ
đó tới nay, mấy chục năm chưa có cơ hội được gặp gỡ
chánh pháp, gặp thầy, gặp bạn, chưa biết cách nhận diện
hạt giống đau khổ đó để chuyển hóa. Và khi thấy như
vậy thì mình không trách móc nữa, mình có thể thương được,
mình có thể giúp người đó chuyển hóa những hạt giống
khổ đau đang còn ở trong tâm.
Chính
mình cũng vậy, mình cũng có thể có những hạt giống của
khổ đau, của bức xúc ở trong lòng. Lâu nay mình đã từng
nói những câu nói không có tình, không có nghĩa, những câu
nói có khả năng làm đổ vỡ. Mình có những hành động gây
đổ vỡ vì ở trong mình có những hạt giống của khổ đau.
Hôm nay gặp được chánh pháp, thấy được phương pháp thực
tập, mình có cơ duyên nhận diện, ôm ấp và chuyển hóa lấy
những hạt giống của khổ đau, giận hờn. Nếu mình làm
được, mình sẽ giúp cho người kia làm được và nhiều khi
người con có thể giúp được cho người cha. Hôm qua mình
có nói chuyện về một đứa con gái, sau khóa tu đã về độ
được cho ba, cho má. Ba má chưa có cơ duyên gặp gỡ chánh
pháp, ba má chưa biết nhận diện và chuyển hóa những hạt
giống khổ đau, bức xúc ở trong lòng, rất là tội nghiệp
cho ba má.
Chúng
ta biết rằng có những người cha rất thương con nhưng không
hiểu con, không hiểu được những khổ đau, bức xúc của
con. Cứ ép con làm cái này, làm cái kia. Cứ nhân danh tình
thương mà làm như vậy và càng thương thì con mình càng khổ.
Thương mà không hiểu chỉ làm cho người thương của mình
khổ thêm. Người cha có thể tới với người con và nói rằng:
Con ơi, thật tình, ba có bao giờ muốn cho con khổ đâu? Ba
muốn cho con có hạnh phúc nhưng tại vì ba chưa thấy được
những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc, những ước
vọng của con, cho nên ba đã ép con thế này, thế kia. Ba rất
là hối hận. Ba không muốn làm cho con khổ nữa, vậy con nói
cho ba nghe tất cả những khó khăn, những bức xúc, những
ước mơ của con để ba có thể hiểu được con, để ba có
thể thương con được.
Người
cha có khả năng nói với đứa con những câu như vậy. Trong
đạo Bụt gọi là ái ngữ. Người vợ cũng có thể nói với
chồng như vậy: Này anh ơi, em biết rằng anh có những khó
khăn, những bức xúc, những khổ đau mà lâu nay em không thấy
được, không hiểu được cho nên em đã làm cho anh khổ. Thật
tình em không muốn nhưng tại vì em không hiểu được những
đau khổ, những bức xúc của anh cho nên em mới phản ứng
như vậy. Anh phải giúp em, nếu anh không giúp em thì ai giúp
em nữa bây giờ? Anh nói cho em những khó khăn, những khổ
đau, những bức xúc của anh để em có thể hiểu, có thể
thương anh được. Nếu người vợ nói được với người
chồng như vậy thì người chồng sẽ mở cánh cửa trái tim
của mình ra và nói cho người vợ nghe những khó khăn, những
khổ đau, những bức xúc của mình.
Chúng
ta bận rộn quá, chúng ta lo làm ăn, chúng ta không có thì giờ
ngồi với nhau để lắng nghe nhau. Không lắng nghe nhau thì
không hiểu được nhau, cứ tiếp tục làm khổ nhau và làm
khổ những đứa con của mình. Có thể chúng ta đem về nhiều
tiền, đủ tiền hay là dư tiền nữa nhưng chúng ta vẫn khổ
như thường tại vì chúng ta để hết thì giờ để lo chuyện
làm ăn, lo chuyện kiếm tiền, chúng ta không có thì giờ cho
tình thương. Mà tình thương là gì? Tình thương là: lắng
nghe để hiểu, nhìn lại để thương. Trong đạo Bụt có pháp
môn gọi là Lắng nghe (đế thính) và pháp môn Ái ngữ, tức
là nói những lời nhẹ nhàng.
Mình
có thể nói cho người kia biết những khổ đau, những uất
ức của mình nhưng mình phải nói bằng giọng ái ngữ. Mình
có bổn phận phải nói cho người thương của mình biết những
khó khăn, khổ đau của mình. Nhưng nói làm sao để cho người
kia có thể nghe được, có thể hiểu được. Nếu mình nói
bằng giọng buộc tội, lên án, chua chát, cay cú thì người
kia không đủ sức nghe, nghe chừng năm phút là dội liền.
Cho nên ái ngữ rất cần.
Người
chồng cần phải học phương pháp ái ngữ để nói cho người
vợ nghe tất cả khó khăn, khổ đau của mình. Nói một
giờ chưa đủ thì nói hai giờ, nói một ngày chưa đủ thì
nói hai ngày nhưng lời nói đó không có tính cách lên án,
buộc tội, chua chát, cay đắng thì người kia mới có khả
năng nghe được. Chớ còn người kia cũng có hạt giống của
khổ đau, của giận hờn mà nếu mình nói bằng giọng chua
chát, phê bình, chỉ trích, lên án thì trong khi mình nói, mình
tưới tẩm những hạt giống bực bội, tức tối của người
kia thì người kia nghe được năm phút là dội, không thể
nghe mình được nữa. Cho nên mình phải học nói lời ái ngữ,
nói hết sự thật nhưng nói bằng giọng ái ngữ mà chỉ cần
thực tập vài ba ngày là có thể làm được như vậy.
Phương
pháp gỡ bom
Có
một bà người Công giáo vì không truyền thông được với
ông chồng nên bà có ý định muốn tự tử. Ông không hiểu
bà, ông làm khổ bà. Con người của ông dồn chứa đầy sự
giận dữ, bực bội, giống như trái bom sắp nổ. Mấy đứa
con không dám tới gần cha, bà vợ cũng không không dám tới
gần chồng. Có bữa ông giận dỗi, ông xô cái bàn ăn, cơm
nước rơi xuống hết. Giận đến như vậy. Sự bực tức,
sự bạo động của ông đã dồn chứa lâu ngày thành ra ai
cũng sợ, không ai dám tới gần. Ông có cảm tưởng rằng
vợ con ông đều tẩy chay ông hết, nên ông càng giận thêm
nữa. Tại họ sợ ông chứ đâu phải họ tẩy chay.
Sống
trong tình trạng đó nhiều tháng, nhiều năm bà tuyệt vọng
quá thành ra bà có ý định muốn tự tử. Bà quen thân với
một bà Phật tử nên kể cho bà này nghe về ý định của
mình. Bà Phật tử biết rõ hoàn cảnh của bạn mình nên mới
đề nghị: Chị ơi, cuốn băng giảng này của Thầy em, thầy
em dạy về phương pháp gỡ bom, chị mở ra nghe thử xem có
giúp ích được gì không? Bà Công giáo là người sùng đạo
nên cũng hơi giáo điều, nói mình là người đạo Chúa mà
nghe băng giảng về đạo Phật, chắc là không nên, thành ra
bà không chấp nhận.
Nhưng
tới bữa đó, bà muốn tự tử thiệt, bà điện thoại cho
bà bạn Phật tử. Bà Công giáo nói: chiều nay em chết. Bà
Phật tử được tin, cố gắng tìm cách để giúp bạn mình
lần cuối: Chết thì chết nhưng trước hết phải tới thăm
em cái đã, thăm em xong rồi hãy chết. Bà Công giáo nói: Ok!
Bà
lấy taxi tới. Bà Phật tử rót trà mời bạn rồi nói: Chị
nói em là người bạn duy nhất trong đời của chị, vậy mà
em chỉ yêu cầu chị có một chuyện thôi là chị nghe
bài giảng này của Thầy em “phương pháp gỡ bom”, sau đó
chị muốn chết thì chết mà chị không làm. Vậy thì chị
đâu có coi em là bạn thân duy nhất trên đời của chị nữa.
Bà này nghe nói động lòng: thôi được, mình nghe xong cuốn
băng rồi mình về mình chết cũng được. Cuốn băng giảng
về Nghệ Thuật Gỡ Bom, về phương pháp giúp buông bỏ những
giận hờn, bực bội, căng thẳng bị dồn chứa lâu ngày.
Khi
bà Công giáo chấp nhận thì bà Phật tử rất là mừng. Bà
kéo màn, đóng hết mấy cánh cửa lại rồi rút lui để bà
Công giáo ở lại một mình nghe băng giảng. Bà Công giáo là
người trí thức, đã đậu tiến sĩ rồi. Ông cũng đậu tiến
sĩ rồi nhưng mà hai bằng tiến sĩ không giúp cho họ có hạnh
phúc. Mấy đứa con đều học đại học, sắp ra trường,
ở nhà không túng thiếu vậy mà không có hạnh phúc gì hết.
Khổ đến nỗi người vợ không còn muốn sống trên cõi đời
này nữa.
Trong
khi nghe cuốn băng thì bà khám phá nhiều điều mới lạ. Lâu
nay bà tưởng chỉ có bà là khổ thôi và ông là người làm
khổ bà. Ai dè, nghe cuốn băng, bà thấy rất rõ: mình khổ,
ông cũng khổ. Mà ông khổ như vậy, không phải là do chính
ông mà mình cũng có đóng góp một phần vào cái khổ của
ông. Bà thấy được phần trách nhiệm trong sự đau khổ của
người chồng.
Nói
như vậy nghĩa là trong khi bà nghe băng giảng thì bà giác ngộ.
Giác ngộ không phải là chuyện gì ghê gớm lắm đâu, giác
ngộ tức là bắt đầu hiểu. Có những giác ngộ lớn và
những giác ngộ nho nhỏ mà những giác ngộ nho nhỏ đưa tới
giác ngộ lớn. Cuốn băng đó giúp mình thấy rõ được sự
thật: trước hết không phải chỉ mình là nạn nhân mà ông
cũng là nạn nhân, không phải chỉ mình khổ mà ông cũng khổ.
Trong cái khổ của ông, mình có đóng góp chớ không phải
không. Tại vì khi mới cưới nhau về, hai người nói với
nhau những lời ngọt như mật mà trước khi cưới lại còn
ngọt hơn mật nữa: Em ơi, nếu không có em thì đời anh đâu
có nghĩa gì đâu? Nếu không có em, chắc anh chết quá! Nhưng
sau này mình suy nghĩ ngược lại: Trời ơi, sống với ông
này một trăm năm chắc mình chết quá, như bị ở tù chung
thân.
Nghe
cuốn băng phật pháp thì có cơ hội quán chiếu trở lại
để thấy rằng: năm, sáu năm nay mình chưa bao giờ nói với
ông được lời ngọt ngào như ngày xưa. Ngày xưa viết những
lá thơ rất ngọt ngào, nói những câu rất ngọt ngào nhưng
bây giờ tại sao mình không nói được như vậy nữa? Tại
vì mình chứa chấp nhiều bực bội, nhiều khổ đau, mình
đánh mất khả năng nói những lời ngọt ngào. Khi mình không
nói được những lời ngọt ngào và ái ngữ thì mình đánh
mất sự truyền thông giữa hai bên. Khi hai bên không truyền
thông được nữa thì chứa chấp những tri giác sai lấm về
nhau. Ban đầu là người bạn, bây giờ là người thù, nhìn
nhau với đôi mắt thù nghịch. Lâu nay mình cứ nghĩ rằng
sở dĩ mình khổ là tại vì người đó, người đó là người
làm cho mình khổ. Sau khi nghe xong cuốn băng, mình thấy rõ:
cái khổ của mình là do mình một phần lớn và cái khổ của
người kia cũng do mình một phần.
Phương
pháp hay nhất để có thể gỡ bom là lắng nghe những khổ
đau, những khó khăn, những bức xúc của người kia. Khi lắng
nghe được một giờ đồng hồ thì người kia đỡ khổ rất
nhiều. Ở trong đạo Phật có đức Quan Âm rất giỏi trong
chuyện lắng nghe. Quán âm tức là lắng nghe tiếng nói của
cuộc đời. Đức Bồ Tát Lắng Nghe tức là Bồ Tát Quan Thế
Âm, vị Bồ tát lắng nghe với lòng từ bi. Mình biết là người
kia có những khổ đau, mình ngồi lắng nghe cho người kia bớt
khổ gọi là Bi thính, Bi thính là nghe với lòng từ bi.
Thành
ra khi người vợ nói người chồng: anh ơi, em biết rằng trong
anh có những bức xúc, khổ đau, khó khăn mà em chưa hiểu
được, em rất muốn lắng nghe anh, anh nói cho em nghe đi, những
khổ đau, bức xúc của anh để em có thể hiểu, để em có
thể thương anh được, anh giúp cho em đi. Đó gọi là ái ngữ.
Khi người chồng nghe những lời nói đó, tự nhiên trái tim
mở ra vì lâu nay ông chưa bao giờ nghe bà nói với ông được
một câu như vậy.
Tự
nhiên nghe xong cuốn băng, bà Công giáo muốn về thực tập
“gỡ bom” liền nhưng bà Thật tử can: chưa được đâu
chị ơi, chị đang còn yếu lắm, chị chưa có thực tập,
chị lắng nghe ông chừng mười phút rồi chị nổi sân si
lên là hư bột hư đường hết. Chị phải thực tập ít nhất
là một tuần lễ mới có thể gỡ bom được, chớ không bom
nổ tan xác chị luôn. Thầy em sắp qua Mỹ, sẽ mở hai khóa
tu, một khóa cho người Mỹ và một khóa cho người Việt,
chị ghi tên vào khóa tu nói tiếng Việt đi, sau khóa tu sáu
ngày đó em nghĩ chị mới có thể về thực tập gỡ bom được.
Bà Công giáo đó chấp nhận.
Trong
khóa tu đó bà Công giáo đó là một trong những người thực
tập giỏi nhất, giỏi hơn rất nhiều Phật tử. Tuy mình là
Phật tử lâu đời rồi nhưng mình thực tập sơ sơ, không
đem hết lòng ra thực tập, vì vậy chưa chắc mình là người
Phật tử mà mình thực tập hay bằng người Công giáo. Đối
với bà Công giáo này đây là vấn đề sống chết cho nên
đem hết tất cả tâm hồn ra thực tập, nào thở, nào buông
thư, nào nhận diện những tâm hành giận dữ, bức xúc, tuyệt
vọng của mình. Sau sáu ngày thực tập, bà cảm thấy người
bà nhẹ ra vì những hạt giống của hiểu, của thương được
tưới tẩm. Bà thấy rất là tội nghiệp cho ông chồng, bà
muốn trở về để cứu lấy ông của chồng mình. Khi có ý
định cứu vớt, giúp đỡ thì mình đã thành vị Bồ tát
rồi. Trở thành vị Bồ tát không phải là chuyện quá khó
như mình tưởng tượng đâu? Khi lòng mình có tình thương,
muốn giúp cho người kia bớt khổ là mình đã trở thành vị
Bồ tát nhỏ rồi. Không phải là chuyện xa xôi đâu!
Ái
ngữ và lắng nghe
Đêm
đó, bà về, bà đi những bước chân rất là nhẹ, thở những
hơi thở rất là nhẹ. Bà đã học được phương pháp lắng
nghe, đã học được phương pháp ái ngữ rồi, bà quyết tâm
về thực tập để gỡ bom cho chồng, bà áp dụng đúng những
điều bà thực tập trong khóa tu: Ông ơi, tôi biết là năm,
sáu năm nay ông khổ lắm. Tôi đã không giúp được gì ông
mà tôi còn làm cho tình trạng tệ hại hơn, tôi đã trách
móc, tôi đã đay nghiến ông. Tôi hối hận lắm, tôi đâu
có muốn làm cho ông khổ đâu nhưng tại vì tôi chưa hiểu
được những nỗi khổ, niềm đau của ông cho nên tôi mới
dại dột như vậy. Ông hãy tha thứ cho tôi. Ông phải giúp
tôi mới được, ông phải nói cho tôi nghe những khổ đau,
những khó khăn, những bức xúc của ông để cho tôi hiểu
(nếu không hiểu thì làm sao thương được). Tội nghiệp tôi
lắm, ông giúp cho tôi đi.
Bà
về, bà nói được như vậy và quý vị có biết là chuyện
gì xẩy ra không? Ông ôm mặt, ông khóc, khóc như đứa con
nít. Tại vì lâu nay, sáu bảy năm trời nay bà chưa bao giờ
nói với ông với giọng nhẹ nhàng như vậy! Nói toàn giọng
bà chằng không hà, đay nghiến, chua chát, trách móc, lên án,
buộc tội.
Khi
mình dùng ái ngữ thì mình mở được cánh cửa trái tim của
người kia. Khi bà thấy ông khóc thì bà biết là có hy vọng,
trái tim đã mở rồi, không có đóng im ỉm, khóa lại mười
lần như trước nữa. Bà thấy được thế, bà đi tiếp nữa:
Tội nghiệp tôi mà ông, tôi khổ lắm, tôi đâu có muốn làm
cho ông khổ đâu. Tại tôi chưa hiểu được ông, ông thương
tôi đi, ông nói cho tôi nghe đi. Và bắt đầu ông nói những
khó khăn, khổ đau của ông cho bà, bà lắng nghe. Trong khi ông
nói, bà nhận thấy ông có nói nhiều điều rất sai lầm,
ông có những tri giác rất sai lầm. Nhưng bà không nói gì
hết, tại vì bà biết nếu bà cắt lời ông, bà sửa sai ông
ngay lúc đó, ông mất hứng, ông sẽ không nói nữa. Điều
này bà học được trong khóa tu.
Trong
khi mình lắng nghe, mình phải thở và mình phải nhắc mình
rằng lắng nghe như vậy chỉ với mục đích duy nhất là cho
người kia có dịp tuôn ra hết những sầu khổ trong trái tim
để cho người kia bớt khổ. Mà nếu mình tìm cách sửa sai,
cắt đứt người ta trong khi người ta nói, thì người ta không
có cơ hội nói nữa. Cho nên dầu người kia có nói những
lời buộc tội, có những tri giác rất là sai lầm, có những
lời nói có vẻ chua chát hoặc là lên án, mình vẫn tiếp
tục lắng nghe. Mình nói rằng ông này có những tri giác sai
lầm nhưng mà bây giờ mình không được phép cắt lời ông
hoặc sửa sai ông. Đời còn dài, có thể tuần sau, tuần sau
nữa mình sẽ có dịp cho ông biết, sẽ cho ông một số thông
tin để ông có thể chỉnh lý lại nhận thức của ông nhưng
bây giờ thì không, bây giờ chỉ lắng nghe thôi.
Bằng
tiến sĩ phải học đến bảy, tám năm nhưng có tháo gỡ được
trái bom không? Mà khóa tu chỉ có sáu ngày thôi mà bà tháo
được trái bom. Đêm đó ông có dịp nói cho bà nghe tất cả
những khó khăn, khổ đau của ông. Tuy trong lời nói của ông
có những tri giác sai lầm về bản thân, cũng như về bà,
nhưng bà không cắt lời. Bà nói: tội nghiệp anh quá, vậy
mà em không biết. Em hứa từ đây về sau em không làm như
vậy nữa, không nói như vậy nữa. Chỉ cần nói chừng đó
thôi, rất là khéo léo.
Sự
tu tập hành trì cần sự khéo léo, tu là một nghệ thuật
chứ không phải lao tác hay lao động gì mệt nhọc đâu. Lắng
nghe, ái ngữ là một nghệ thuật. Một nghệ thuật rất cao.
Đêm
đó là đêm hòa giải, có tính cách trị liệu cho cả hai ông
bà. Tại vì ông nói ra được, bà giúp cho ông nói ra được,
giúp ông cất đi được gánh nặng trong lòng. Sự thành công
của bà rất lớn, dầu bà mới tu có sáu ngày, dầu bà không
phải là Phật tử, chưa quy y, chưa thọ trì năm giới. Có
nhiều người Phật tử quy y mười năm rồi, thọ năm giới
mười năm rồi nhưng đâu có thành công, vẫn sống trong địa
ngục với người chồng của mình và tiếp tục làm khổ những
đứa con.
Tôi
có những đệ tử như vậy, tôi rất hãnh diện, mới tu có
sáu ngày thôi mà đã giải quyết được vấn đề của mình,
của gia đình mình. Rất là hay!
Một
chứng tích của sự thành công là bà dụ được ông ghi tên
cùng với bà tham dự khóa tu thứ hai giảng bằng tiếng Anh
cho người Mỹ. Tại vì ông thấy bà vợ mình mới đi thực
tập có sáu ngày mà về thay đổi quá nhiều, ông tìm lại
được người đàn bà dịu dàng, ngọt ngào năm xưa. Và vì
vậy ông mới tin vào chánh pháp, tuy ông là người Công giáo,
ông chấp nhận ghi tên vào khóa tu dành cho những người Mỹ.
Cũng như bà, ông tu hết lòng. Chỉ sáu ngày thôi, tham dự
hết tất cả hoạt động của khóa tu: ngồi thiền, đi thiền,
ăn cơm trong im lặng, pháp đàm, buông thư, làm mới, nhận
diện, ôm ấp hạt giống khổ đau, chuyển hóa, học ái ngữ,
học lắng nghe.
Ở
Mai Thôn đạo tràng chúng tôi đã tổ chức hàng ngàn khóa
tu như vậy ở tại Âu châu và Mỹ châu. Cũng biết bao cặp
vợ chồng, cha con, mẹ con hoà giải với nhau được là nhờ
những khóa tu như vậy. Mình đừng có tưởng mình là người
Phật tử có quy y rồi, có thọ giới rồi là mình thực tập
giỏi hơn người Công giáo hay người Tin lành đâu, chưa chắc.
Người Tây phương họ không tu thì thôi, nhưng một khi họ
quyết định tu, họ tu rất đàng hoàng, họ không có tu khơi
khơi như mình. Trong buổi thiền trà để kết thúc khóa tu
thứ hai bằng tiếng Anh, ông ta chia sẻ: Thưa các vị thiền
sinh bạn, tôi xin giới thiệu với quí vị một vị Bồ tát
của đời tôi, người đã cứu tôi thoát khỏi địa ngục.
Vị Bồ tát đó là người này, là vợ tôi. Ông nói được
câu như vậy.
Sau
khóa tu đó rồi thì có một ngày tu quán niệm cho bốn ngàn
người ở tại một trung tâm. Hai ông bà rất vui, rũ ba đứa
con sinh viên cùng tham dự ngày quán niệm. Xong ngày quán niệm
rồi ông bà mới lại chào và kể lại cho chúng tôi nghe những
gì đã xẩy ra trong mấy tuần vừa qua, sự chuyển hóa của
gia đình, của hai vợ chồng và ba đứa con.
Trong
buổi nói chuyện với đồng bào, tôi nói rằng: người ta
là đạo Công giáo, người ta chưa quy y, chưa thọ giới, người
ta đi tu có sáu ngày thôi mà họ đã đạt được kết quả
như vậy, hòa giải được giữa hai vợ chồng, hòa giải được
giữa người chồng và các con thì mình là người Phật tử
chắc chắn mình cũng làm được như vậy, ít nhất cũng bằng
vậy. Chúng ta không để cho tình trạng khổ đau kéo dài, chúng
ta đừng để địa ngục giam hãm cuộc đời ta. Chúng ta có
pháp môn, chúng ta có chìa khóa để mở cửa địa ngục, phá
địa ngục. Chìa khóa đó là ái ngữ, là lắng nghe. Lắng
nghe để hiểu được những khổ đau, những khó khăn. Nhìn
lại để thấy được những khó khăn, những khổ đau của
người mình thương. Mình nhìn bằng con mắt từ bi, mình nghe
bằng lỗ tai từ bi, mình giúp nhau điều chỉnh lại những
nhận thức sai lầm mà mình có về nhau, mình đã hiểu lầm
nhau. Do mình hiểu lầm nhau nên mình coi nhau như thù nghịch.
Vì vậy xin các vị thiền sinh, nhất là các bạn trẻ trong
khóa tu này làm sao học và nắm cho được phương pháp ái
ngữ và lắng nghe. Không khó lắm đâu, làm được!
Tôi
nhớ có một khóa tu ở miền Bắc nước Đức dành cho sáu
trăm người Đức. Tới cuối ngày tu thứ năm, sau khi đã học
chuyện ái ngữ, lắng nghe, buông thư, ôm ấp và nhận diện
khổ đau thì tôi mới ra một bài tập là: Thưa quí vị thiền
sinh, từ giờ này đến mười hai giờ khuya ngày hôm nay, quí
vị đem áp dụng liền những gì mà quí vị học để
hòa giải với những người thân mà quí vị đang khó khăn.
Quí vị được phép sử dụng điện thoại di động để thực
tập ái ngữ và lắng nghe. Xin quí vị áp dụng phương pháp
lắng nghe và ái ngữ để hòa giải cho được với những
người thân mà quí vị có khó khăn và hạn chót là mười
hai giờ khuya đêm nay. Trong khóa tu thường thường không có
được đọc sách, không có được coi ti vi, không được nghe
radio, không được nghe nhạc, không được sử dụng điện
thoại là để cho có thì giờ hạ thủ công phu vào trong khóa
tu, còn nếu mình sử dụng radio, điện thoại, mp3, máy vi tính,
mạng lưới thì làm sao mà tu được thì cho nên phải dẹp
hết những thứ đó mới tu được.
Sáng
hôm sau, có bốn người Đức khoảng từ ba mươi đến bốn
mươi tuổi lên báo cáo là tối hôm qua họ đã dùng điện
thoại di động, họ thực tập lắng nghe và ái ngữ, họ đã
hòa giải được với ba của họ. Họ nói: lạ quá con không
ngờ rằng con có thể nói với ba con bằng những lời nói
nhẹ nhàng và dịu dàng như vậy. Trước khóa tu con không nghĩ
rằng con nói được những lời ái ngữ như vậy, chỉ năm
ngày tu thôi mà tâm con dịu đi, trận mưa đã làm thấm ướt
mảnh đất tâm của con và tự nhiên con có khả năng nói được
những lời nói dịu dàng. Con đã gỡ ra được và ba con với
con đã hòa giải với nhau. Con xin báo tin để cho Thầy mừng.
Và tôi biết chắc chắn có người khác cũng làm được như
vậy nhưng họ mắc cỡ, họ không dám lên báo cáo thôi. Tôi
cũng còn nhớ khóa tu ở Macao, Hồng Kông có một bà sau khi
thực tập báo cáo đã dùng điện thoại hòa giải được
với con, hòa giải được với chồng nhờ phương pháp lắng
nghe và ái ngữ.
Mình
phải thở, phải buông thư và nhận diện những khổ đau trong
lòng của mình, phải nhìn cho kỹ, lắng nghe cho rõ để có
thể thương được người kia, khi đã thương rồi thì nói
lời ái ngữ rất là dễ dàng. Có một sự thật, sự thật
hiễn nhiên là không hiểu là không thể thương được. Phải
hiểu những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc về
những tri giác sai lầm của người kia. Khi người kia có tri
giác sai lầm mà mình trừng phạt cũng không ích lợi gì, mình
phải hiểu để tìm cách gỡ rối cho họ, giúp họ điều
chỉnh lại những tri giác sai lầm của họ. Và làm sao giúp
họ điều chỉnh lại những tri giác sai lầm của họ được
nếu mình không lắng nghe? Cho nên có thì giờ để lắng
nghe người kia rất là quan trọng.
Cha
ngồi lắng nghe con hoặc con ngồi lắng nghe cha: Ba ơi, ba có
những bức xúc, những khó khăn, những khổ đau lâu ngày mà
ba không nói ra được, do đó ba khổ rất nhiều và ba đã
làm khổ má. Con đâu muốn ba khổ, trong quá khứ có lần con
đã cứng đầu, con đã phản ứng, con đã thách đố ba là
cũng tại vì con dại dột, con chưa thấy những khổ đau, khó
khăn của ba, con hối hận lắm. Ba nói cho con nghe đi để con
có thể hiểu và thương ba hơn. Nếu mình nói được như vậy
thì ba mình sẽ nói cho mình nghe những khó khăn, những khổ
đau. Trong khi mình lắng nghe mình mới thấy được ba mình
có những điểm sai, những chỗ sai rồi vài tuần sau mình
dùng cách khéo léo, cung cấp cho ba những dữ kiện, những
thông tin giúp cho ba điều chỉnh lại nhận thức của ba để
ba hết giận, ba hết buồn. Hiểu lầm là chuyện cơm bửa,
phải giúp nhau điều chỉnh nhận thức, tri giác sai lầm.
Đức
Thế Tôn dạy tất cả những khổ đau của ta đều phát xuất
từ vọng tưởng, vọng tưởng tức là tri giác sai lầm.
Trong tâm kinh có dùng chữ viễn ly, điên đảo, vọng tưởng.
Viễn ly là xa lìa. Điên đảo là chống ngược lại, trắng
cho là đen, đen cho là trắng, cao nói là thấp, thấp nói là
cao. Vọng tưởng tức là tri giác sai lầm, tưởng là tri giác,
vọng là sai lầm. Trong ta có vọng tưởng, có tri giác sai lầm,
trong người ta thương cũng có vọng tưởng, cũng có tri giác
sai lầm và vì những vọng tưởng, vì những tri giác sai lầm
mà ta làm khổ nhau cho nên mình yêu ai, mình thương ai phải
giúp cho người kia điều chỉnh những tri giác sai lầm của
họ, lấy ra khỏi họ những cái vọng tưởng. Mà mình phải
tự lấy vọng tưởng của mình ra và đôi khi mình còn cầu
cứu người kia giúp cho mình để mình có thể lấy tri giác
sai lầm của mình ra nữa.
Thương
là hiến tặng niềm vui và hạnh phúc
Ở
bên tiểu bang California có một anh chàng rất là đẹp trai,
tốt nghiệp đại học, thông minh, ra làm giám đốc một hãng
lớn, lương rất cao, nhà cửa rất là đẹp và có nhiều bạn
gái rất là xinh đẹp. Nhưng bà mẹ, bà quan sát thì bà thấy
thấy anh chàng này đặc biệt chú ý tới một cô, theo bà
cô này đâu phải xinh nhất đâu? Có nhiều đứa rất là ngộ,
rất là xinh mà nó không để ý, nó chỉ để ý cô này, cái
cô hơi đen và hơi thấp một chút. Bữa đó bà nói chuyện,
tâm sự với con: con ơi, má thấy nhiều đứa ngộ quá, đẹp
quá, xinh quá mà tại sao con không để ý đến mà để ý đến
con nhỏ này. Anh chàng không trả lời được. Nhưng sau đó
(ngủ một đêm), trong buổi ăn sáng, anh ta tìm ra câu trả
lời: Má ơi, tại vì nó hiểu con đó má.
Anh
ta là nhà khoa học nhưng anh ta cũng ưa làm thơ và mỗi khi
đọc thơ cho bạn nghe thì chính cô nàng này lắng nghe và nói
ra những câu chứng tỏ đã hiểu được rất sâu sắc tình
cảm, tư duy của anh ta. Anh ta tìm được người tri kỷ, tìm
được người hiểu mình. Cô bạn gái đó, tuy da không trắng
(hơi ngâm ngâm đen), không xinh bằng mấy cô khác nhưng cô
này hiểu được mình, là người sẽ mang lại cho mình nhiều
niềm vui và hạnh phúc.
Câu
này là tôi nói cho những người trẻ. Phải cẩn thận, đừng
để bóng dáng bên ngoài đánh lừa mình, đừng bị bằng cấp
xã hội hay bóng sắc bên ngoài đánh lừa mình, phải nhìn
cho kỹ, coi người kia có khả năng hiểu được mình hay không?
Mình chọn được bạn đường trăm năm là vấn đề rất
quan trọng. Khi mình nói chuyện với một người mà người
đó luôn luôn cắt lời mình, không chịu lắng nghe mình thì
mình biết rằng nếu mình lấy anh chàng đó hay cô nàng đó
thì mình sẽ khổ suốt đời, đó là án chung thân khổ sai.
Điều đó có khó gì đâu, chỉ cần chú ý một chút là biết.
Người không có khả năng lắng nghe mình, người không có
khả năng hiểu được mình chỉ có thể làm mình khổ suốt
đời mà thôi. Dầu người đó có tiền bạc, có danh vọng,
có địa vị lớn trong xã hội, người đó cũng sẽ làm khổ
mình và các con của mình sau này thôi. Cho nên phải để ý,
phải chọn người có khả năng hiểu được mình và biết
lắng nghe mình. Đó là điều kiện căn bản để có một cuộc
hôn nhân hạnh phúc.
Khi
mình thương ai, mình đâu có muốn làm cho người đó khổ,
thương có nghĩa là đem hạnh phúc lại cho người đó, thương
mà làm cho người ta khổ thì đâu phải là thương. Thương
tức là hiến tặng niềm vui và hạnh phúc và làm sao có thể
hiến tặng cho người kia hạnh phúc khi mình không hiểu người
kia? Cha muốn thương con là phải hiểu con mà con muốn thương
cha là phải hiểu cha. Mình thương ai mình phải tới người
đó và mình phải hỏi câu này: Anh ơi, anh có nghĩ rằng em
đã hiểu được anh chưa? Em đã thấy được những khổ đau,
những bức xúc, những ước mơ của anh chưa? Nếu chưa thì
anh dạy cho em đi. Anh biết rất rõ là nếu em không thấy được
những khó khăn, những khổ đau, những bức xúc, những ước
mơ của anh thì làm sao em có thể thương anh, làm cho anh hạnh
phúc được? Nói cho em nghe đi là em có hiểu anh phần nào
chưa?
Trong
liên hệ tình yêu mình phải có khả năng hỏi những câu như
vậy và cha mẹ mình cũng có khả năng hỏi những câu như
vậy. Người vợ hỏi chồng: Anh ơi, anh có nghĩ rằng em đã
hiểu được anh chưa? Em có thể là người bạn đường, người
bạn đồng hành của anh không, có xứng đáng không? Nếu em
chưa hiểu anh thì anh giúp em đi. Lời nói rất là quan trọng.
Nếu má chưa nói được câu nói đó với ba câu đó thì khuyên
má nói câu đó với ba đi. Có thể chưa trễ lắm đâu, câu
nói đó rất là hay. Khi mình thương thật sự thì mình phải
có khả năng nói câu nói đó, đặt câu hỏi đó. Tại vì
không hiểu được thì không thể nào thương và làm hạnh
phúc cho người kia được, rõ ràng là như vậy.
***
Ngày
hôm nay có pháp đàm, mình sẽ pháp đàm về nghệ thuật lắng
nghe và ái ngữ. Lắng nghe và ái ngữ là những chìa khóa mở
cửa hiểu và thương, giúp cho mình và giúp cho người kia điều
chỉnh lại những tri giác sai lầm về nhau. Một sự thật
rất đơn giản: không hiểu thì không thương được.
Trong
khóa tu, cái mình phải học trước hết là lấy khỏi thân
tâm của mình những căng thẳng, những dồn nén, những bức
xúc, phải buông thư thân và tâm. Và cái thứ hai mình phải
học là nhận diện những khổ đau đang có mặt trong mình,
những giận hờn, những buồn tủi, những tuyệt vọng, những
cái ganh tỵ, sợ hãi trong con người của mình. Trong chúng
ta người nào cũng có hạt giống của sợ hãi, của khổ đau,
của tuyệt vọng, của ganh tỵ. Mình phải có khả năng nhận
diện và ôm ấp những nỗi khổ, niềm đau đó để làm cho
nó nhẹ bớt, giống như là đứa con của mình, khi nó khóc,
nó đau, mình phải nhẹ nhàng ôm nó vào lòng để cho nỗi
khổ niềm đau của đứa bé êm dịu lại. Đây cũng là một
nghệ thuật. Khi cái buồn, cái giận bắt đầu trào lên, mình
phải biết cách xử lý, nếu mình không biết cách xử lý,
mình sẽ nói và làm với áp lực của cái buồn, cái giận
của mình thì tan vỡ hết. Cho nên phải sử dụng hơi thở
và bước chân để nhận diện và ôm ấp cái buồn, cái giận
của mình, nhìn sâu vào trong lòng nó, làm dịu cho nó xuống.
Lắng
dịu những nỗi khổ niềm đau
Trong
Kinh An Ban Thủ Ý (Quán Niệm Hơi Thở) có một bài tập về
phương pháp lắng dịu những cảm xúc của mình như là giận,
buồn hay là tủi.
Thở
vào tôi nhận diện được cảm xúc trong tôi.
Thở
ra tôi làm lắng dịu những cảm xúc trong tôi.
Đó
là bài tập thứ bảy mà Đức Thế Tôn đề nghị trong kinh
Quán Niệm Hơi Thở. Khi nào mình có cái giận, cái buồn, cái
lo, cái sợ thì đó là cảm xúc. Mình thở vào, mình phải
nhận diện cái cảm xúc đó và nhờ năng lượng chánh niệm
nên mình có thể nhận diện được cảm xúc đó.
Vậy
chánh niệm là gì? Chánh niệm là năng lượng rất là lành,
rất là tốt mà chúng ta chế tác trong khi chúng ta thực
tập. Khi chúng ta đi chúng ta ý thức được từng bước chân
gọi là đi trong chánh niệm. Khi chúng ta thở, chúng ta ý thức
được từng hơi thở, đó là thở trong chánh niệm. Khi uống
trà và ý thức được mình đang uống trà gọi là uống trà
trong chánh niệm. Khi ăn cơm biết mà biết mình đang ăn cơm,
biết những gì đang xẩy ra, gọi là ăn cơm trong chánh niệm.
Khi mình thực tập như vậy thì năng lượng chánh niệm bảo
hộ mình và khi mình giận mà mình biết là mình giận đó
là chánh niệm về giận. Cái giận là một năng lượng có
tính cách phá hoại còn chánh niệm là năng lượng có khả
năng nhận diện và ôm ấp làm cho nó lắng dịu xuống.
Tu
là gì? Tu là chế tác năng lượng chánh niệm bằng cách thở,
bằng cách ngồi, bằng cách đi. Với năng lượng chánh niệm
mình có thể nhận diện, ôm ấp được nỗi khổ, niềm đau
của mình và làm cho nó dịu xuống. Cũng như một bà mẹ khi
thấy hài nhi nó khóc thì dịu dàng ôm nó vào lòng, năng lượng
của bà mẹ nó từ từ đi vào trong con người của em bé để
em bé bớt khổ. Ở đây cũng vậy, chánh niệm như bà mẹ
và niềm đau của mình như là hài nhi, chánh niệm ôm lấy
hài nhi và trong mười phút hay mười lăm phút thì tự nhiên
nỗi khổ, niềm đau của hài nhi sẽ bớt đi. Đó là bài tập
thứ bảy trong kinh Quán Niệm Hơi Thở.
Thở
vào tôi nhận diện nỗi khổ, niềm đau trong tôi
Thở
ra tôi ôm lấy nỗi khổ, niềm đau trong tôi và làm cho nó
dịu xuống.
Giống
hệt như bài tập thứ ba:
Thở
vào tôi có ý thức về hình hài tôi và những căng thẳng
Thở
ra tôi buông bỏ những căng thẳng ở trong tôi
Một
bên là về thân, một bên là về tâm. Giáo lý của Đức Thế
Tôn rất là khoa học. Hiện giờ các nhà trị liệu ở Tây
phương bắt đầu chú ý tới giáo lý này và họ đã đem ra
áp dụng. Mỗi khi mình giận, mình buồn, mình đừng có gì
hết, đừng có hành động gì hết tại vì nói và làm trong
những tâm hành đó sẽ gây đổ vỡ. Những lúc đó là những
lúc mình phải trở về để thực tập hơi thở và bước
chân để nhận diện những nỗi khổ, niềm đau, ôm ấp nó
và làm cho nó lắng dịu xuống. Đây là bài học thứ hai và
phải làm cho được trong khóa tu. Bà Công giáo đó làm được
cho nên bà mới thành công.
Cái
thứ ba mình phải học được là lắng nghe và ái ngữ để
có thể thiết lập được truyền thông và hòa giải được
với người thương