DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
ĐỨC PHẬT
ĐẢN SANH:
SUỐI NGUỒN
TỪ BI VÀ BÌNH ĐẲNG
Tâm
Diệu
 |
 |
Khởi
đi từ sự đản sinh của Đức Phật, một cuộc cách mạng
tư tưởng cũng ra đời.
Xuất
thân là một vị thái tử, nhưng không bị những xa hoa vật
chất nơi cung vàng điện ngọc lôi cuốn, thái tử Tất Đạt
Đa sớm tỉnh ngộ trước cảnh sinh, lão, bệnh, tử, triền
miên của kiếp người. Vào năm hai mươi chín tuổi, một đêm
kia, thái tử cùng với người đánh xe tên là Xa Nặc lìa bỏ
kinh thành, quyết tâm lên đường tìm Chân Lý. Sáng hôm
sau, thấy đã đi được một quãng đường khá xa, Ngài xuống
xe, thay đổi y phục thái tử rồi trao cho Xa Nặc đem về,
chỉ khoác lên mình một tấm vải vàng, ôm một bình bát,
quyết quay lưng lại đời sống xa hoa, dư thừa vật chất,
với người hầu kẻ hạ vây quanh, thái tử từ biệt Xa Nặc,
dấn bước lên con đường gian nan phía trước.
Trải
qua sáu năm trời sống trong cảnh thiếu thốn, kham khổ, hành
trì nhiều phương pháp tu với nhiều bậc thầy, nhưng Ngài
đều không thỏa mãn, cứ đi hoài, tìm mãi. Cuối cùng, Ngài
nhận ra rằng tất cả các bậc thầy đó đều chưa thoát
ra khỏi được vòng vô minh. Từ nhận định đó, Ngài không
còn trông cậy vào một bậc thày từ bên ngoài, ngưng tìm
kiếm, mà một mình một bóng, tự quay vào soi rọi nội tâm.
Cuộc
chiến đấu để tự thắng bản thân của Ngài vô cùng cam
go. Với niềm tin tưởng rằng nếu không sống cuộc đời
khắc khổ thì sẽ không thể giải thoát, Ngài tự khép mình
vào kỷ luật, sống khổ hạnh, trong cảnh cực kỳ gian nan,
thiếu thốn, chỉ khoác trên mình một mảnh áo, chỉ ăn một
chút hạt khô và rau cỏ, đến nỗi cơ thể Ngài vốn là một
thái tử đẹp đẽ oai phong, nay chỉ còn lại lớp da bọc
bộ xương. Thế nhưng sự hành hạ xác thân đó cũng không
khiến cho Ngài thấy được Chân Lý. Cuối cùng, sau khi đã
suýt gục ngã vì quá khổ cực, Ngài mới thấy rằng lối
sống xa hoa phủ phê thì kéo con người xuống thấp vì đắm
say vật chất, lối sống quá thiếu thốn, quá cơ cực thì
lại khiến cho tâm thần mỏi mệt, không đủ ý chí để theo
đuổi việc lớn. Từ nhận định này, Ngài chọn con
đường trung dung, không có những cực đoan của sự hành hạ
xác thân hoặc nô lệ dục lạc, luôn giữ sự quân bình đối
với những nhu cầu cần thiết trong đời sống để có đủ
sức khỏe, nhưng không nuông chiều những đòi hỏi quá với
sự cần thiết. Con đường trung dung này còn được các hành
giả của đạo Phật ứng dụng rất thành công cho tới tận
ngày nay.
Từ
sự phát hiện đó, Ngài ngưng hành thân xác, thọ nhận một
vài món thực phẩm thô sơ do thí chủ cúng dường. Sức khỏe
nhờ vậy mà dần dần hồi phục, tinh thần minh mẫn, Ngài
tự thanh tịnh hóa nội tâm, không cần đến một năng lực
siêu nhiên nào hỗ trợ.
Sau
49 ngày đêm thiền định dưới cội bồ đề, vào lúc rạng
đông, khi sao Mai lóe sáng trên bầu trời, Ngài bừng tỉnh,
giác ngộ được Chân Lý, trở thành bậc Đại Giác Ngộ,
thành Phật. Ngài đã nói lên những lời đầu tiên, sau khi
giác ngộ: "Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi,
Như Lai thênh thang đi đi mãi. Như Lai đi tìm mãi mà không gặp.
Như Lai đi tìm người thợ cất cái nhà này. Lập đi lập
lại đời sống quả là phiền muộn. Này hỡi người thợ
làm nhà, Như Lai đã tìm được ngươi. Từ đây ngươi không
còn cất nhà cho Như Lai nữa. Tất cả sườn nhà đều gãy,
cây đòn dông của ngươi dựng nên cũng bị phá tan. Như Lai
đã chứng quả Vô sanh bất diệt và Như Lai đã tận diệt
mọi ái dục." (Dhammapada - Kinh Pháp Cú, câu 153-154) Và tuyên
ngôn cao thượng: "Ta là Phật đã thành, chúng sinh là Phật
sẽ thành".
Chúng
sinh ở đây không chỉ riêng cho loài người, mà là bao gồm
tất cả mọi loài chúng sinh hữu tình thể hiện qua nhiều
dạng sống khác nhau ở khắp các cõi, vì tất cả mọi loài
hữu tình đều có giác tánh, đều biết khổ đau, yêu thương,
sợ hãi và đều muốn được sống. Tuyên ngôn của Ngài nói
lên lòng từ bi và bình đẳng tuyệt đối với muôn loài chúng
sinh. Ngài không chỉ nói suông, mà Ngài đã ứng dụng tuyên
ngôn ấy trong suốt cuộc đời hoằng pháp độ sinh của Ngài.
Mùa
Hè tại Ấn Độ mưa nhiều nên côn trùng sinh sôi nẩy nở
do ẩm thấp. Vì thế Đức Phật chế ra mùa an cư kiết Hạ,
mỗi năm ba tháng từ sau Rằm tháng Tư cho đến Rằm tháng
Bảy, để chư Tăng Ni không đi ra ngoài, tránh giẫm đạp lên
côn trùng.
Từ
tấm lòng từ bi vô bờ bến, Ngài đã chế giới tu sĩ không
được chặt cây, đào đất, vì làm như vậy có thể giết
hại các loài vi sinh vật. Sở dĩ có thể thi hành giới này
vì vào thời Phật còn tại thế ở Ấn Độ, tăng sĩ ôm bình
bát đi khất thực hằng ngày, không cần phải trồng trọt
để mưu sinh.
Ngài
ban hành giới luật Không Sát Sinh, yêu cầu mọi người chớ
có tự tay mình giết hay bảo người khác giết. Ngài yêu cầu
phải trân quý giá trị thiêng liêng của sự sống, phải bảo
vệ sự sống đối với tất cả mọi loài chúng sinh.
Ngài
cũng lên án mọi hình thức hủy hoại sự sống, khi còn tại
thế Ngài kiên quyết chống lại các cuộc tế lễ của đạo
Bà La Môn, đem những con vật xấu số ra cúng tế thần linh.
Ngài cũng lên án những thú vui săn bắn của vua chúa. Và lẽ
tất nhiên, Ngài phản đối mọi hình thức chiến tranh bạo
động. Ngài chủ xướng tư tưởng từ bi bất bạo động.
Ngài dạy, hận thù không thể diệt được bằng hận thù.
Chỉ có lòng từ bi mới hoá giải được hận thù. Nếu
không có lòng từ bi thì hận thù sẽ chồng chất từ kiếp
này sang kiếp khác. Chỉ có lòng từ bi mới cởi mở
được những nỗi oan ức và những khổ đau của con người..
Có
lần, Ðức Phật thuyết pháp cho ông Cấp Cô Ðộc về công
đức của sự cúng dường. Ngài nói “cúng dường cho Phật
và Tăng chúng thì có công đức rất lớn. Nhưng có công đức
lớn hơn là xây một tu viện cho Tăng chúng ăn ở và tu học.
Có công đức lớn hơn xây dựng tu viện là thọ tam quy Phật,
Pháp, Tăng. Có công đức hơn thọ tam quy là giữ năm giới.
Có công đức hơn giữ năm giới là giữ tâm niệm từ bi,
dù chỉ là trong giây phút. Nhưng có công đức hơn tất cả
là quan sát sâu sắc đạo lý vô thường của sự vật".
(Tăng Chi IV trg 264 - 265)
Trong
đoạn kinh văn trên, chúng ta thấy rất rõ là Ðức Thế Tôn
vô cùng chú trọng đến việc tu tập tâm từ bi. Công
đức giữ tâm niệm từ bi còn lớn hơn cả viêc xây tu viện
cho Tăng chúng, lớn hơn cả việc cúng dường cho Đức Phật
và Tăng chúng. Nếu hành trì như kinh Từ bi chỉ dạy, nếu
suốt đời khi đi đứng nằm ngồi giữ một niệm từ bi,
thương xót đến mọi người, mọi loài chúng sinh, thì công
đức sẽ vô cùng lớn lao, khó có thể nghĩ bàn. Mà tâm từ
bi, ở mức cơ bản chính là tư tưởng và hành động trân
quý sự sống, bảo vệ sự sống và không tàn hại sự sống.
Ai cũng muốn sống và muốn được bảo vệ sự sống ấy.
Ngay cả cỏ cây, sông nước, bầu không khí cũng cần phải
được săn sóc và bảo vệ, vì tất cả đều có sự sống
hay đều có sự liên hệ hỗ tương với nhau. Bảo vệ
môi trường sống, cũng tức là bảo vệ sự sống.
Thật
vậy, lòng từ bi bình đẳng của Đức Phật luôn lan tỏa
đến cho muôn loài, đến tất cả mọi dạng sống trên trái
đất, dù lớn hay nhỏ, ở gần hay ở xa, mắt thấy được
hay không thấy được, đã sinh hay sắp sinh, như Ngài đã nói
trong Kinh Từ Bi thuộc Kinh tạng Pali:
“Nguyện
cho mọi người và mọi loài đươc sống trong an toàn và hạnh
phúc, tâm tư hiền hậu và thảnh thơi.
Nguyện
cho tất cả các loài sinh vật trên trái đất đều được
sống an lành, những loài yếu, những loài mạnh, những loài
cao, những loài thấp, những loài lớn,những loài nhỏ, những
loài ta có thể nhìn thấy, những loài ta không thể nhìn thấy,
những loài ở gần, những loài ở xa, những loài đã sinh
và những loài sắp sinh.
Nguyện
cho đừng loài nào sát hại loài nào, đừng ai coi nhẹ tính
mạng của ai, đừng ai vì giận hờn hoặc ác tâm mà mong cho
ai bị đau khổ và khốn đốn.”
Tâm
từ bi của Ngài vô cùng bao la rộng lớn, Ngài đối xử bình
đẳng với tất cả mọi người, không phân biệt thân sơ,
thù bạn, từ vua chúa, vương phi đến người gánh phân, trẻ
mục đồng. Ngay cả kẻ sát nhân Anguilimala hay kỹ nữ Ambapali
cũng được Ngài giáo hóa và thành tựu công hạnh như các
đại đệ tử của Ngài.
Câu
chuyện về kẻ sát nhân Angulimala trong kinh điển Pali đã minh
họa một cách hùng hồn cho tâm từ bi vô lượng của Đức
Phật đã chuyển hoá được tâm của một tên sát nhân hung
bạo như thế nào và cũng cho thấy sức mạnh của lòng từ
bi của Angulimala do tu tập về sau, bao giờ cũng mạnh hơn bất
cứ ác nghiệp nào mà y đã tạo tác.
Angulimala
là một kẻ sát nhân khét tiếng. Tên của ông được lấy
từ sự kiện ông đeo trên cổ một xâu chuỗi kết bằng những
ngón trỏ tay phải của các nạn nhân mà ông đã giết hại
(Anguli có nghĩa là ngón tay và mala là xâu chuỗi). Quân lính
của triều đình lùng bắt ông, còn dân chúng thì hoảng sợ
không dám ra khỏi nhà.
Một
buổi sáng, đức Thế Tôn vào thành, đang bưng bát đi khất
thực thì nghe có tiếng chân chạy phía sau. Ngài biết rằng
Angulimala đang đuổi theo, nhưng vẫn bình thản bước đều.
Angulimala lớn tiếng gọi: “Ông khất sĩ kia, đứng lại!”
Thế Tôn vẫn tiếp tục đi, không mau hơn, không chậm hơn.
Phong độ của Ngài rất an nhiên tự tại. Thấy vậy,
Angulimala lớn tiếng hơn: “Đứng lại! ông khất sĩ kia, đứng
lại! “ Đức Thế Tôn thản nhiên tiếp tục bước đi, vẻ
tự tại vô úy. Angulimala chạy mau hơn chỉ trong khoảnh khắc
đã đuổi kịp và la lên: “Tôi bảo ông dừng lại, tại
sao không dừng?” Thế Tôn vẫn bước đi, nói với giọng
bình thản: “Này Angulimala! Ta đã dừng lại từ lâu rồi,
chính anh mới là người chưa dừng lại.” Angulimala không
thể hiểu được ý nghĩa của những lời này. Vì thế y lại
hỏi: "Này khất sĩ, tại sao ông nói rằng ông đã dừng lại
còn tôi vẫn chưa dừng?" Đức Phật đáp: "Ta nói rằng ta
đã dừng lại vì ta đã từ bỏ việc giết hại chúng sanh.
Ta đã từ bỏ thói bạo hành, tàn sát mọi loài và ta đã
an trú vào lòng từ đối với muôn loài, lòng kham nhẫn và
trí tuệ do tư duy quán sát. Song ngươi vẫn chưa từ bỏ việc
giết hại và đối xử tàn bạo với người khác cũng như
chưa an trú vào lòng từ bi và kham nhẫn đối với mọi loài
hữu tình. Do đó, người vẫn là người chưa dừng lại".
Thái độ điềm đạm và câu trả lời của Phật đã làm
cho Angulimala kinh ngạc và đột nhiên buông dao hối hận. Phật
liền làm lễ thế phát cho Angilimala trở thành một tu sĩ ngay
tại chỗ. Từ đó về sau, Angulimala (pháp danh mới là Ahimsaka)
đã tu tập rất tinh tấn, trở thành một trong những đệ
tử lớn của Phật và đạt được giác ngộ sau đó.
Trong
xã hội Bà La Môn, sự phân chia giai cấp được mô tả là
vô cùng khắc nghiệt, giai cấp hạ lưu chỉ đụng tay vào
giai cấp thượng lưu cũng đủ để bị tội chặt tay, thì
một quan điểm bình đẳng rốt ráo, bình đẳng không chỉ
giữa người với người, mà trên bình diện chúng sinh như
thế của nhà Phật, phải nói là đức Phật đã làm một
cuộc đại cách mạng. Ngay đến thế kỷ thứ hai mươi mốt
này, tại nhiều quốc gia trên thế giới, người ta vẫn còn
đang phải chật vật tranh đấu để giành quyền bình đẳng
giữa nam nữ, giữa các mầu da, vân vân, thì đức Phật, cách
nay hơn hai ngàn năm trăm năm, đã tuyên bố: " Không có
sự khác biệt giữa những giọt nước mắt cùng mặn và những
giọt máu cùng đỏ", cao thượng thay lời nói của bậc
Đại Giác!
Suốt
quãng đường dài hơn hai ngàn năm trăm năm của Phật giáo,
không giọt máu nào đổ xuống vì sự truyền bá Phật pháp.
Ðức Phật mãi là nhà truyền giaó đầu tiên và vĩ đại
nhất đã từng sống trên thế gian này. Những tư tưởng từ
bi bình đẳng của Ngài đã tuôn chảy như những dòng suối
ngọt ngào lan tỏa đi khắp nơi, khắp chốn, mang hoà bình
an lạc đến với chúng sinh. Có lẽ Ngài cũng là vị Giáo
Chủ đầu tiên đã ra tận chiến trường để tìm cách ngăn
chận chiến tranh. Ngài đã hóa giải sự xung đột giữa bộ
tộc Sakya và bộ tộc Koliya khi hai bên đang sửa soạn tấn
công vì tranh chấp nước sông Rohini. Ngài cũng đã thuyết
phục vua Ajatasanu bỏ ý định tấn công vương quốc của bộ
tộc Vaiji.
Hơn
hai ngàn năm trăm năm đã trôi qua, dù cho mọi sự vật đều
đổi thay, biển xanh biến thành ruộng dâu, nhưng suối nguồn
từ bi bình đẳng từ cội Vô ưu vẫn tuôn chảy đến ngày
nay, vẫn ngày đêm lan tỏa để thức tỉnh, giác ngộ cho nhân
loại đang chìm đắm trong khổ đau, thù hận và vô minh.
Tâm
Diệu
Đại
lễ Vesak LHQ 2008
05-02-2008
04:23:12
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.