DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
LỄ TAM
HỢP VESAK 2008:
KỲ VỌNG CỦA
NGƯỜI, THÁCH THỨC CỦA TA
Nguyễn
Kha
 |
 |
Mùa
Phật đản năm 2008 nầy, Phật tử Việt Nam hân hoan và trang
trọng chia sẽ niềm vui của ngày Tam hợp Vesak Liên Hiệp quốc
cùng với đồng đạo, đồng bào và bạn bè năm châu bốn
biển tại thủ đô Hà Nội. Niềm vui đong đầy trên 65 tỉnh
thị của cả nước đó không phải tự nhiên mà có, nó là
thành quả của hằng hà sa số nhân duyên tích lũy từ muôn
vạn kiếp trước, nhưng đồng thời nó cũng là kết quả
tất yếu của những vận động có tính lịch sử và thời
đại không hẹn mà đến của một bên là Tổ chức Liên Hiệp
quốc, và một bên là đối tác Việt Nam gồm cả Nhà nước
lẫn Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Nguyên
ủy nào đã đưa đẩy Liên Hiệp quốc chọn ngày Vesak của
Phật giáo làm một ngày truyền thống quan trọng của tổ
chức quốc tế nầy, và tại sao nhà nước Việt Nam lại cùng
với giáo hội Phật giáo Việt Nam đứng ra cùng đăng cai tổ
chức và quyết tâm hoàn thành tốt đẹp ngày hội lớn nầy
của nhân loại ?
Cho
đến năm 1999, Tổ chức Liên Hiệp quốc đã thiết lập 51
Ngày [1] để
nhấn mạnh và nhắc nhở nhân dân toàn thế giới các vấn
đề toàn cầu cần đặc biệt cấp thiết quan tâm. Liên Hiệp
quốc kêu gọi các quốc gia thành viên và các tổ chức quốc
tế vinh danh các ngày nầy như một điểm nhấn, mà cũng là
một sức bật, để cùng phối hợp với các tổ chức ban
ngành của Liên Hiệp quốc đẩy mạnh và triển khai các kế
hoạch và chương trình hành động tương ứng. Từ tổng bản
doanh tại New York, các ngày Liên Hiệp quốc nầy nhiều khi
do những tổ chức chức năng trực thuộc Liên Hiệp quốc
chủ xướng như WHO với ngày Y tế Thế giới (7/4) và ngày
Bỏ thuốc Quốc tế (31/5), UNESCO với ngày Nước Quốc tế
(22/3) và ngày Khuyến học Thế giới (8/9), UNEP với ngày Môi
sinh Thế giới (5/6)… Lại có những ngày được chọn để
nhắc nhở những vấn nạn toàn cầu mà nhân loại đang đối
diện như ngày Phụ nữ Quốc tế (8/3), ngày Quốc tế Bảo
toàn Lớp Ozone (16/9), ngày Tình nguyện Quốc tế về Phát triễn
Kinh tế và Xã hội (5/12).
Điều
đặc biệt là trong toàn bộ 51 ngày đó của Liên Hiệp quốc,
không có một ngày nào được chọn để vinh danh một cá nhân,
nhất là cá nhân đó lại là giáo chủ của một tôn giáo
cả. Làm sao có thể vinh danh tôn giáo được khi mà cho đến
năm 1999 đó, dù trong buổi giao thời giữa hai thiên niên kỷ
đã có nhiều người nói đến thế kỷ thứ XXI như một thế
kỷ của tôn giáo[2]
, thì trên hành tinh chật chội của chúng ta lại đang diễn
ra ít nhất là 12 cuộc chiến tranh mà yếu tố tôn giáo là
một trong những mâu thuẫn chính[3].
Tình trạng nầy chứa đầy những đe dọa to lớn và các bất
trắc hiển nhiên đến nổi Sam Harris đã phải báo động rằng
“Sự bất tương đồng giữa các nền thần học đã chia
tách thế giới chúng ta thành những cộng đồng đạo đức
khác biệt, làm nguồn gốc cho những tranh chấp đẫm máu giữa
con người”[4].
Thật vậy, quan niệm “thánh chiến” của một vài tôn giáo
có nền giáo lý cực đoan độc đoán và, như một hệ luận
tất yếu, sản sinh ra những khối lượng tín đồ giáo điều
cuồng tín, đã làm đổ ra không biết bao nhiêu xương trắng
máu đào giữa các dân tộc trong lịch sử nhân loại kể từ
cuộc chiến tranh tôn giáo đầu tiên giữa Byzantine và Hồi
giáo vào năm 645.
Thế
nhưng như một biệt lệ lạ lùng và kỳ diệu, Đức Phật
và giáo lý của Ngài bổng được thế giới tái khám phá
và tái khai dụng. Đức Phật hiện ra như một vĩ nhân văn
hóa kiệt xuất, Phật pháp trình hiện như một con đường
tâm linh cao cả cho loài người chung sống trong hòa bình và
nhân đạo, đồng thời giới thiệu một quy trình vận động
văn hóa và xã hội khả thi để bền vững xây dựng một
thế giới hài hòa. Cho nên dù tính theo số lượng tín
đồ thì Phật giáo chỉ xếp hạng thứ năm[5]trong
tổng số 17 tôn giáo lớn trên toàn thế giới, và dù rất
khác với các tôn giáo khác, Phật giáo có một một lối hành
hoạt nhập thế bám chặt vào đất nhưng lại rất … phiêu
bồng nên ít khi gian díu với chốn cung đình, vốn là nơi
xuất phát các tham vọng quyền lực vô minh, thì Đại Hội
đồng Liên Hiệp quốc cũng đã có được thông tuệ và viễn
kiến để mạnh dạn chọn lựa ba biến cố lớn trong đời
Đức Phật (Đản sanh, Thành đạo và Nhập Niết bàn) để,
thông qua ngày hội lớn đó, vinh danh một vĩ nhân văn hóa
và đồng thời gửi đến toàn thể nhân loại một thông điệp
về Từ bi và Trí tuệ, một lộ đồ về Hòa bình và Hạnh
phúc.
Chính
vì vậy mà ông cựu Tổng Thư ký Kofi Annan, từ năm 2002, đã
vinh dự thay mặt 192 quốc gia thành viên đa dạng và đa văn
của Tổ chức Liên Hiệp quốc mà xác quyết rằng Những lý
tưởng đạo đức và nhân đạo cao thượng của Đức Phật
đã khai sinh ra một truyền thống tâm linh sinh động mà hơn
2500 năm sau, vẫn tiếp tục làm cho đời sống của hàng triệu
người trở nên cao cả… Trong thời đại bất trắc toàn
cầu hôm nay, quan niệm về hòa bình và về tiềm năng cao cả
nhất của con người mà Đức Phật đã chỉ ra, bỗng
trở nên thích đáng hơn bao giờ hết.
Và
mới đây nhất, năm 2007, vị Tổng Thư ký đương nhiệm Ban
Ki-moon, tái khẳng định rõ hơn rằng Hơn 2500 năm qua, những
lời dạy của vị Đạo sư Giác ngộ - Phật Thích Ca - vẫn
tiếp tục là kim chỉ nam và đã mang lại ý nghĩa cho cuộc
đòi của hàng triệu người trên thế giới… Như lời Đức
Phật đã dạy: Chúng ta cần tỉnh thức trong chánh ngữ và
chánh mạng, và ý thức về những hệ quả của chúng đối
với những người xung quanh chúng ta. Chúng ta cần hiểu được
tính tương duyên giữa các thành phần trong xã hội, và coi
trọng hạnh phúc của cộng đồng và của nhân loại như chính
là hạnh phúc của bản thân mình.
Thật
không còn gì mô tả rõ ràng hơn về Đức Phật như một nhà
văn hóa cao cả đáng kính, khởi đi trong đau khổ của con
người và hành hoạt vì hạnh phúc của con ngưới. Và cũng
thật không còn gì trình bày rõ ràng hơn về Phật pháp như
một cống hiến nhân văn tuyệt vời, vừa là kim chỉ nam chính
xác vừa là nguồn tư lương bất tận, cho nhân loại trên
con đường cọng sinh hòa bình. Cho nên ngày Tam hợp Vesak Liên
Hiệp quốc là lẽ đương nhiên, là điều tất yếu.
Thế
rồi từ đó, New York. Thế rồi sau đó, Bangkok. Và năm 2008
này, là Hà Nội, thủ đô Hòa Bình của nhân dân Việt Nam
trọng nhân nghĩa, đất thiêng rồng bay của một nền văn
hóa thấm đậm hương vị Phật Việt. Nhân dân đó, văn hóa
đó, trong hơn 30 năm qua, đã nhọc nhằn đứng dậy từ tro
tàn của bạo lực chiến tranh chống xâm lăng và từ đổ
nát của ứng xử duy ý chí, để hướng vào trong thì khôi
phục lại mình, bung ra ngoài thì hội nhập vào cộng đồng
nhân loại. Quá trình khôi phục và hội nhập trong ngoài đó
quấn quyện vào nhau trên cơ sở của nền văn hóa dân tộc,
vừa bất biến dựa vững vào truyền thống vừa tùy duyên
hóa thân thành hiện đại.
Trong
cái thế chênh vênh tưởng chừng như chứa đựng những yếu
tố xung khắc bất khả tương hợp đó, nhà nước Việt Nam
đã cùng với toàn dân từng bước một nhọc nhằn xoay chuyển
tình thế, vừa làm vừa học, vừa chống trả ngoại thù mới
vừa xây dựng nội lực cũ, để khẳng định niềm tin vào
bản lĩnh dân tộc khi đối trị với các cuộc khủng hoãng
trong ngoài mà đưa tổ quốc vào quy trình phát triễn đúng
hướng và bền vững.
Tin
vào bản lĩnh dân tộc là chủ yếu tin vào nội dung khai phóng
và nhân bản của một đạo Phật Việt Nam biết hòa khi cần,
biết hóa khi muốn. Tin vào bản lĩnh dân tộc cũng là tin vào
cống hiến to lớn và sâu đậm của Phật giáo trong lịch
sử 2000 năm đồng hành với dân tộc khi góp phần định hình
và định tính văn hóa Việt Nam. Cho nên quyết định ứng
cử, rồi được chấp thuận, đăng cai tổ chức ngày Vesak
Liên Hiệp quốc 2008 không phải chỉ là động thái ngoại
giao tất yếu của nhà nước và giáo hội Việt Nam trong quá
trình hội nhập với thế giới, mà quan trọng hơn cả, là
sự thể hiện niềm tự hào khi tìm lại được bản lai diện
mục của dân tộc mình, tìm ra được gia tài sung mãn của
tổ quốc mình. Hạt minh châu ẩn mình nhiều năm trong gấu
áo, bây giờ đã óng ánh hiển lộ trên sơn hà gấm vóc.
Vấn
đề còn lại đặt ra cho Phật giáo Việt Nam, mà ở đây cụ
thể là Giáo hội và Tứ chúng Phật tử, là trong những ngày
chan hòa niềm vui tại Hà Nội và trên cả nước, Phật giáo
Việt Nam lấy gì để trình hiện và giao lưu với đồng đạo
và bạn bè khắp năm châu về tham dự ngày lễ hội. Cái gì
là nội dung đặc thù của một đạo Phật rất Việt ? Và
cái gì là nét độc đáo của một dân Việt rất Phật ?
Khi
những ngày lễ hội chấm dứt, chắc chắn bạn bè sẽ giả
từ đất nước Việt Nam xinh đẹp và hiền hòa trong niềm
tin yêu. Trong hành trang của họ, quyện theo dư âm của ngày
Vesak cũng chắc chắn có mang đầy niềm kỳ vọng to lớn mà
Liên Hiệp quốc trông chờ vào dân tộc ta và đạo Phật ta.
Phật giáo Việt Nam có ý thức được rằng kỳ vọng đó
chính là một thách thức to lớn không ? Kỳ vọng của người
chính là Thách thức của ta …
Nguyễn
Kha
California,
mùa Phật đản 2008
[1]
http://www.unac.org/en/news_events/un_days/international_days.asp
[2]
Closing Statement của The World Conference for Religion and Peace, Nov.1999,
tại Amman, Jordan. Luận điểm nầy được lý giải rõ hơn
trong New Religious Movements in the Twenty First Century: Legal, Political
and Social Challenges in Global Perspective của Phillip Lucas, Routledge,
New York, 2004. Họăc trong Religion in the Twenty First Century của
Mary Pat Fisher, Prentice Hall, New York, 2004.
[3]
Mười hai cuộc đụng độ vũ trang có yếu tố tôn giáo chi
phối hiện nay là: Ở Palestine (Do Thái giáo và Hồi giáo),
ở Balkans (Công giáo và Chính Thống giáo), cũng ở Balkans (Chính
Thống giáo và Hồi giáo), ở Bắc Ireland (Công giáo và Tin
Lành), ở Kashmir (Hồi giáo và Ấn Độ giáo), ở Sudan (Tin
Lành và Hồi giáo), ở Nigeria (Tin Lành và Hồi giáo), ở Ethiopia
(Tin Lành và Hồi giáo), ở Sri Lanka (Ấn Độ giáo Tamil và
Phật giáo Sinhalese), ở Indonesia (Tin Lành và Hồi giáo), ở
Caucasus (Chính Thống giáo và Hồi giáo) và cũng ở Caucasus
(Công giáo và Hồi giáo). Điều đáng lưu ý là ngoại
trừ ở Sri Lanka, 11 trong 12 cuộc đụng độ nầy (92%) đều
có quan hệ đến những tôn giáo với nền thần học lấy
cùng một Thiên Chúa làm xuất phát điểm tín ngưỡng.
[4]
Sam Harris, Killing Buddha, Tạp chí Shambhala Sun, số tháng Ba 2006,
Halifax, Canada. Sam Harris là tác giả cuốn sách nổi tiếng The
End of Faith.
[5]
http://en.wikipedia.org/wiki/Religion#Classification (2005)
05-02-2008
03:39:23
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.