DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT
GIÁO LÀ ĐẠO LÝ PHỤC VỤ TOÀN THIỆN
Thích
Lệ Thọ
 |
 |
Phật
giáo, hai từ rất gần gũi đối với bất cứ ai trên mảnh
đất có hình cong chữ S này từ hai ngàn năm qua cho đến bây
giờ và mãi tận ngàn sau. Bởi vì Phật giáo đã hòa quyện
cùng dân tộc như nước với sữa, nên chuyện của dân tộc
là chuyện của Phật giáo: “Mái chùa che chở hồn dân tộc,
nếp sống muôn đời của tổ tông” [1].
Phật
giáo, hai từ rất gần gũi đối với bất cứ ai trên mảnh
đất có hình cong chữ S này từ hai ngàn năm qua cho đến bây
giờ và mãi tận ngàn sau. Bởi vì Phật giáo đã hòa quyện
cùng dân tộc như nước với sữa, nên chuyện của dân tộc
là chuyện của Phật giáo: “Mái chùa che chở hồn dân tộc,
nếp sống muôn đời của tổ tông” [1].
Cho
nên khi dân tộc chuyển sang thời hội nhập để phát triển
bền vững cùng thế giới thì vai trò của Phật giáo cũng
nâng lên một tầm cao mới trong cách hành đạo và truyền
đạo để cùng dân tộc bước lên đỉnh cao Công nghiệp hóa
và Hiện đại hóa đất nước.
I. Nhập thế:
a)
Không thụ động, nhập thế là chủ đích bao đời của đạo
lý Phật giáo:
Thông
thường, người ta nghĩ đã tu hành là người xuất gia sống
một thế giới riêng biệt, kể cả người theo Phật giáo
cũng sống nhàn; tức là cuộc sống làm ăn càng ngày càng
thu hẹp “sống biết đủ”, bởi đã tu rồi còn gì mà tranh
đua với cuộc đời! Đó là quan điểm sai lệch, Phật giáo
không chủ trương sống tiêu cực như thế cho người Phật
tử bao giờ.
Thực
tế cho thấy, Tăng sĩ từ ngàn xưa đã trở thành những vị
danh tăng: Vạn Hạnh [2], Đỗ Thuận [3], Khuông Việt [4]…
mà đặc biệt là sư Vạn Hạnh khi thấy Vua Lê Ngọa triều
bạo ngược làm cho trăm họ oán giận, mong một vua mới có
đức, có tài lên trị vì. Trong bối cảnh đó, sư Vạn Hạnh
đã làm các bài thơ cho lan truyền trong dân gian, như đồng
dao:
“Tột
Lê trầm Bắc thủy
Lý
tử thụ Nam thiên
Tứ
phương can qua tĩnh
Bát
biểu hạ bình an”.
Dịch
nghĩa:
“Gốc
Lê chìm bể Bắc
Chồi
Lý mọc trời Nam
Bốn
phương tan giáo mác
Tám
cõi được bình an”.
Đúng
như lời bài thơ, năm 1009 Lý Công Uẩn lên ngôi vua lấy niên
hiệu Thuận Thiên. Từ đó mở ra kỷ nguyên mới của nước
Đại Việt. [5] Điều đó cho thấy rằng, từ ngàn xưa tăng
sĩ Việt Nam đã hội nhập theo từng góc độ và từng thời
kỳ. Vào ngày 25/8/1945 đất nước chúng ta lật sang trang mới
chấm dứt chế độ quân chủ chuyển sang xã hội dân chủ.
Ngày
nay, con người hiện đại và nhận thức dân tộc ở tầm
cao mới nên tăng sĩ cũng đã thay đổi cách đóng góp như,
giảng dạy không còn nhận thức trừu tượng mà đã có minh
họa theo từng chủ đề qua băng đĩa, hoặc trình chiếu màn
hình rộng, hay giảng thuyết không còn độc thoại mà đã
có nhiều giảng sư tham gia một chủ đề. Như mấy năm gần
đây Phật giáo Kiên Giang đã tiên phong trong lĩnh vực này
rất thành công. Cách tụng niệm cũng dần chuyển tải tiếng
Hán - Việt ra thuần Việt để đáp ứng nhu cầu cho quần
chúng Phật tử lên một tầm cao mới qua nhận thức và tu
tập.
b)
Sự hòa quyện giữa đạo và đời
Có
thể nói khó mà phân biệt được đâu là đạo lý Phật giáo
và đâu là nhận thức của xã hội tự nhiên. Vì vậy, ngày
nay lại được sự phát huy hơn nữa nên Đạo không phải
chỉ nơi Chùa, Tịnh Thất, Niệm Phật Đường…, còn đời
không phải chỉ ở nơi quan trường, chính sự, doanh thương
sản nghiệp, gia đình, và cuộc sống.
Hai
thứ ấy đã hòa quyện tạo nên một xã hội Việt Nam đặc
thù, không tìm đâu trên thế giới. Ngoài ra, các tôn giáo
sống với nhau thoải mái, thậm chí trong một đình có đến
4 tôn giáo. Điều đó cho thấy dân tộc Việt Nam luôn biết
chọn lọc cái hay cái đẹp, để hướng thiện nhằm tạo
cho mình một đời sống có sự thăng bằng giữa vật chất
và tinh thần.
Đời
và đạo có thể được xem như hai trạng thái có liên hệ
mật thiết với nhau trong một thực thể thống nhất. Đời
có thể hình dung như thế giới vật chất hữu hình sinh động
bên ngoài, còn đạo lại bao hàm cảnh giới tâm tinh thần
trầm mặc bên trong nội thể con người. Cho nên, dù là vật
chất hay tinh thần đều không độc lập tách rời nhau, mà
phải nhịp nhàng hỗ tương qua lại.
Vì
vậy, trong 25 năm qua Tăng Ni, Phật tử đã đạt được
nhiều thành tựu Phật sự quan trọng, công tác hoằng dương
chính pháp phát triển rộng khắp, làm sáng tỏ giáo lý trong
cuộc sống nhân gian; công tác từ thiện xã hội được thực
hiện kịp thời, góp phần tích cực cùng toàn dân giải quyết
những vấn đề xã hội, khắc phục hậu quả thiên tai; quan
hệ của Phật giáo trong cộng đồng thế giới được củng
cố và rộng mở.
Chủ
tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Những đóng
góp thiết thực của Phật giáo Việt Nam đã chứng tỏ Phật
giáo hoàn toàn là tôn giáo nhập thế, luôn đồng hành cùng
dân tộc, góp phần xây dựng đất nước ngày càng giàu đẹp,
đồng thời cũng cho thấy vai trò quan trọng của đời sống
Phật giáo trong đời sống xã hội ngày nay.” [6]
II. Sự phát
triển
a)
Cuộc đời là đối tượng độ sinh
Phật
giáo lấy chủ đạo là nhân bản, nên các trường phái và
học thuyết điều xoay quanh đối tượng con người là chính.
Cho nên chúng ta có thể nói giáo pháp của đức Phật là “hiện
sinh” nó đúng mọi hoàn cảnh. Vì vậy, Albert Einstain-một
triết gia vĩ đại người Đức nhận định một cách hùng
hồn tiên đoán như sau:
“Tôn
giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo toàn cầu, vượt
trên mọi thần linh, giáo điều và thần học. Tôn giáo ấy
phải bao quát cả phương diện tự nhiên lẫn thiên nhiên,
đặt trên căn bản của ý thức đạo lý phát xuất từ kinh
nghiệm tổng thể gồm mọi phương diện trong cái nhất thể
đầy ý nghĩa. Chỉ có đạo Phật đáp ứng đủ các điều
kiện ấy.”
Mặc
dù, ông sống ở thế kỷ 20, nhưng thông qua sự nghiên cứu
kinh điển Phật giáo và sự hiểu biết về lĩnh vực Triết
học, Khoa học mà ông đã cống hiến cho nhân loại học thuyết
Tương đối, một sự khám phá đầy ấn tượng, giúp cho con
người nhận ra một chân trời mới về nhận thức!
Điều
đó cho chúng ta thấy, sự phát triển của xã hội ngày nay
không thể tách rời Phật giáo. Xã hội nên lấy tiêu chuẩn
đạo đức Phật giáo để làm phương châm cho sự phát triển
bền vững.
Nhìn
lại những sự cố gần đây cho thấy các công trường xây
dựng liên tục xảy ra tai nạn lao động chết người do vô
trách nhiệm. Công trình xây dựng thì lún sụt và chỉ có
đặc biệt ngành giao thông ở nước ta mới có mấy tấm biển
“đang theo dõi lún” tại sao những công trình vốn nước
ngoài xây dựng cầu và các tuyến đường không để bảng
chờ lún? Phải chăng hệ quả rút ruột công trình?
Vệ
sinh thực phẩm, người kinh doanh chỉ nghĩ đến làm giàu mà
bất chấp mạng sống người tiêu dùng. Môi trường cũng đang
bị suy thoái nghiêm trọng, có đến 89% mẫu nước không đạt
[7]. Thậm chí Hồ Linh Quang, nằm giữa Thành phố Hà Nội đã
nhiễm vi khuẩn không tả do ô nhiễm nghiêm trọng[8]. Rau xanh
dư độc tố… đó là kết quả của bao nhiêu mầm bệnh và
sự thất thoát đang chờ đón người dân.
Sự
việc cứ liên tục xảy ra hết nới này đến nơi khác làm
nhức nhói chính phủ… Phải chăng, đó chính là do thiếu
ý thức sống cộng đồng, thiếu đạo đức và tầm nhìn
trong quản lý cấp cơ sở.
Ngay
cả ngành y xưa nay được tôn trọng và người ta đã dùng
năm chữ vàng để ca ngợi “lương y như từ mẫu”, thế
mà vẫn có những Bác sĩ, Y tá, đã làm thương tổn do vô
cảm, và thiếu phẩm chất đạo đức để xảy ra mất mát
bao sinh mạng vì tắc trách…
Có
thể nói hiện nay, mọi ngành nghề đều luôn được báo động
về chất lượng nguyên nhân chính vẫn là cái TÂM, thiếu
đạo lý sống từ cái gốc, dĩ nhiên phần ngọn sẽ bị sâu
thối!
b)
Lấy tiêu chuẩn đạo đức để làm thước đo cho cuộc sống:
Trong
xã hội, đã là con người ai lại không có nhu cầu, ăn, mặc,
ở và điều trị bệnh. Nhưng nhu cầu đó phải được dựa
trên tiêu chí đạo đức thì mới có gia đình hạnh phúc và
một đất nước văn minh hiện đại.
Do
đó, để xây dựng một xã hội Việt Nam với khẩu hiệu
“công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước”, tức
là vững mạnh về kinh tế, chính trị, quốc phòng, văn hóa,
giáo dục… trước tiên theo đức Phật phải giáo dục con
người trước nhất. Bởi chính con người bao gồm nhiều yếu
tố: vật lý, tâm lý, sinh lý, cho đến ý chí tình cảm và
trí tuệ. Cho nên cần phải hội đủ sáu mối tương quan để
xây dựng một xã hội tốt đẹp.
1/
Mối tương quan giữa cha mẹ
2/
Con cái
3/
Thầy và trò
4/
Vợ và chồng;
5/
Cá nhân và bà con láng giềng, bạn bè, chủ và thợ.
6/
Tu sĩ và cư sĩ [9].
Điều
này cho chúng ta thấy, đức Phật đã tìm ra con số chung, dù
ở Ấn Độ, Việt Nam hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới
này, hễ ở đâu có con người, thì ở đó phải có những
mối quan hệ mật thiết qua sáu yếu tố liên hệ trong một
xã hội. Vì vậy cần phải xây dựng những hạt nhân đó
lại trước tiên, nếu không quan tâm đúng mức thì xã hội
phát sinh tiêu cực.
Chúng
ta gặp gỡ lời dạy của Ngài qua một bài kinh khác: “Sở
dĩ có người trộm cắp, hung ác, cướp bóc là do họ nghèo
đói… Muốn chấm dứt nạn đó thì phải cải thiện đời
sống cho họ, cấp hạt giống cho người dân, đầu tư cho
các thương gia và phải trả công thích đáng cho người làm
thợ. Ngoài ra, còn phải nên thay đổi chi phí cúng tế thần
linh để cứu trợ cho người dân nghèo…”[10] Như vậy
chúng ta thấy cách giải quyết vấn đề của Phật giáo trực
quan sinh động, chuyển hóa bản thân và xã hội, trên cơ sở
tự lực của mỗi người.
Từ
đó suy ra, những hiện tượng của xã hội Việt Nam ngày nói
riêng và cả thế giới nói chung, không thể dựa trên quyền
lực, hoặc chính sách thiếu thực tế và luật pháp chưa đi
vào đời sống thì xã hội sẽ đi từ biến động này sang
biến động khác. Giống như giải pháp kẹt xe hiện nay của
ngành giao thông, dời điểm kẹt này sang điểm khác chứ chưa
có giải pháp triệt để.
Vì
vậy, một chính phủ có giỏi đến đâu đi nữa cũng không
thể nào bù đắp nỗi cả một xã hội đang tiêu xài, vắt
kiệt tài nguyên thiên nhiên, đẩy đất nước đến căn bệnh
lạm phát hiện nay. Dĩ nhiên ngoài những vấn đề xã hội
còn có nhiều mặt khách quan của những yếu kém nền kinh
tế và trong cơ cấu kinh tế của nước ta bộc lộ sâu sắc
hơn trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, tạo ra
những thách thức gay gắt cho việc quản lý và điều hành
phát triển kinh tế.
Vì
thế vừa qua Chính phủ đã kêu gọi toàn xã hội: “Cơ quan
nhà nước cắt giảm 10% chi tiêu hành chính, doanh nghiệp phải
rà soát các khoản chi nhằm hạ giá thành và phí lưu thông.
Mọi gia đình, cá nhân triệt để tiết kiệm tiêu dùng, nhất
là nhiên liệu, năng lượng.”[11]. Trong khi đó lại có ít
bàn tay xây dựng bởi những người có tâm có tầm.
Nếu
không sớm đánh giá lại giáo dục, kiên quyết lập lại trật
tự xã hội bằng nền tảng đạo đức dân tộc và đạo
lý Phật giáo thì xã hội vẫn bất ổn. Công cuộc kiềm chế
lạm phát lại càng khó khăn hơn, và biện pháp phòng chống
tham nhũng lại là chuyện khó khả thi.
Riêng
Phật giáo có thể nói là chịu một phần trách nhiệm, do
không cố vấn cho các ban ngành xã hội hữu hiệu. Các cấp
cơ sở giáo hội chưa thay đổi đủ nhanh trong cách truyền
bá giáo lý, vẫn cứ thuyết giảng độc thoại, vẫn cứ mỗi
năm vài lễ hội truyền thống, và những khóa tu Bát Quan Trai,
niệm Phật… chưa đánh giá đúng mức tầm phát triển chung
của xã hội hiện nay.
Trong
khi xã hội đã thay da đổi thiệt quá nhanh, thế hệ trẻ
đang bị sự đồng hóa của toàn cầu, bị những loại giải
trí bắn giết, bị những cuộc đổ bị của vũ trường bằng
văn hóa ngoại… Những thứ đó đang gặm nhấm thế hệ chủ
nhân của đất nước này trong tương lai. Một khoảng trống
quá lớn đang cần rất nhiều bàn tay vá lại và rất cần
những buổi lễ kỳ siêu của Hòa Thượng Nhất Hạnh, Đại
lễ Phật Đản liên hiệp quốc, bộ phim Lý Công Uẩn hay kỷ
niệm 1.000 năm Thăng Long…
Hãy
đẩy mạnh hơn nữa những mô hình xã hội, du lịch tâm linh,
lễ hội về nguồn như thế thì giá trị của 2 khẩu hiệu
Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa đất nước; và mái chùa
che chở hồn dân tộc hòa quyện như thế mới thật sự là
chúng ta hội nhập cùng thế giới. Chứ nội lực chúng ta
hiện nay sau một năm hòa nhập WTO quả chưa đủ để chơi
một sân lớn, không khéo để rồi sẽ hòa tan như hiện nay
là lạm phát.
Nếu
không sớm thoát ra khỏi vòng xoáy hiện nay của những cường
quốc thì khó có thể đưa đất nước đi lên. Chứ đừng
nói là phát triển bền vững. Nhân trước thềm ngày Đại
Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc, xin hướng về đỉnh lễ
đức Thế Tôn, và đoàn thể Tăng già hòa hợp để buổi
lễ tình thương và trí tuệ vang mãi trong mỗi người con Việt
chúng ta nhằm đưa đất nước lên tầm cao mới.
TP.
Hồ Chí Minh, 05/04/2008
Bài
tham dự hội thảo đại lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc năm
2008
của
Ban Trị Sự Phật Giáo Kiên Giang tổ chức.
[1]
Nhớ Chùa, Thi Sĩ Huyền Không.
[2]
Sư Vạn Hạnh (?-1025) Tiền Lê, họ Nguyễn, Quê ở làng Cổ
Pháp, phủ Từ Sơn, nay là Đình Bảng, tỉnh Bắc Ninh.
[3]
Thiền sư Pháp Thuận (914 - 990) Đời thứ 10, dòng Tỳ-ni-đa-lưu-chi.
[4]
Khuông Việt (匡越, 933-1011) tên là Ngô Chân Lưu (吳真流),
tu chùa Phật Đà, làng Cát Lợi, Thường Lạc, thế hệ thứ
4, dòng Vô Ngôn Thông. Sư là vị Tăng thống đầu tiên của
Phật giáo Việt Nam.
[5]
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thời Lý
Nam Đế, Tiến sĩ Lê Mạnh Thát, Nhà Xuất Bản Thuận Hóa
Huế 1999.
[6]
Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng khẳng định tại lễ
khai mạc Đại hội Phật giáo toàn quốc lần thứ VI, (sáng
13/12/2007) tại Hà Nội.
[7]
BS Lê Thanh Hải-GĐ Trung Tâm Y Tế Dự Phòng Tp.HCM, Báo Tuổi
Trẻ thứ Bảy 04.04.2008.
[8]
Đại diện lãnh đạo 5 Bộ: Y tế, Kế hoạch và Đầu tư,
Tài Chính, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Công Thương
đã tiến hành thanh tra tình hình vệ sinh an toàn thực phẩm
trên quy mô toàn quốc nhằm báo cáo tình trạng sử dụng thực
phẩm hiện nay của người dân. Trong hai ngày 4 và 5/4, thanh
tra liên ngành.
[9]
Kinh Thiện Sanh- Kinh Trường Bộ số 16.
[10]
Kinh Du Hành số 2- Trường A Hàm I.
[11]Thủ
tướng Nguyễn Tấn Dũng, Trong phiên họp thường kỳ cuối
tháng 3 năm 2008.
Thích
Lệ Thọ
04-12-2008
06:23:34
TINH
THẦN HOÀ HỢP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
VÀ NGÀY VESAK
LIÊN HỢP QUỐC TỔ CHỨC TẠI HÀ NỘI THÁNG 5 2008
Thích
Đức Tính
 |
 |
HÀNH
TRANG QUÁ KHỨ.
Phật
giáo ra đời tại Ấn-Độ có chiều dài lịch sử hơn 2500
năm trước, đã lan tỏa sang nhiều nước trên thế giới trong
đó có Việt Nam. Với những yếu tố tích cực và đã đóng
góp vào đời sống hàng ngày trong dân chúng nhiều nước,
Phật giáo đã có mặt ở Việt Nam hơn 2000 năm. Phật giáo
đã đóng góp vào nền văn hóa dân tộc ngang ngửa với thời
gian du nhập và đã để lại nhiều dấu ấn sâu đậm qua
nhiều thời đại. Bi-Trí-Dũng đã in sâu vào tâm hồn của
người Phật tử Việt Nam.
Phật
giáo là một tổ chức giáo dục nhân bản sớm có mặt ở
Việt Nam. Khi Phật giáo truyển từ Ấn-Độ sang Việt-Nam không
mang theo sắc thái vật chất nào, trừ mấy quyển kinh Phật
và một bầu nhiệt huyết cùng một trái tim yêu thương và
một khối óc có trí tuệ tinh thông và mẫn cán. Tựu chung,
đó là vốn liếng của dưỡng tử Như-Lai có được mà ngày
nay Phật giáo Việt Nam đã hoằng dương chánh pháp, đem Phật
pháp vào xã hội Việt Nam.
Phật
giáo Việt Nam cùng với vận nước nổi trôi, với những thách
đố nghiệt ngã trong quá khứ đầy biến động và ác nghiệt.
Phật giáo Việt Nam đã bước song hành với vận mệnh của
dân tộc và như lời đức Thế Tỏn từng nói: “Hãy tự
thắp đuốc mà đi”. Thực hành theo lời dạy của đức Phật,
nên Phật giáo Việt Nam đã vượt qua được nhiều khó khăn
trở ngại gian nguy. Nhất là vào năm 1963 ở miền Nam Việt
Nam, chế độ Ngô Đình Diệm đã đàn áp Phật giáo một cách
dã man, tưởng chừng Phật giáo sẽ tiêu tan lúc bấy giờ.
Nhưng không ai ngờ được, Phật giáo Việt Nam vẫn vững như
bàn thạch và vẫn trường tồn. Đó là nhờ Duyên Khởi mà
đức Phật chứng ngộ dưới cội Bồ Đề đã lý giải điều
đó.
Dù
với bất cứ ý niệm nào, kể cả thời gian- không gian, quá
khứ- hiện tại- tương lai; PGVN đã bước vào bối cảnh của
thiên niên kỷ mới với hành trang của quá khứ, gồm cả
giới xuất gia và tại gia đủ mọi tông phái, trên địa bàn
trải rộng trong nước và hải ngoại, tất cả đang đối
diện với câu hỏi: “Sau khi Việt Nam là thành viên của WTO,
Phật giáo Việt Nam chịu ảnh hưởng gì ? Phật giáo Việt
Nam nghĩ gì về sự hội nhập này” ? Có người cho rằng
Phật giáo phải độc lập, không liên quan gì đến sự kiện
Việt Nam gia nhập WTO. Người khác lại cho rằng sinh hoạt
Phật giáo luôn luôn gắn liền với con người, với xã hội
đương thời. Vì con người và xã hội Việt Nam là đối tượng
giáo dục của Phật giáo. Một khi xã hội Việt Nam thay đổi
thì Phật giáo cũng phải thay đổi, để thích nghi với hoàn
cảnh xã hội. Và đó cũng là nhân tố tốt và quan trọng
để Phật giáo gắn liền với quần chúng, hầu thúc đấy
xã hội, vì đó là biểu tượng của từ bi hỷ xả, là nơi
chúng sinh đau khổ. Nơi nào chúng sinh khổ đau, nơi ấy người
con Phật xuất hiện.
BƯỚC
VÀO THỜI ĐẠI MỚI.
Ngày
nay, nước Việt Nam đã được Độc lập và thống nhất hơn
30 năm qua. Đất nước Việt Nam đang có dấu hiệu khởi sắc
ở thế kỷ 21. Phật giáo Thế giới và Phật giáo Việt Nam
đang bước vào vận hội mới. Riêng Phật giáo Việt Nam đã
hình thành một tổ chức được gọi là Giáo Hội Phật giáo
Việt Nam. Sự hình thành nầy là một cơ duyên đưa tới đoàn
kết, thống nhất, hòa hợp; tạo thành sức mạnh để phát
huy tinh túy và đạo lý của đức Phật.
Hiện
nay, những phát minh về khoa học, công nghệ thông tin phát
triển cao độ. Những mạng thông tin của Phật giáo được
mở ra hầu hết các nơi trên thế giới để tiếp cận với
Phật tử, quần chúng ở khắp mọi nơi chặt chẽ hơn. Đồng
thời hội nhập với các nước Phật giáo khắp thế giới
trên cơ sở hòa hợp. Đặc biệt với các nước Phật giáo
châu Á với những lần Đại hội Liên hữu Phật giáo Thế
giới (WFB), Đại hội Liên hữu Thanh Niên Phật giáo Thế giới
(WFBY) và Hội Đồng Phật giáo Thế giới đã mang lại cho
Phật giáo Việt Nam một tinh thần hợp tác mới vì thịnh
vượng chung.
TỔNG
KẾT KINH NGHIỆM ĐỂ ĐI VÀO THỜI ĐẠI MỚI.
Tấm
gương sáng của đức Phật đối với Phật tử chúng ta với
tình thương bao la có tính thuyết phục đầy ấn tượng. Kể
từ khi đức Phật nhập Niết Bàn, chúng ta có lệ tự sám
hối hằng năm vào dịp lễ Vu-Lan cũng là dịp để PGVN và
chư tăng kiểm điểm những việc làm năm trước để tổng
kết rút kinh nghiệm trong việc thi hành giới luật, hành trì
và tu học để nâng cao tinh thần tam bảo Phật giáo.
Chúng
ta cần tổng kết kinh nghiệm để rút tỉa ưu khuyết điểm,
rút ra những bài học để xây dựng PGVN, xây dựng Gia Đình
Phật Tử để có một tổ chức thống nhất hữu hiệu và
khoa học. Và tập kết, rút tỉa kinh nghiệm 70 năm phát triển
PGVN để mạnh bước vào thiên niên kỷ mới.
Đặc
biệt, PGVN sẽ tìm mọi cách tiến tới bắt tay với Phật
giáo Việt Nam hải ngoại để Phật giáo được thống nhất
toàn diện.
VAI
TRÒ PGVN HIỆN TẠI.
Tóm
lại, hôm nay là một cơ may và cũng là một vinh dự cho Phật
giáo Việt Nam được hân hạnh đứng ra tổ chức Đại lễ
Phật Đản Liên Hợp Quốc 2008 tại thủ đô Hà-Nội. Việc
chính phủ Việt Nam đăng cai tổ chức Đại lễ Phật đản
Liên Hợp Quốc là một khẳng định vai trò của Phật giáo
Việt Nam trước thế giới, đồng thời chứng tỏ với thế
giới, nhất là thế giới Tây phương về chính sách tự do
tôn giáo của Nhà Nước Việt Nam. Phật giáo Việt Nam tổ
chức Đại lễ Phật đản năm nay là chấp nhận chân lý và
lý thuyết Vô thường (anicca), Khổ (dukkha) và Vô ngã (anatta)
của đức Phật.
Đại
lễ Phật đản Liên Hợp Quốc là một dịp tốt, tạo cơ
hội hội tụ cộng đồng Phật giáo Thế giới, các nhà lãnh
đạo xã hội và các quan sát viên. Sự kiện nầy nói lên
tinh thần yêu chuộng hòa bình của Phật giáo thế giới nói
chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng.
Đại
lễ Visak mang tính chất văn hóa và nhân văn được xem là
ngày tôn vinh văn hoá của LHQ. Ngày nầy cũng là ngày thiêng
liêng trọng đại, trong tinh thần từ bi cho tất cả chúng
sinh khắp thế giới không phân biệt tôn giáo, đẳng cấp.
Đại
lễ Visak là cơ duyên để PGVN và nhân dân Việt Nam chia sẻ
niềm hân hoan, là cơ hội lớn trong mối tương giao và giới
thiệu văn hóa PGVN với bạn bè thế giới.
Không
những vậy, đi xa hơn, toàn thể nhân dân cùng Phật tử Việt
Nam muốn chia sẻ cũng như muốn gióng lên tiếng nói của mình
trong trùng trùng duyên khởi để góp phần vào việc giải
quyết những khủng hoảng và xung đột của thế giới hiện
nay, cùng góp phần bảo tồn giá trị tinh thần trong đời
sống gia đình và trật tự xã hội hiện thời.
Trong
tinh thần từ bi và giải thoát đau khổ cúa chúng sinh, trong
tình thương yêu bao la của đức Phật. Đễ hòa nhịp niềm
vui chung ngày đản sinh thứ 2551 và để tưởng niệm ngày
nầy, chúng ta hãy đến với nhau bằng trái tim, hãy xiết tay
nhau cất cao tiếng niệm: Nam mo A-Di-Đà Phật, cầu cho thế
giới an lạc hòa bình.
Kính
chúc Đại lễ Visak LHQ thành công viên mãn.
California,
ngày 27 tháng 03 năm 2008.
Thích
Đức Tĩnh.
04-04-2008
10:23:34