DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
KỸ THUẬT
SỐ:
CƠ HỘI VÀ
THÁCH THỨC ĐỐI VỚI PHẬT GIÁO
TT.
Thích Chân Quang
 |
 |
Khái
Niệm Tổng Quát Về Kỹ Thuật Số
Kỹ
thuật số là chuyển ngữ của từ Digital Technology. Đó là
thuật số diễn tả kỹ thuật về xử lý thông tin, lưu trữ
thông tin, dựa trên nguyên tắc căn bản của việc ứng dụng
kỹ thuật mở (số 1), và tắt (số zero) của tín hiệu đi
qua vi mạch. Chỉ có hai thuật số mở và tắt, số
1 và số 0, thế là mọi phương pháp xử lý thông tin trở
nên chuyện thần kỳ không ngờ được.
Điều
này cho ta một nguyên lý rất giống với đạo học, khi ta
càng trở về gần sát nền tảng chừng nào thì ta sẽ có
càng nhiều tầm nhìn lớn lao chừng nấy. Nếu ta củng cố
các pháp tu hành căn bản như lễ kính Phật, quán từ bi, tác
ý khiêm hạ, nghiêm trì giới luật, thì ta có thể mở ra những
đạo lý khác rất sâu sắc không ngờ được.
Khi
ta đưa tất cả thông tin về với ký hiệu tắt và mở,
có và không, một và zero, đơn giản cực kỳ,
căn bản cực kỳ, nhưng từ đây, ta có thể xử lý mọi thông
tin dễ dàng theo ý muốn của mình. Tất cả số liệu, chữ
viết, ký tự, hình ảnh, âm thanh… đều được đưa về
phân tích ra thành những dãy số 1 và 0, sau đó, ta biến đổi
những dãy số 1 và 0 này theo lệnh của mình để có được
kết quả như ý. Từ đây, ta có các chương trình xử lý văn
bản Word, kế toán Excel, hình ảnh Photoshop, âm thanh Nuendo,
vẽ kỹ thuật Auto Cad, vân vân vô cùng vô tận… Những kỹ
xảo điện ảnh không còn giới hạn nữa, nhà làm phim có
thể làm tất cả những gì mình muốn, du hành vũ trụ, thần
thông biến hóa, ba đầu sáu tay, xuyên tường qua vách, v.v…
Ta
có thể nói, với kỹ thuật số như thế, mọi thông tin có
thể được xử lý, truyền tải, lưu trữ, biến đổi, vô
cùng hiệu quả. Con người đã đạt được mức văn minh ban
đầu chung với văn minh của vũ trụ.
Cũng
từ kỹ thuật số này, hàng loạt kỹ thuật tự động hóa
ra đời. Rồi con người đã mon men đến gần trí thông minh
nhân tạo, nghĩa là một bộ óc nhân tạo có bản năng duy
trì sự sống của chính mình, độc lập với sự điều khiển
của con người !!!
Đời
sống của đệ tử Phật ngày nay, cả giới xuất gia lẫn
tại gia, đều cũng không thoát ra khỏi sự tiến bộ chung
của thế giới, cũng phải sử dụng các sản phẩm kỹ thuật
số thường xuyên, nghĩa là cũng xử lý các thông tin, thư
tín, văn bản, hình ảnh, âm thanh… thông qua máy xử lý thông
tin, computer, mà ta quen gọi là máy vi tính như thế. Ngoài
ra những máy móc kỹ thuật số khác như điện thoại di động,
camera, đầu đọc dữ liệu, máy định vị vệ tinh, v.v...,
cũng trở nên quen thuộc với với tất cả mọi người.
Một
bên là ước vọng tu hành giải thoát, một bên là kỹ thuật
xử lý thông tin hiện đại đưa mọi thông tin đến với tai
mắt tràn ngập, và bỗng nhiên người đệ tử Phật bị đặt
vào một sự do dự nào đấy. Nếu chìm trong thế giới thông
tin dày đặc, người đệ tử Phật có thể bị quên xoay vào
trong kiểm soát tâm mình. Hoặc nếu khước từ thế giới
kỹ thuật số, người đệ tử Phật có thể đánh mất phương
tiện học hỏi, truyền bá giáo lý rất hiệu quả. Giải quyết
được hai mâu thuẫn này tức là ta có thể tránh các tác
hại của máy móc hiện đại, đồng thời có thể hưởng
được các lợi ích do các thứ này mang đến.
2.
Chánh Nghiệp và Chánh Niệm Hỗ Trợ Nhau
May
mắn cho ta là trong tiến trình Bát Chánh đạo, Chánh nghiệp
được xem như là mắt xích quan trọng để dẫn đến Chánh
Niệm phía sau. Chánh Nghiệp tạo nên phước, và phước này
hỗ trợ Chánh Niệm, và Chánh niệm chính là sự tu tập nội
tâm có tính bắt buộc đối với đệ tử Phật.
Nếu
là đệ tử Phật thì ai cũng phải biết tu tập Chánh niệm
để thúc liễm nội tâm của mình. Nhưng muốn tu tập Chánh
Niệm thì ta phải có công đức quá khứ được tích lũy từ
việc thực hiện Chánh Nghiệp, muốn nhiếp được tâm thì
ta phải có nhiều công đức.
Và
ta cũng biết rằng, muốn có công đức thì không thể ngồi
yên một chỗ được, mà phải động não, tìm tòi, dấn thân,
cực khổ…
Computer,
kỹ thuật số, digit- number, sẽ hỗ trợ ta rất nhiều trong
việc tạo nên công đức. Kỹ thuật số giúp ta nhanh chóng
tìm kiếm thông tin, xử lý thông tin, trước khi ta bắt tay
hành động một cách kỹ càng và chính xác. Hệ thống email
giúp ta chuyển tải các văn bản kinh luận, giúp ta trao đổi
tài liệu với mọi người khắp hành tinh. Hệ thống internet
giúp ta truy tìm dữ liệu, kể cả những dữ liệu nghe nhìn
video audio phức tạp. Qua hệ thống thông tin mạng như thế,
ta cũng có thể nhanh chóng truyền bá những giáo lý đẹp đẽ
của Phật đà đến với nhiều người.
Hoặc
muốn làm việc từ thiện, ta có thể nhờ vào hệ thống mạng
để tìm đối tượng cần được giúp đỡ, tìm những nhà
hảo tâm khắp nơi, minh bạch thu chi tài chánh, thông báo diễn
biến hoạt động nhanh chóng…
Ngay
cả việc tu tập thiền định cũng vậy, ta cũng có thể tìm
đến các trang web nói về đề tài này để nghiên cứu tìm
hiểu kỹ càng trước khi bắt tay, và cả bắt chân, lên ngồi
nghiêm chỉnh.
Giai
đoạn đầu, ta vừa cố gắng làm các công đức vừa cố
gắng thực hành thiền định dần dần. Đến khi nào công
đức đã sung mãn, nghiệp xấu đã vơi, không phạm các sai
lầm thêm nữa, tự nhiên tâm ta sẽ dễ dàng được nhiếp
phục để thành tựu các từng mức thiền định như Phật
dã dạy.
Ngược
lại, Chánh Niệm cũng giúp cho Chánh Nghiệp được chính xác,
sâu sắc, và hiệu quả. Khi một người có sự bình an nội
tâm, thoát khỏi những suy nghĩ hẹp hòi, thoát khỏi những
triền cái tham lam sân hận ban đầu, thì tự nhiên người
đó rất vị tha, tận tụy, và từ bi. Những đức tính như
thế hoàn toàn có lợi cho việc giúp đời và gây tạo công
đức cho bản thân. Chính nhờ Chánh niệm được xây dựng
mà Chánh nghiệp được dồi dào hơn rất nhiều. Vì thế,
ai tu thiền sẽ dễ dàng làm nên những điều phúc thiện lớn
lao.
Hơn
nữa, khi có công phu thiền định đều đặn hằng ngày, dù
cho có chăm chăm làm việc trên computer nhiều giờ, đầu óc
ta vẫn không bị căng thẳng như người không tu thiền. Tuy
nhiên ta vẫn không được chủ quan, vẫn phải biết sự vừa
phải, biết tập thể dục giữa giờ để bảo vệ bộ não
lâu dài.
3.
Thách thức
Nhưng
cái gì cũng có mặt trái của nó, kỹ thuật số cũng vậy.
Sự trao đổi xử lý thông tin dễ dàng cũng tạo nhiều cơ
hội xấu cho những ai không chuyên chú tu hành. Không ai kiểm
soát những trang web mà một tu sĩ viếng thăm có phải là web
sạch không, những thông tin mà tu sĩ trao đổi có phải là
hoàn toàn chuyện đạo lý và Phật sự hay không.
Rồi
ta cũng biết thời gian để dò tìm nghiên cứu trên web rất
hao tốn, lấy đi rất nhiều thời gian quý báu mà một tu sĩ
cần phải dành cho việc tu hành thúc liễm thân tâm. Nếu say
sưa đi vào thế giới mạng, giống hệt như đi dạo chơi thế
giới, ta sẽ quên mất đường về, bỏ thời khóa tu tập,
phai nhạt dần lý tưởng giác ngộ giải thoát của buổi ban
đầu vào đạo.
Trong
thế giới mạng, ta gặp gỡ nhiều thành phần, tốt và xấu
đều có, nhưng liệu ta có đủ bản lĩnh để «chọn bạn
mà chơi» hay không ? Với sự hỗ trợ của kỹ thuật số,
cái gì cũng được khuếch đại lên nhiều lần. Nếu tốt
thì sẽ tốt rất nhiều, nếu xấu thì cũng xấu cùng cực.
Nếu ta dùng các phương tiện của kỹ thuật số một cách
chính đáng thì ta sẽ có cơ hội khuếch trương điều tốt
rộng rãi, cũng tức là nhân bội lên công đức của mình.
Ngược lại, ta sẽ xuống địa ngục nhanh hơn người thời
xưa.
Đức
Phật đã từng không khuyến khích học chữ viết, vì thời
đó học viết chữ rất vất vả, chưa có giấy mực thoải
mái, phải khắc lên lá cây, vỏ cây, thẻ tre, và phải tốn
rất nhiều thời gian để tạo nét chữ lên đó. Người biết
chữ để thông tin với nhau cũng chỉ là thiểu số nhỏ bé
không đáng kể. Phật chỉ muốn các đệ tử của Ngài dành
thời gian cho thiền định để sớm đắc thành đạo quả,
và sau khi đắc đạo rồi thì muốn biết gì sẽ biết hết.
Nhưng
chỉ cần năm sáu trăm năm sau, việc học cho biết chữ đã
trở thành tiêu chuẩn của văn minh tiến bộ mà các quốc
gia hùng mạnh đều đề xướng cho nhân dân của mình. Người
biết chữ tăng tỉ lệ lê dần dần, khiến cho những người
không biết chữ trở thành bất tiện trong giao tiếp. Do đó,
ai cũng muốn biết chữ. Thời cận đại thì xem việc tồn
tại những người chưa biết chữ là nỗi ô nhục của quốc
gia.
Bây
giờ thì người ta đánh giá sự tiến bộ của quốc gia dựa
trên tỉ lệ người biết sử dụng computer nhiều hay ít. Rồi
cũng không bao lâu nữa, quốc gia nào còn có những người
không biết sử dụng computer sẽ cảm thấy nhục nhã với
cộng đồng quốc tế.
Phật
giáo cũng không thoát ra khỏi khuynh hướng chung của thế giới
này. Sau này, nếu một tu sĩ nào không biết sử dụng computer
sẽ không đủ tiêu chuẩn thọ giới tỳ kheo gì đó, giống
như bây giờ phải học hết lớp 12 mới cho thọ giới vậy.
Nhưng càng tiếp cận thành thạo các phương tiện kỹ thuật
số chừng nào thì đời sống tâm linh của tu sĩ càng bị
đe dọa nhiều chừng nấy.
Ta
không thể quay lưng với kỹ thuật số vì đó là cánh cửa
liên thông với nền văn minh vũ trụ, và ta cũng không thể
bỏ rơi đạo lý giải thoát cao siêu của Phật dạy.
Muốn
vẹn toàn cả hai thì buộc ta phải cố gắng nhiều gấp bội
lần các tiền bối ngày xưa. Ta vừa phải học sử dụng các
phương tiện kỹ thuật số, nhất là computer, vừa tăng cường
tu tập gắt gao hơn để bảo đảm công phu không bị lui sụt.
Và ta cũng đoán trước rằng, số người cố gắng xuất sắc
trên cả hai phương diện như thế sẽ là không nhiều lắm.
Cũng có nghĩa là số người có đạo lực sâu dày để giữ
gìn Phật Pháp cho con cháu về sau sẽ không nhiều lắm. Đây
là điều thật sự làm ta lo lắng. Ta hoàn toàn không muốn
hy sinh đạo lực của cả một hệ thống Phật giáo để thủ
đắc kỹ thuật hiện đại.
Muốn
chiến thắng được nỗi lo âu này, ta phải có cách intensify
tăng cường sự tinh tấn tu tập của rất nhiều người hơn
trước. Nếu trước đây các bậc đạo sư vẫn thường nhắc
nhở dạy dỗ các môn đồ pháp quyến của mình về sự tinh
tấn tu tập, thì bây giờ, các vị đạo sư phải có phương
pháp hiệu quả hơn, mạnh mẽ hơn, gắt gao hơn để thúc đẩy
sự tinh tấn trong đệ tử của mình. Nếu không có sự tinh
tấn nhiều hơn nữa thì Kỹ thuật số chính là sự thay thế
cho đời sống tâm linh cao siêu của chúng ta.
4.
Thiền viện thời đại kỹ thuật số
Để
cân bằng với sự thu hút của các phương tiện truyền thông
thời đại Kỹ thuật số, để giữ vững tính cách cao siêu
giải thoát của đạo Phật, buộc ta phải có những điểm
trú ẩn tâm linh nhiều hơn nữa. Những điểm trú ẩn tâm
linh cho mọi người trong thời đại này chính là những Thiền
viện thời hiện đại.
Thật
vậy, con người càng quay cuồng với tốc độ vũ bão của
cuộc sống, càng phải cần có phương pháp để giải tỏa
stress cho não bộ. Ta phải có phương pháp thiền định thật
chuẩn xác, thuyết phục được y học, phù hợp với lời
Phật dạy, để áp dụng rộng rãi cho mọi người. Ta cũng
phải có môi trường tu tập thiền định cho mọi người dễ
tiếp cận tới lui tham học. Nghĩa là ta phải xây dựng được
nhiều Thiền viện rất available cho mọi thành phần đến đây
cầu học mỗi khi họ có thời gian rảnh rỗi. Các tu sĩ là
ưu tiên một đã đành, nhưng mọi người cần phải được
cơ hội tu tập thiền định như là quyền được sống vậy.
Quyền
được thực hành thiền định chính là quyền được sống
của mỗi con người trong tương lai sắp tới, khi mà Kỹ thuật
số đã phủ đầy thông tin lên não bộ của loài người.
Trước kia người ta nghĩ rằng đi học chỉ là học chữ nghĩa,
thì sau này các em học sinh được học thể dục thể thao,
thậm chí được học võ Thiếu Lâm như ở Trung Quốc, vì
người ta hiểu ra rằng sự khỏe mạnh thể chất ảnh hưởng
rất lớn đến chất lượng cuộc sống cũng như khả năng
tinh thần. Sắp tới, đi học còn phải học Thiền định vì
các em sẽ phải biết cách vệ sinh thần kinh của mình mỗi
ngày khi mà thời đại cho các em thông tin dồn dập. Rồi các
em lớn lên cũng phải tự mình xử lý vố số thông tin hằng
ngày, nên luôn luôn cần phương pháp vệ sinh thần kinh, bảo
vệ não bộ. Thiền định chính là phương pháp tối ưu, chính
là tương lai của nhân loại.
Nếu
Phật giáo không xây dựng được các Thiền viện cho công
chúng thì chắc chắn sẽ có những nhà hảo tâm làm việc
đó, rồi cuối cùng Nhà nước cũng sẽ làm việc đó theo
nhu cầu của thời đại và theo khuynh hướng chung của thế
giới.
Thiền
viện thời đại kỹ thuật số sẽ lại có nhiều thiết bị
kỹ thuật số, nhưng không phải để truy cập thông tin, mà
chỉ là để hỗ trợ cho việc giữ yên cho sự tu tập của
mọi người. Những thiết bị đánh giá mức độ stress, đánh
giá mức độ an tĩnh nội tâm, đánh giá xung động của cơ
thể, phát hiện các vùng não có vấn đề cần được chỉnh
sửa vân vân… sẽ được sữ dụng để con người được
nhiều lợi ích trong việc tu tập thiền định.
Mô
hình của thiền viện thời đại kỹ thuật số như thế nào
sẽ là đề tài chúng ta bàn với nhau vào một lúc khác nữa.
Trong phạm vi bài tham luận này, chúng ta chỉ đặt lại vấn
đề những thách thức và cơ hội mà Kỹ thuật số đem đến
cho con người, để thấy rõ rằng chúng ta phải cố gắng
tinh tấn rất nhiều trong việc tu tập.
(Bài
tóm tắt)
Khái
niệm tổng quát về Kỹ thuật số
Định
nghĩa kỹ thuật số và mô tả khái quát nguyên tắc căn bản.
Sự tương đồng giửa kỹ thuật số và đạo học. Từ đó
phát triển ra các ứng dụng rộng rãi cho kỹ thuật hiện
đại này. Ảnh hưởng do phát triển hiện đại này có
các phát sinh hổ trợ cũng như phản dụng đều là những
vấn đề cho người tu.
Chánh
Nghiệp và Chánh Niệm hỗ trợ nhau
Sụ
tu tập tinh tấn Bát Chánh Đạo là một yếu tố quan trọng
để tận dụng được kỹ thuật số hiện đại và đồng
thời làm phát triển phước phần của người tu. Một
số thí dụ các ứng dụng cho thấy sự phát triển này. Phân
tích cho thấy việc áp dụng đúng đắn hoăc sai lầm công
nghệ hiện đại sẽ trờ thành trở ngại hay hổ tương rất
tích cực.
Thách
thức
Nhưng
nếu không sử dụng đúng đắn, thì hiệu ứng xấu sẽ nảy
sinh và là một thách thức lớn cho người tu trong thời đại
mới. Sự phát triển các hiệu ứng xấu sẽ rất
là lớn nếu việc áp dụng không đúng đắn. Và sơ lược
đôi nét lịch sữ phát triển chữ viết từ thời Đức Phật
cùng với đà tiến hóa của nền văn minh nhân loại minh họa
cho điều này. Sự tiến hóa tất nhiên về kỹ thuật
này buôc chúng ta phải tìm các phương pháp cho việc tinh tấn
tu tập được tích cực hơn nhằm tránh sự chế ngự của
ký thuật số ngày càng hiện đại.
Thiền
viện thời đại kỹ thuật số
Nhằm
cân bằng các hiệu ứng của công nghệ số với đời
sống tâm linh, việc xây dựng các điểm trú tu tập tâm linh
là phương án khả thi và cần thiết cho lượng thông tin ngày
càng dồn dập. Thiền định chính là một phương án
hữu hiệu để cân bằng đời sống vật chất và tâm linh
trong thời đại số.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.