DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
GIÁO DỤC
PHẬT GIÁO Ở NEPAL
NHÌN VỀ QUÁ
KHỨ VÀ ĐỊNH HƯỚNG TƯƠNG LAI
GS.TS.
Prem Kumar Khatry - Thích Nữ Liên Trí dịch
 |
 |
Giới
thiệu
Văn
học và những bia ký Phật giáo như bia ký của vua Asoka ở
Lumbini và những nguồn tư liệu khác gọi Đức Phật là ‘Thế
Tôn’. Thuật ngữ được dùng ở đây hoàn toàn khác với
khái niệm thần linh truyền thống cho rằng Ngài là hiện thân
của một vị thần hay là một bậc siêu nhân mà những người
theo Ấn giáo tôn sùng thời bấy giờ. Thật ra, từ “Thế
Tôn” (Bhagava) được dùng để chỉ sự tôn kính tối thượng
mà các đệ tử dành cho Ngài. Trong mắt những người đệ
tử, Ngài là một con người phi thường nhưng không
phải là thần thánh hay siêu nhân.
Như
HT. Tịnh Không (Tuyển Tập Tiếng Gọi Vô Thanh, Đài Loan) phát
biểu, Phật giáo là một hệ thống giáo dục, một mô hình
giáo dục cao nhất không chỉ hướng đến mà còn đảm bảo
khả năng đạt được tự do khỏi mọi hình thức ràng buộc
của những tội lỗi và thử thách do vô minh (Sanskrit: Avidya)
mà ra. Ai cũng muốn thoát khỏi sự trói buộc của vô minh,
nhưng điều này không phải là dễ dàng. Đức Phật đã dành
cả cuộc đời mình để giúp nhân loại thoát khỏi vòng lẩn
quẩn của vô minh và tự thân nỗ lực là một ví dụ sinh
động cho chúng ta thấy rằng, bằng con đường giáo dục,
con người có khả năng tự mình giải thoát ra khỏi vô minh.
Có niềm tin vào chánh pháp nghĩa là chúng ta được đến trường
học, rồi được dạy dỗ, có tâm từ ái, biết thương yêu
và cuối cùng, đạt được sự hiểu biết thấu đáo rằng
tất cả mọi chúng sanh đều bình đẳng đúng theo quan niệm
của Đức Phật. Sự nghiệp của Đức Phật là sự nghiệp
của một nhà giáo dục từ khi Ngài thành đạt đạo quả
giác ngộ đến lúc nhập Niết-bàn. Xin dẫn lời của Hòa
Thượng Tinh Không (sách đã dẫn, tr.121):
“Chúng
ta đi tìm gì nơi Đạo Phật? Chúng ta đi tìm sự giác ngộ
chân chánh tối thượng, sự toàn thiện, toàn giác (Annuttara-Samyak-Sambodhi).
Đức Phật đã dạy và mong mỏi rằng tất cả chúng ta sẽ
đạt được sự giác ngộ tối thượng này. Nói cách khác,
mỗi người chúng ta sẽ trở thành một vị Phật.”
Ở
đây, Đức Phật là một vị thầy vĩ đại, một vị thầy
đưa ra những giải pháp có khả năng thực thi đối với những
khúc mắc, nghi vấn trong mọi lãnh vực mà những người đi
tìm con đường giải thoát đặt ra. Ai có cơ duyên tìm đến
Ngài đều được giải đáp thỏa đáng và mở khai trí tuệ.
Mục đích giáo dục của Ngài là trau giồi đạo đức, thiền
định và trí tuệ. Ngài dạy rằng những người học Đạo
không nên tìm cầu kiến thức có tính lý thuyết suông.
Do đó, Ngài cho rằng đạo đức và thiền định là nền tảng
không thể thiếu để đạt được trí tuệ. Có vô số câu
chuyện, sự việc và giai thoại mô tả Ngài là một vị Thầy
rất dí dỏm, trình bày vấn đề hợp lý và thuyết phục.
Ngay cả tình huống phải đối đầu với một người ương
ngạnh hay cứng đầu trong các cuộc tranh luận hay pháp thoại,
Ngài cũng không từ nan. Ngài có một năng lực phi thường
và thiện xảo về ngôn ngữ, hành xử và ngay cả trong im lặng.
Có nhiều vị luận sư cao tuổi và nhiều kinh nghiệm,
không tôn kính Ngài như một bậc thánh trong giáo pháp, đã
phải nhìn lại vị trí của họ và cuối cùng đến quy ngưỡng
Ngài. Đây chỉ là một ví dụ về sự phi thường của Ngài.
Những lời dạy của Đức Phật dựa trên các nguyên tắc
không bạo động, tôn trọng sự thật, bình đẳng, tương
thân tương ái, công bằng và tôn trọng con người vốn được
lịch sử từ trước đến nay chứng minh. Đây là lý do để
những lời dạy đầy tính nhân văn và vượt thời gian tạo
cho Ngài vị trí của một vị Thầy được tôn kính nhất
thời bấy giờ.
Trải
qua bao thử thách và đổi thay, những lời dạy vượt thời
gian của Đức Phật được tiếp nhận theo nhiều hình thức
và khuynh hướng khác nhau, ít nhất là 64 khuynh hướng theo
các truyền thống. Mục đích chính trong những lời dạy của
Đức Phật là hướng đến từ bỏ sự chấp ngã vốn là
động cơ thúc đẩy con người tạo nghiệp để phục vụ
cho lợi ích cá nhân. Do đó, Ngài đặc biệt quan tâm đến
việc giải thoát khỏi tâm chấp ngã nhỏ nhen, phát triển
thành tâm Phật rộng lớn để có thể từ bỏ thái độ sống
ích kỷ chỉ biết bản thân mà tập mở lòng sống cho người
khác. Đây là nền tảng của sự giác ngộ giải thoát. Với
lý do căn bản này, lời Đức Phật dạy trở nên hiệu quả
nhất và là chất xúc tác đưa đến sự thay đổi những đầu
óc hẹp hòi, vô minh của bao người bình thường. Nhiệm vụ
của Ngài là khai mở và đem ánh sáng đến cho những tâm hồn
tăm tối. Ngài luôn thành công trong sứ mạng của mình. Đầu
tiên, Đức Phật một mình trên bước đường hoằng hóa,
nhưng chẳng bao lâu sau, Ngài quy tụ được nhiều Tăng Ni uyên
thâm, nắm bắt được tinh túy trong lời dạy của Ngài. Thế
là chư vị này chia nhau đi khắp mọi nẻo đường để xiển
dương giáo pháp.
Từ
một miền đất ôn hòa nơi Bắc Ấn, Đức Phật không mệt
mỏi với sứ mạng quảng bá thông điệp về khổ và con đường
thoát khổ đến với mọi người. Những lời dạy của Ngài
có tiếng vang lớn gây ảnh hưởng đến mọi miền gần xa
của đất nước. Mỗi lời Ngài thốt ra đều có giá trị,
tỏa sáng và có năng lượng tạo nên năng lực kỳ diệu cảm
hóa tất cả những người nào có cơ duyên gặp Ngài. Mội
lời Ngài nói ra là một lời dạy mang ý tưởng giáo dục.
Sau 2500 năm, những lời dạy của Ngài vẫn còn nguyên giá
trị và đầy sức cảm hóa. Đây là một lý do hùng hồn cho
sự lan truyền sâu rộng của Phật giáo đến ngày hôm nay.
Nepal
và giáo dục Phật giáo
Đức
Phật bắt đầu vận chuyển bánh xe giác ngộ từ Sarnath thuộc
thành phố linh thiêng Varanasi vùng Bắc Ấn ngày nay. Theo kinh
điển, Ngài dành trọn cuộc đời mình để truyền đạt những
giáo pháp căn bản đến mọi giai tầng trong xã hội, từ dân
thường đến vua chúa, từ thương gia đến nông dân, từ luận
sư đến giáo sĩ, từ thanh niên đến phụ nữ. Tương truyền
rằng Ngài đã từng đến thung lũng Nepal (Kathmandu) vào thời
vua Jitedasti, vua thứ bảy triều đại Kirata. Chắc chắn
Ngài đã gởi chư tăng đến vùng đất Nepal này, theo tài liệu
Mulasarvaastivad Vinayasangraha. Như vậy, với sự nỗ lực
của Đức Phật, những lời dạy của Ngài đã được truyền
đến đất nước Nepal từ thời Phật còn tại thế. Chuyến
về thăm vương quốc cộng hòa Shakya ở Kapilvastu là một phần
trong sự nghiệp hoằng hóa của Ngài. Nhiều nam nữ, cả những
người thuộc vương triều đã phát tâm theo Ngài và thực
hành chánh pháp.
Khi
Nepal bắt đầu củng cố thế lực chính trị vương triều
theo Ấn giáo và cơ cấu văn hóa xã hội trên nền tảng này
được thành lập; dù vậy, quần chúng Phật tử vẫn duy trì
niềm tin và giáo dục Phật giáo trong giai đoạn lịch sử
đầu tiên này. Các vua, thương gia và quý tộc xây nhiều chùa
và các trung tâm Phật giáo ở thung lũng Kathmandu thời ấy
nhằm truyền bá con đường giáo dục của Đức Phật trong
xã hội. Ngay cả những ông vua ủng hộ Ấn giáo cũng
phải thường xuyên khuyến khích mọi người tôn trọng Phật
giáo để nhờ đó mà cơ chế xã hội được ổn định. Đây
là những ví dụ về bổn phận ‘kép’ trong niềm tin.
Thời
hoàng kim trong quá khứ đã đi vào quên lãng
Những
vị vua trị vì dòng họ Licchavi như Siva Deva, vua Narendra Deva
và những vua kế nhiệm duy trì truyền thống giữ vững niềm
tin bằng những công tác từ thiện và thể hiện tinh thần
dấn thân chia sẻ. Nhiều tu viện được xây dựng để làm
nơi tu tập cho Tăng, Ni và Phật tử. Người ta tìm thấy văn
hóa tu viện được kéo dài liên tục trong thời đại Thakuri
(cũng còn gọi là giai đoạn đầu của thời Trung cổ, khoảng
thế kỷ thứ 9 đến thế kỷ 15 sau tây lịch). Thuật
từ thường xuất hiện trong các văn bản đương thời là
'…. samskārita vihara …' cùng với tên của các vị vua
cai trị thời ấy; điều này có thể được hiểu là các
khu tu viện lớn luôn được tôn trọng hoặc phục hồi. Ngay
cả trong thời kỳ khi chính thể của đất nước dường như
suy sụp nhất về phương diện thống nhất đất nước, toàn
vẹn lãnh thổ và củng cố quốc gia, cả hai nền văn hóa
Ấn giáo và Phật giáo vẫn hưng thịnh. Điều này cho thấy
rằng, chính dân tộc, không phải các nhà lãnh đạo, là người
kiến tạo thật sự và cứu vãn một nền văn hóa.
Sự
suy sụp nhanh chóng của văn hóa Phật giáo trên đất nước
Ấn Độ đóng vai trò như một chất xúc tác quan trọng làm
chuyển hướng vị thế của những tu viện ở Kathmandu thành
những viện nghiên cứu đào tạo năng động và đầy sinh
khí. Đông đảo học giả, sinh viên và hành giả đến
Nepal, nhiều người vượt dãy Hi-mã -lạp sơn đến tận Tây
Tạng để thỏa mãn nhu cầu học hỏi của mình. Sự giao lưu
văn hóa giữa Nepal và Tây Tạng góp phần làm phong phú nền
văn hóa giao thoa của Nepal-Ấn Độ-Tây Tạng dưới hình thức
chung là Phật giáo Mật tông. Những phong trào giao lưu tôn
giáo và tu tập trong vùng núi Hi-mã-lạp sơn, giáo pháp và
những cơ sở tu tập nối một nhịp cầu văn hóa qua dãy Hi-mã-lạp
sơn. Nepal luôn là nơi quy tụ nhiều nhất những hoạt động
như vậy.
Những
ngôi chùa vùng thung lũng Kathmandu, phần lớn thuộc Kathmandu
và Patan, trở thành trung tâm cho những hoạt động giáo dục
năng động và sôi nổi, được duy trì với nội lực của
vùng này. Các trường phái Đại thừa và Kim Cang thừa
phát triển tạo nên nền tảng triết học Phật giáo Mật
tông và sự phát triển không ngừng về các phương diện nghi
thức, nghi lễ, nghệ thuật và kiến trúc.
Trong
giai đoạn lịch sử này, nhiều người tìm cầu tri thức từ
mọi nơi tụ tập về thung lũng cổ xưa và xinh đẹp của
Kathmandu. Tất cả những người tìm về nơi này đều có chung
một mục đích cao thượng: tìm về cội nguồn của Phật
giáo và trầm mình trong nguồn pháp nhũ của Đức Phật để
rồi khi về lại xứ sở của mình, những vị này trước
tác và giảng dạy giáo pháp của Đức Phật. Nhiều ngôi chùa
ở các thành phố như Kathmandu, Patan, Pharping, Sankhu, v.v…
đáp ứng được nhu cầu lĩnh hội tri thức và thỏa mãn nguyện
vọng của những học giả đến từ phương xa. Sau khi những
trung tâm giáo dục Phật giáo Ấn Độ như Nalanda, Bikramshila,
Ballabhi, Odantapuri, vv… bị các vua Hồi giáo phá hủy, giáo
dục Phật giáo, cả phương diện triết lý lẫn tu tập đều
lụi tàn. Tưởng chừng những lời dạy của bậc Đạo sư
đã đến hồi chung cuộc. Suốt giai đoạn giao thoa quan
trọng này của lịch sử, Nepal đóng vai trò lớn của một
trung tâm giáo dục và là nơi hội tụ của nhiều học giả
tầm cỡ từ Bắc đến Nam. Bản chất và quy mô rộng lớn
của giáo dục Phật giáo ở Nepal được đánh giá qua số
lượng lớn các văn bản trước tác, các bản dịch và nhiều
văn bản được lưu giữ, kể cả thư pháp được sáng tác
và sử dụng ở thung lũng Nepal. Thế nhưng, đã qua rồi
một thời hoàng kim của các tu viện Phật giáo ở Nepal,
từng là niềm tự hào và phát triển đến đỉnh cao về chất
lượng giáo dục, nay đã chôn vùi trong dĩ vãng.
Sự
phát triển hiện nay trong lãnh vực giáo dục Phật giáo
Giáo
dục chính quy trong Phật giáo không phải là điều gì mới,
thế nhưng hình thức này mới được tu chỉnh lại sau thời
kỳ Rana (1951). Về phương diện này, phải kể đến cống
hiến của Tỳ-kheo Amritananda Mahasthavira. Vị Tỳ-kheo này cùng
với những người tiền nhiệm trong triều đại độc quyền
Rana (1846-1950) đã chịu đựng khổ sở quá nhiều do tính
chất phe phái và cố chấp của những nhà cầm quyền. Với
tia hy vọng dân chủ vừa lóe lên, Thượng tọa Amritananda đã
kiên trì vận động nguồn tài chính trong cũng như ngoài nước
Nepal và bắt đầu tạo dựng các trường học và trung tâm
giáo dục, chính quy cũng như không chính quy. Vị này cũng tuyển
nhiều Tăng, Ni trẻ gởi đến các nước khác như Miến Điện,
Tích Lan và Thái Lan để nghiên cứu triết lý Phật giáo. Hàng
ngũ chư Tăng này về sau góp phần xây dựng nhiều trung tâm
giáo dục ở Kathmandu và những trung tâm này hiện vẫn còn
và đang hoạt động.
Cần
có một trường Đại học làm nơi nương tựa
Cuộc
cách mạng lịch sử của Phật giáo ở Nepal cho thấy Phật
giáo cũng trải qua những bước thăng trầm ở xứ này. Tuy
nhiên, trong giai đoạn đầu của thời Trung cổ (sau năm 879),
cả hai trường phái Đại Thừa và Nguyên Thủy tồn tại trong
cách sống của những người quý tộc thành thị trong nhiều
bộ phận dân cư người Newar ở thung lũng và các vùng đồi
núi khác, vùng trũng nhiệt đới và các bộ tộc miền núi
của Nepal. Phật giáo đem đến cho con người con đường
tâm linh và cũng là nguồn cảm hứng cho nhiều công trình nghệ
thuật. Nepal trong thời Trung cổ (879-1768) được coi là một
kho tàng phong phú về các thư tịch Phật giáo cổ. Một nhu
cầu cấp bách hiện nay là thành lập một trung tâm nghiên
cứu văn hóa về nguồn cội Phật giáo và ảnh hưởng của
Phật giáo đối với các nước và nền văn hóa đề cập
ở trên. Phật giáo vùng Hi-mã-lạp sơn và Lạt-ma giáo đã
nhanh chóng thu hút sự chú ý trên toàn cầu. Nepal là nước
duy nhất hội tụ đầy đủ các trường phái Nguyên Thủy,
Đại Thừa, Kim Cang Thừa, Mật Tông và những trường phái
nhỏ khác cùng tồn tại và phát triển trong một thời gian
dài. Thành lập một trung tâm nghiên cứu giáo dục có hệ
thống là một nhu cầu ngày càng cấp bách. Đây là nhiệm
vụ của những người được đào tạo khoa bảng.
Cho
đến bây giờ, Nepal đã tạo nhiều cơ hội nghiên cứu cho
những cá nhân và tập thể nước ngoài đến đây. Ở trong
nước, ngày càng có nhiều tổ chức nghiên cứu Phật giáo.
Việc phiên dịch những văn bản Phật giáo cổ sang tiếng
Newar và tiếng Nepal hay tiếng Anh là một hoạt động quan trọng
trong những năm gần đây. Trường đại học Tribhuvan đã tạo
điều kiện thuận lợi cho một số học giả và các nhóm
sinh viên đến Nepal làm công tác nghiên cứu. Những hoạt động
nghiên cứu này được những nghiên cứu trong lĩnh vực nghệ
thuật và khảo cổ bổ sung và làm cho hoàn chỉnh hơn. Thật
ra, trong lĩnh vực nghệ thuật, Phật giáo còn giữ lại
những tác phẩm bằng đá, đồng, gỗ và tranh họa từ trước
tây lịch đến thời đại gần đây. Nghiên cứu trong những
lĩnh vực này là một biểu hiện cho thấy nhiều người quan
tâm tìm hiểu đến Phật giáo và góp phần quảng bá thông
điệp của Đức Phật vượt xa hơn bờ cõi đất nước Nepal.
Bắt
đầu khiêm tốn, bối cảnh lớn hơn
Trong
thời đại nhiều nước, hoặc lớn hoặc nhỏ, tự hào Phật
giáo là con đường tâm linh định hướng cuộc sống
thì Nepal, nơi Đức Phật đản sanh, coi Phật giáo là tôn giáo
của nhóm người thiểu số. Một số nước khác, tuy không
có quần chúng Phật tử địa phương, họ cũng đã đẩy mạnh
giáo dục Phật giáo và được nhiều người biết đến. Tuy
trễ nhưng cũng còn kịp, trường đại học Tribhuvan quyết
định mở khóa học lấy chứng chỉ sau đại học tại phân
khoa Phật học, thuộc khoa Lịch sử, Văn hóa và Khảo cổ
Nepal từ năm 2000. Bây giờ, chương trình đào tạo này đã
được nâng cấp thành khóa cao học.
Trong
bối cảnh toàn cầu, Phật giáo là một trong những tôn giáo
lớn trên thế giới đã được các nước khắp năm châu biết
đến. Nepal, Ấn Độ, Tích Lan, Afghanistan, Pakistan, Tây Tạng,
Trung Quốc, Indonesia, Singapore, Malaysia, Lào, Cambodia, Việt Nam,
Hàn Quốc, Nhật, Mông Cổ và một số nước vùng Trung Á có
lịch sử Phật giáo lâu đời và chất liệu Phật giáo ấy
thấm nhuần trong đời sống của người dân, bao gồm nghệ
thuật và kiến trúc, lễ hội và nghi thức. Lịch sử 2500
năm của Nepal đã gìn giữ những giá trị văn hóa đặc sắc
biểu hiện qua các hình thức như nghi lễ, truyền thống và
chuẩn mực đạo đức gắn liền với sự phát triển của
Phật giáo.
Giáo
dục Phật giáo cần có sự lãnh đạo
Những
trung tâm giáo dục đào tạo sau đại học của Nepal, đã nhiều
thập niên qua, không có giáo dục Phật giáo trong chương trình
đào tạo. Gần đây, có sự tiến bộ trong lĩnh vực này.
Dưới đây là vài nét giới thiệu một số trường đại
học có giáo dục Phật giáo trong chương trình đào tạo.
1.
Trường
đại học Tribhuvan (thành lập khoảng 1960)
Trường
đại học Tribhuvan là trường đại học công lập xưa nhất
do chính phủ Nepal thành lập để đào tạo sau đại học.
Với hơn 200 cơ sở và trên 300 ngàn sinh viên, trường này
trở thành trường đại học tầm cỡ nhất Nepal, không
những vậy nó còn là một trong những trường lớn nhất ở
Đông Nam Á. Hơn một thập niên qua, khoa Nhân văn của
trường đã mở khóa học về giáo dục Phật giáo. Vài năm
nữa, khoa sẽ có những khóa học lấy chứng chỉ
cho sinh viên sau đại học. Tám năm qua, đã có chương trình
đào tạo Cao học ở khoa Phật học tại trường này.
2.
Trường
đại học Siddhartha (thành lập năm 1997)
Trường
đại học Siddhartha, một trường đại học dân lập được
thành lập hơn một thập niên qua. Trường này có chính sách
quy định và kế hoạch cụ thể cùng với nhiều hoạt động
giáo dục khác. Tuy nhiên, nó chưa được chính phủ Nepal công
nhận. Do đó, trường đại học Siddhartha là một công trình
do cá nhân, Thượng tọa Tiến sĩ Sunanda Mahasthavira, một vị
tu sĩ Phật giáo nguyên thủy nổi tiếng lập ra nhưng không
nhận được sự hỗ trợ của các học giả Phật giáo cũng
như trong cộng đồng ở Nepal. Cơ sở chính của đại học
Siddhartha nằm ngoài thủ đô thung lũng Kathmandu chừng 20 ki
lô mét. Mặc dù trường đang quảng bá mục tiêu và kế hoạch
trong tương lai, đây là một sự chuẩn bị không hoàn chỉnh
và không công khai cũng như thiếu sự hỗ trợ của chính phủ
trong giai đoạn đầu.
3.
Trường
đại học Phật giáo Lumbini (thành lập 2005)
Trong
nhiều thập niên qua, Phật tử và cộng đồng nghiên cứu
Phật giáo ở Nepal kêu gọi việc thành lập một trường đại
học để đẩy mạnh việc nghiên cứu Phật giáo và văn hóa.
Nhiều hội nghị chuyên đề, hội thảo quốc gia và quốc
tế được tổ chức nhằm gây áp lực với chính quyền về
việc này. Cuối cùng, chính phủ Nepal thành lập trường đại
học Phật giáo Lumbini khoảng ba năm trở lại đây với
sắc lệnh trực tiếp của vua Nepal. Đây là một bước đáng
mừng nhưng sự việc diễn ra trong thời điểm này có lẽ
không được hợp thời lắm. Khi chính phủ mới được thành
lập và điều hành quốc gia, tiếp theo sự suy sụp của nền
quân chủ dường như có cái gì bất ổn đến ngôi trường
này. Vì trường này được thành lập khi vua còn trị vì,
rồi nó cũng bị thăng trầm với chính quyền cũng như không
nhận được sự ủng hộ của dân chúng sau cuộc cách mạng.
Hiện nay, chính phủ không hoàn toàn điều hành trường đại
học này. Những người có chức năng được chính phủ chỉ
định thấy khó có thể đưa ngôi trường vào hoạt động
vì thiếu nguồn tài trợ từ chính phủ. Việc thành lập bộ
phận quản lý và xây dựng chương trình đã được bàn đến
trong ba năm qua. Trong tình trạng rối ren này, nhiều chương
trình dưới đại học và đại học được tổ chức ở các
trường đại học khác nhưng vẫn chưa thực hiện được
ở trường Phật giáo Lumbini này. Mặc dù tình trạng trì trệ
hiện tại, trường đại học này có tiềm năng phát triển
thành một trung tâm nghiên cứu Phật giáo tầm cỡ nhất đất
nước này. Chúng ta hy vọng rằng khi tình hình chính trị của
đất nước ổn định, trường đại học Phật giáo Lumbini
bắt đầu chuyển mình vươn lên với những chính sách giáo
dục và tài chính cần thiết và hợp pháp, và có lẽ với
bộ phận nhân sự quản lý mới. Toàn bộ giới nghiên cứu
Phật giáo ở các trung tâm nghiên cứu và cộng đồng đều
mong mỏi sự thay đổi này cũng như toàn bộ hệ thống tổ
chức và giáo dục.
4.
Trường
đại học Kathmandu
Trường
đại học Kathmandu nằm gần thị trấn Banepa trên xa lộ cao
tốc Kathmandu-Lhasa. Đây là một trường dân lập có lịch
sử trên một thập niên và có tiếng là đào tạo tốt ở
nhiều ngành học. Một trung tâm nghiên cứu Phật giáo vừa
mới thành lập ở trường này đào tạo chương trình Phật
học cho sinh viên đại học, cơ sở đặt tại học viện Ranjung
Yeshe thuộc tu viện Ka-Nying Shedrub Ling, nằm trong khuôn viên
có ngôi tháp lịch sử nổi tiếng của ngài Bouddhanath.
Chương trình bắt đầu khóa đào tạo Phật học và nghiên
cứu Tây Tạng cấp dưới đại học từ năm 1997 và bây
giờ, đã nâng cấp thành khóa đào tạo đại học. Những
người tham gia khóa học chủ yếu là sinh viên phương Tây,
những người đam mê nghiên cứu Phật học trong giai đoạn
phát triển ở Nepal và hưng thịnh ở Tây Tạng. Họ tập
trung nghiên cứu triết học Đại thừa và ảnh hưởng
của Phật giáo trong đời sống hằng ngày.
5.
Trường
đại học Sanskrit Mahendra
Trường
đại học Sanskrit Mahendra được thành lập với mục đích
chính là khuyến khích nghiên cứu và duy trì văn học Sanskrit
ở Nepal. Trước khi trường này được thành lập, những thanh
niên thuộc giao cấp cao thường đến các trường đại học
ở Bắc Ấn để học Sanskrit. Bây giờ, có trường đại học
Sanskrit tại quê nhà, số lượng sinh viên sang Ấn Độ học
giảm đi nhiều. Trong những năm gần đây, trường đại học
Sanskrit Mahendra có chương trình đào tạo Phật học chủ yếu
tập trung vào phương diện triết học Phật giáo. Tuy nhiên,
sinh viên khoa này phần lớn đến từ các giai cấp cao của
Ấn giáo như là bà la môn và tầng lớp giáo sĩ.
Như
vậy, ít nhất có năm trường đại học đào tạo sau đại
học ở Nepal có chương trình giáo dục Phật giáo. Ngoài ra,
còn nhiều trung tâm tu viện và trường phổ thông ở Nepal
cũng giảng dạy Phật học chính quy và không chính quy nữa.
Phần lớn những trường này ở Kathmandu. Là một tôn giáo
lớn thứ hai ở Nepal, một nhu cầu cần thiết và cấp bách
của Phật giáo là phục vụ nhu cầu giáo dục và tâm linh
cho đông đảo quần chúng Phật tử từ mọi miền đất nước
bằng cách thành lập những trung tâm giáo dục Phật giáo.
Vì Phật giáo không có biên cương, đất nước Nepal đang thu
hút một lượng lớn những sinh viên ngoại quốc, những nhà
nghiên cứu, tăng, ni, những người muốn nghiên cứu chuyên
sâu triết học và văn hóa Phật giáo. Điều này chắc
chắn thực hiện được vì chúng ta tin rằng toàn thể nhân
loại là một. Điều này đánh động tâm thức của nhân loại.
Xin lấy trường hợp của nhà nghiên cứu Phật học và
Ấn Độ học nổi tiếng người Anh, giáo sư Rhys Davids
làm ví dụ ở đây. Davids có lần nói:
“Dù
là Phật tử hay không phải Phật tử, tôi đã nghiên cứu
các hệ thống tôn giáo trên thế giới, tôi không tìm thấy
ở tôn giáo nào điều gì có thể vượt qua được sự toàn
chơn và toàn mỹ trong Bát thánh đạo của Đức Phật. Tôi
toại nguyện khép mình theo con đường ấy.” (Ratna Jinendra)
Thế
nhưng, trong lĩnh vực nghiên cứu, một trường đại học Phật
giáo nên được ưu tiên với một quốc gia đã từng được
biết đến với sự đa dạng về văn hóa, xã hội và tôn
giáo. Một viện nghiên cứu như vậy vào thời điểm
này là một điều rất cần thiết, khi cả thế giới nhìn
về Nepal là nơi xuất thân của Đức Phật và Đạo Phật.
Văn học Phật giáo cổ, ngôn ngữ và những bản cảo đã
làm cho Kathmandu rực sáng thời Trung cổ đang đứng trước
thảm họa mất đi không thể cứu vãn nổi. Cũng vậy, đang
lâm vào nguy cơ hủy hoại của các di tích và khu vực khảo
cổ Phật giáo, Nepal cần có những viện đại học có tầm
cỡ nghiên cứu để gánh vác trách nhiệm thực hiện những
công trình nghiên cứu bảo tồn và công bố các hoạt động
nghiên cứu này. Những học viện nghiên cứu mới cũng cần
có một hướng nữa như là thành lập phân khoa so sánh tôn
giáo để nghiên cứu, so sánh các truyền thống và tôn giáo
hiện hành trong nước. Nghiên cứu các truyền thống này
là điều cấp thiết để nâng cao các giá trị của một xã
hội dân chủ.
Do
vậy, đã đến lúc những học giả, cá nhân quan tâm và những
người tín tâm hãy nắm chặt tay nhau, chung sức cùng với
chính phủ Nepal và những viện đại học khác để thành lập
và phát triển một trường đại học đầy đủ chức năng
để khẳng định, một lần nữa, bản sắc dân tộc của
Nepal. Đây không chỉ là một đất nước vùng núi Hi mã lạp
sơn mà còn là một đất nước của những người Phật tử,
người theo đạo Ấn giáo, Kitaras, Hồi giáo, đạo Sikh, Kỳ
na giáo và Thiên chúa giáo, nơi mà các tôn giáo này không chỉ
cùng tồn tại mà còn cùng nhau kiến tạo một đất nước
hòa bình, thắm tình huynh đệ và an bình thịnh vượng.
Với
mục đích cao cả trong việc tạo ra một môi trường giáo
dục cho các học giả Phật giáo và những người trong nước
cũng như ngoài nước theo học chương trình sau đại học,
chính phủ Nepal nên làm một việc công bằng, dù trễ, đối
với hàng triệu người Phật tử ở Nepal bằng cách ủng hộ
thực thi việc thành lập những viện đại học như vừa đề
cập ở trên. Vào thời điểm mà duy trì và phát triển hòa
bình vẫn đang bị đe dọa, việc thành lập các viện đại
học như vậy sẽ góp phần làm đẹp hình ảnh một đất
nước Nepal hòa bình thân thiện.
Giáo
dục bình an – nhu cầu của thời đại
Bên
cạnh việc nghiên cứu giáo trình thường xuyên trong việc
điều hành các trường đại học, giáo dục bình an được
xem là rất cần ở Nepal. Phương diện giáo dục này giúp mọi
người nói lên được hiểu biết, kinh nghiệm, tấm lòng,
nguyện vọng, ước mơ và cả thành kiến và nỗi sợ hãi
của họ. Các học giả Phật giáo đã nói lên tiếng nói đó
trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Phật Giáo Thế Giới lần thứ
II được tổ chức tại Lumbini hai năm trước đây. Học giả
Karna Shakya cho rằng quá trình học là quá trình khơi dậy sự
tỉnh thức và ý thức dấn thân của cá nhân bằng cách tạo
điều kiện cho người học tham gia đối thoại trong cộng
đồng. Quá trình học đó thúc đẩy khả năng phân tích, phê
phán và khả năng chung sống an bình giữa các cộng đồng
có quan điểm chính trị và niềm tin tôn giáo khác nhau.
Các
học giả cho rằng giáo dục bình an hiệu quả phải là một
chương trình giáo dục có khả năng duy trì sự bình an
lâu dài như là một diệu dược. Họ đặt vấn đề về lối
sống thuần vật chất và thích tiêu thụ bị lôi kéo bởi
xu hướng văn hóa toàn cầu. Trong tinh thần tôn trọng các
nền văn hóa, học hỏi lẫn nhau và hòa nhập với văn hóa
bản địa, chiến lược giáo dục có thể là một công cụ
xây dựng một nền văn hóa toàn cầu an bình. Trong tiến trình
nỗ lực xây dựng Thành Phố Hòa Bình của Thế Giới tại
Lumbini, chúng ta cần tích cực thay đổi nếp nghĩ của con
người trong các cộng đồng dân tộc thông qua giáo dục. Các
nhóm cộng đồng địa phương đang sống và đối mặt với
các tình trạng khủng hoảng đóng vai trò tích cực trong việc
chuyển bạo động thành hòa bình. Nhằm hướng đến một
tương lai an bình và thịnh vượng hơn cho Nepal, hoặc cho toàn
nhân loại, giáo dục phải có động lực đưa những lý thuyết
về hòa bình vào thực tiễn.
Cách
đây vài năm, còn có một sự kiện khác nữa ở Lumbini. Đó
là một hội thảo về “Sự tham gia của địa phương trong
việc phát triển Lumbini” do Tổ chức UNESCO ở Nepal và Hiệp
Hội Phát Triển Lumbini tổ chức. Bên cạnh những thiện chí
và quyết định liên quan đến các vấn đề khác, Hội thảo
đã thể hiện được trăn trở và sự quan tâm của các thành
phần tham dự về sự đóng góp cần thiết của giáo dục
trong quá trình phát triển. Các bài tham luận đã phản ánh
sự thiếu nỗ lực của các cơ quan ban ngành liên quan (ngay
cả Chính phủ và Hiệp Hội Phát Triển Lumbini) trong việc
xây dựng trường Đại Học Lumbini như đã được đề khởi,
đồng thời nhấn mạnh việc cần thiết phải cụ thể
hóa các ý tưởng về trường Đại Học Phật giáo Lumbini
qua sự nỗ lực cộng tác của các tổ chức liên quan càng
sớm càng tốt. Hội thảo cũng đặc biệt đề nghị tiến
hành thúc đẩy sự hỗ trợ của các nước trong việc xây
dựng một trường Trung học trong địa bàn này. Về tầm quan
trọng của Lumbini trong du lịch và tâm linh, các bài tham luận
và đại biểu tham dự cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải
phát triển khu vực cả về phương diện vật chất lẫn phương
diện tâm linh. Đức Phật, lần đầu tiên, thấy được sự
rạng rỡ của thánh địa Lumbini; do đó, sự rạng rỡ của
nền giáo dục do Ngài đề xướng cũng nên xuất phát từ
thánh địa này. Vì vậy, chính phủ và các cơ sở giáo dục
trong nước cũng như ngoài nước cần phải hợp tác với nhau
để trường Đại Học Phật giáo Lumbini được phát triển
và hào quang giáo pháp của Đức Phật được lan tỏa khắp
muôn phương.
Với
làn sóng mới về thay đổi xã hội và chính trị trên toàn
quốc, Phật giáo đã trở thành chỗ dựa tinh thần thiết
thực nhất ở Nepal. Nepal bây giờ đã trở thành một đất
nước thế quyền trong đó Phật giáo là một tôn giáo lớn
thứ hai sau Ấn giáo và có ảnh hưởng lớn đối với quần
chúng tận các miền đồi núi xa xôi. Các nhà giáo dục cần
nỗ lực hết mình để tiếp xúc với các cộng đồng này
vì họ đã có niềm tin với Phật pháp nhưng chưa có cơ hội
để học hiểu Phật pháp. Đây là một nhiệm vụ quan trọng
trong một đất nước có nền dân chủ mới đang nở rộ.
Nếu
các cơ sở giáo dục như các trường đại học nói trên,
hay các tu viện, hoặc các học viện khác đi tiên phong trong
việc phát triển giáo dục Phật giáo, thì các lĩnh vực khác
cũng sẽ được phát triển. Đó là Phật giáo và Hòa Bình,
Phật giáo và Giải trừ vũ khí, Bất bạo động, Nhân quyền,
Phát triển, Công bằng xã hội, Ý thức quốc tế, Ý thức
quan hệ văn hóa, Thái độ phi phân biệt chủng tộc, Môi trường,
Phát triển bền vững,v.v.. Trong Hội Nghị Thượng Đỉnh Phật
Giáo Thế Giới, giáo dục bình an được xem là thích ứng
và cần thiết trong các học viện và các cơ sở giáo dục
không khác gì trong môi trường giáo dục cộng đồng. Nhiều
ý kiến ủng hộ quan điểm cho rằng giáo dục bình an phải
được đan xen vào trong toàn bộ các môn học, kể cả các
hoạt động ngoại khóa thay vì dạy giáo dục bình an như là
một môn học riêng biệt. Bên cạnh giáo dục bình an chính
quy trong nhà trường và đại học, giáo dục bình an cần được
trải rộng trong các hình thức giáo dục quần chúng ở các
giai tầng và bộ phận xã hội.
Tôi
xin nhắc lại ở đây sự đóng góp của Thượng tọa Tiến
sĩ Lâm từ Tu Viện Lumbini Việt Nam. Cách đây vài năm, Thượng
Tọa đã một mình đứng ra vận động chấm dứt mâu thuẫn
đang diễn ra ở Nepal và kêu gọi các nhà lãnh đạo các đảng
phái hãy ngồi lại, trao đổi và nói chuyện với nhau
về những khó khăn mà họ đang đương đầu để tiến tới
hòa bình và phát triển cho Nepal. Và Thượng tọa đã thành
công trong nỗ lực này. Thượng tọa đề nghị các đảng
phái liên quan nên đến Lumbini để bày tỏ những quan điểm
khác nhau của mình. Việc này đã không diễn ra theo đề nghị
nhưng đã làm cho các nhà lãnh đạo và nhiều người liên
quan thay đổi cách nhìn trước thực trạng mất mạng tang
thương của những người yêu hòa bình trong và xung quanh khu
vực. Hiện nay tình trạng đã tốt hơn nhiều nhưng thỉnh
thoảng chúng ta vẫn còn chứng kiến sự giết hại đan tâm
quanh khu vực Lumbini cũng như một vài nơi khác ở Nepal. Thế
giới vẫn đang nhìn Nepal giữa vũng máu, một thực trạng
hoàn toàn trái nghịch với chủ trương giáo dục bình an của
Đức Phật.
Hưng
thịnh của quá khứ đi về đâu?
Điều
gì đã đến với lịch sử, văn hoá và truyền thống tu viện
ở Kathmandu khi những nhà thống trị của triều đại Malla
Ấn giáo đầy quyền lực xuất hiện? Truyền thống văn hoá
tu viện dường như đang dần dần suy tàn sau khi Jayasthiti
Malla lên nắm quyền. Người Malla là những người sùng tín
nữ thần Taleju, một hộ thần trong Ấn giáo bên cạnh thần
Vaishnavite và thần Saivite. Ở thời Trung cổ, truyền thống
tu viện phát triển dưới sự lãnh đạo của các nhà sư và
học giả khả kính. Tăng già có tổ chức chặt chẽ và được
quần chúng Phật tử ủng hộ. Tất nhiên sự lãnh đạo đó
đã không tồn tại trong các triều đại Malla sau này. Và do
đó, tu viện dần dần mất đi truyền thống văn hoá sinh động,
không có các nhà sư, học giả khả kính tới lui nữa. Trong
khi đó Tây Tạng tiếp nối được truyền thống này từ Nepal
trên các phương diện tôn giáo, triết lý, nghệ thuật và
văn hoá - cả hình thức thể hiện lẫn nội dung tiềm ẩn.
Khi quyền lực của người Malla mất về tay người Shah ở
Gorkha, niềm tin tôn giáo dựa trên tinh thần bất bạo động
cũng không được để ý đến. Giai cấp thống trị tin rằng
đất nước có thể lớn mạnh bằng bạo động nên đã đánh
chiếm các nước nhỏ và yếu hơn.
Vào
thời điểm này, Tây Tạng đã trở thành trung tâm của Phật
giáo Mật tông với hàng ngàn trung tâm tu học. Người phương
tây hầu như hoàn toàn không biết gì về sự đóng góp lớn
lao của Nepal cho nền Phật giáo Tây Tạng. Họ nhìn hoạt động
Phật giáo ở Tây Tạng mà quên đi đặc tính Phật giáo từ
Nepal và gọi đó là ‘Phật giáo Tây Tạng’, rồi Nghệ thuật
Tây Tạng, Tranh hoạ Tây Tạng, v.v… Ngày nay, tất cả những
tu viện có chứng tích lịch sử ở Kathmandu chỉ còn lại
một phần rất nhỏ so với sự huy hoàng ngày xưa; thế nhưng,
không có một nỗ lực đáng kể nào từ chính phủ cũng như
cộng đồng Phật tử nhằm khôi phục lại sự huy hoàng của
những tu viện lịch sử đó. Trong khi đó, các tu viện thuộc
truyền thống Phật giáo Đại thừa Tây Tạng ở Kathmandu thì
lúc nào cũng sôi nổi với các sinh hoạt lễ hội cũng như
học thuật. Phần lớn những tu viện này hoạt động bằng
sự tài trợ từ phương Tây.
Nhu
cầu cấp thiết: Xây dựng lại truyền thống Tăng-già
Tam
Bảo - Phật, Pháp và Tăng – là ba trụ cột của tín ngưỡng
Phật giáo. Tu viện được xây dựng và duy trì với sự đóng
góp tích cực và hiệu quả của Tăng già nhằm truyền bá
giáo lý của Đức Phật. Tu viện ở Nepal đã thực hiện được
nhiệm vụ này trong một thời gian dài. Tuy nhiên, những tu
viện này dần dần mất đi vai trò của mình. Tình trạng này
có thể sẽ tiếp tục diễn ra. Để khôi phục lại văn hoá
tu viện ở Kathmandu, trước hết Tăng già mà Đức Phật đã
thiết lập cần được xây dựng lại và tạo sinh khí cho
văn hoá tu viện vốn là bản sắc của cộng đồng Phật tử
Newar ở thung lũng Kathmandu từ ngàn xưa. Một đoàn thể Tăng
già chân chính có thể thực hiện được những việc mà ngay
cả chính phủ cũng không thể làm được. Hiện nay, một số
tu viện đang tổ chức các hoạt động nhằm làm sống lại
các hoạt động ngày xưa. Như thế vẫn chưa đủ. Vậy, cần
phải làm gì nữa? Các thành viên liên quan của Tăng già phải
trả lời câu hỏi này. Đây là một vài đề xuất:
Trước
hết, tạo một môi trường tu học như ngày xưa
Lên
kế hoạch trùng tu lại tu viện với lối trang trí trong ngoài
hài hòa
Tạo
đủ điều kiện thuận lợi cho Tăng chúng cư trú
Tăng
già cần gắn bó chặt chẽ với tu viện và thực hiện các
chức năng của mình.
Thường
xuyên mở các khoá tu học tại các tu viện
Các
trường đại học Phật giáo nên tổ chức các buổi hội
đàm mang tính nghiên cứu
Tổ
chức các lễ hội Phật giáo và tìm hiểu lịch sử của những
ngày lễ đó
Duy
trì hạ tầng cơ sở thật tốt
Để
tìm lại sự huy hoàng và năng động một thời của các tu
viện này, cần có những trách nhiệm và nỗ lực phi thường.
Bài học mà chúng ta đã học được là không thể thừa kế
các di sản văn hoá giống như cách chúng ta thừa hưởng gia
tài của cha mẹ. Văn hoá đòi hỏi chúng ta phải có thái độ
nhập cuộc, suy xét và ý thức cộng đồng. Dù vậy, chúng
ta không thể nào làm sống lại một nền văn hóa đã qua.
Gần
đây, một nhà chính trị, người đã âm mưu khơi dậy và
tham gia lãnh đạo trong cuộc chiến tranh ở Nepal hơn 12 năm
qua, đã nói với dân chúng rằng người Nepal không những cần
Đức Phật mà còn cần Rana Jung Bahadur nữa – Rana là một
nhà quân sự dùng vũ khí để cưỡng chiếm ngôi vua vào năm
1846. Rana và gia đình của mình đã thống trị đất nước
và làm cho đất nước ngửa nghiêng hơn cả thế kỷ. Chế
độ gia đình trị của ông là chế độ tồi tệ nhất trong
lịch sử về các phương diện kinh tế, xã hội, văn hoá,
công bình xã hội và hình ảnh đất nước Nepal trên trường
thế giới. Tại sao nhà lãnh đạo này lại nghĩ đến Thủ
tướng Rana vào thời điểm này? Hiểu động cơ của ông không
phải là chuyện khó. Rana bảo thủ truyền thống quân sự
và muốn duy trì quyền lực bằng quân sự.
Nhưng
thời gian đã qua, hoàn cảnh đã thay đổi. Người Nepal đã
quá chán ngán với tình cảnh huynh đệ tương tàn rồi. Họ
chỉ cần một Đức Phật, một con người yêu chuộng hoà
bình như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni xưa. Giáo dục bình an của
một vị Phật và sự thịnh vượng sẽ thường trụ trên
thế gian này.
Để
giáo dục bình an hiện hữu trong tương lai gần, chúng ta hãy
cầu nguyện - Cầu nguyện Đức Phật sẽ tái hiện ở Nepal.
Và
quan trọng hơn thế, Cầu cho khi thị hiện, Ngài không có một
gien bạo động nào của Jung Bahadur Rana.
Bởi
vì – Chúng ta cần Đức Phật, thật bình dị mà siêu việt
và tràn đầy từ bi.
Chúng
ta không thể tưởng tượng ra một Đức Phật với một cây
súng SLR trên tay. Với Đức Phật và đệ tử của Ngài, chiến
tranh không có chỗ đứng. Đức Phật là nhà cách mạng với
tư tưởng sáng tạo và ảnh hưởng tích cực đến nhân loại.
Ngài đấu tranh trong an bình, chống lại sự bất công, sự
phân biệt kỳ thị và hành động ích kỷ. Sự đấu tranh
ngày nay thì khác cả về bản chất lẫn ảnh hưởng của
nó. Vì vậy, con người đừng bao giờ nghĩ đến sự đấu
tranh như thế. Niềm tin sẽ thắng được lòng người; còn
súng thì không. Tu viện nuôi dưỡng được niềm tin, do đó,
nuôi dưỡng được lòng người. Bên cạnh những trường đại
học như đã đề cập trên, chúng ta cần nhiều tu viện hơn
nữa để truyền bá giáo lý của Đức Phật.
Chính
phủ Nepal cần phải chú ý đến những điều mà các đại
biểu, các học giả, những người thiện nguyện quốc tế
đã mong mỏi trong các cuộc hội nghị tại Lumbini. Các vị
ấy đã nhắc đi nhắc lại rằng một học viện cao cấp như
trường Đại học Phật giáo chính là điều mà đất nước
Nepal ngày nay cần phải có để giải quyết tất cả những
vấn đề mà họ đang đối mặt để tiến đến ổn định
và hoà bình. Họ đã hứa sẵn sàng ủng hộ một khi công
việc bắt đầu. Và sau nhiều năm, bây giờ chúng ta đã có
trường Đại học Phật giáo Lumbini nhưng trường chưa đi
vào hoạt động như mong muốn. Người Phật tử Nepal cứ vờ
đi như thể chưa từng có một Đại học như thế. Các trường
Cao Đẳng không có thiện ý liên kết. Những nhà chủ trương
chính sách của chính phủ và dân chúng Nepal phải biết rằng
một trường Đại học Phật giáo ở Lumbini sẽ có ý nghĩa
lớn trong việc đưa Lumbini trở thành một biểu tượng của
sự Hành Hương về Hoà Bình cho tất cả mọi người. Việc
này cũng sẽ tạo nên sinh khí mới trong lĩnh vực du lịch
tâm linh của khu vực. Và cuối cùng, đây quả là sự bức
xúc nếu chính phủ và Phật tử Nepal không quan tâm ủng hộ
để đưa trường đại học Phật giáo ở đây lên một tầm
cao xứng đáng.
Để
kết thúc bài tham luận này, tôi mong mỏi cộng đồng Phật
giáo thế giới, hãy đến thăm đất nước Nepal, xác định
nhu cầu và phạm vi của giáo dục Phật giáo và cùng nỗ lực
chung sức chung lòng để thúc đẩy giáo dục Phật giáo,
cả chính quy và không chính quy ở nơi này. Nhiều phạm vi
cần được nghiên cứu chuyên sâu trong lĩnh vực này còn bỏ
ngõ. Cùng chung tay góp sức, chúng ta sẽ cống hiến rất nhiều
cho sự hòa hợp giữa những người Phật tử cũng như người
không phải Phật tử. Hơn nữa, giáo lý của Đức Phật nhằm
phục vụ giá trị nhân văn và không có một giới hạn ngăn
ngại nào trong ý nghĩa của từ “nhân văn” cả.
Cuối
cùng, tôi thành kính ngưỡng mong Đức Phật Tổ Thích
Ca Mâu Ni hộ trì cho tất cả chúng ta dám nhận lãnh trách
nhiệm và dấn thân vào công việc cao cả là đọc đi đọc
lại những lời Ngài dạy, áp dụng những lời dạy này trong
đời sống hằng ngày, làm tất cả những gì cần thiết để
chuyển hóa bao nỗi khổ niềm đau cho người khác.
Tôi
thành tâm đảnh lễ và tỏ lòng tôn kính đến chư Tăng, Ni
và tất cả pháp hữu hiện diện trong hội nghị hôm nay.
Ngưỡng
mong Đức Phật Tổ gia hộ cho tất cả chúng ta trong ngày lễ
Vesak thiêng liêng này!
Mong
rằng trong dịp lễ kỷ niệm lần sau, chúng ta lại có duyên
hội tụ tại một nơi nào khác, nhưng nhiệm vụ và mục đích
vẫn không thay đổi!
Mong
chúng ta có được trí tuệ và nhận lãnh trách nhiệm truyền
bá giáo pháp của Đức Phật!
Mong
thế giới bình an, mãi mãi bình an!
Tài
liệu tham khảo:
Jinendra,
M.R. Ratna, 2002. One Hundred Years of Western Scholarship. In the World
of Buddhism, Prof. ADTE Perera, Ed in Chief, Sri Lanka Cultural Research
Publications, Sri Lanka, Vol. 15, No. 1, (2001-2002), pp. 20-22.
Shakya,
Karna, 2004. Lumbini World Peace City – The Vision and the Perspective.
A theme paper presented to the Second World Buddhist Summit, Lumbini, Date
30th Nov-2nd Dec, 2004.
Khatry,
Prem, 2007. Buddhism in Higher Education: Needs of Roots and Wings, The
Rising Nepal.
…
2005. Buddhist Education in Nepal: Context, Challenges and Possibilities.
Himpat (monthly Nepali journal), Miss Lila Gurung, Chief Editor, Siphal,
Kathmandu, pp. 17-20.
…
2008, The declining trend of Vihara culture in Kathmandu, The Rising Nepal,
Feb.
Kung
(Venerable), Master Chin, n.d. The Collected works of Ven. Master
Chin Kung. (Trans.: Silent Voices). Taipei, Taiwan: The Corporate Body
of the Buddha Educational Foundation
Ranjung
Yeshe Institute, Bouddha, Kathmandu. Brochures and information materials
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.