DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
GIÁO DỤC
PHẬT GIÁO VIỆT NAM
THEO HƯỚNG
THỪA KẾ VÀ PHÁT TRIỂN
TT.
Minh Thành, Ph.D
 |
 |
Tóm
tắt:
Sự
hồi phục mạnh mẽ của hệ thống giáo dục Phật giáo Việt
Nam (VBES) sau năm 1984 phản ánh rõ nét truyền thống và năng
lực tri túc của cộng đồng Phật giáo Việt Nam. Nhưng VBES
vẫn nhận ra sự tụt hậu của mình so với ngành giáo dục
trong và ngoài nước về phương diện tầm vóc, chất lượng
và độ hiện đại của các dịch vụ mà nó cung ứng. Tác
giả gợi ý rằng cộng đồng Phật giáo Việt Nam sẽ làm
thế nào để một mặt đạt được nhận thức tốt hơn về
những đóng góp của mình cho dân tộc cũng như cho thế giới
bên ngoài và mặt khác tìm kiếm và nắm bắt thêm các cơ
hội về hợp tác và đầu tư để gia tốc cho sự phát triển
của VBES hài hòa và đồng bộ với những mục tiêu phát
triển kinh tế và xã hội của dân tộc Việt Nam và những
lý tưởng của đạo Phật Việt Nam.
Phật
tử và Tăng già Việt Nam đã và đang kế thừa hệ thống
giáo dục Phật giáo Việt Nam trong quá khứ. Trong đó nổi
trội nhất là Đại Học Vạn Hạnh và Cao Đẳng Phật Học
Huệ Nghiêm với những thành quả mang tính lịch sử mà những
tăng sĩ xuất thân từ đó đạt được. Nhiều vị hiện đang
là lãnh đạo của Phật giáo Việt Nam.
Trong
tâm hồn của những vị lãnh đạo Phật giáo thì những
ngày tháng ở Đại Học Vạn Hạnh hay Cao Đẳng Phật Học
Huệ Nghiêm luôn luôn là một kỷ niệm thân thương và đồng
thời là một nguồn tự hào của một thời kỳ. Thật ra,
không quá đáng khi nói rằng Đại Học Vạn Hạnh hay Cao Đẳng
Phật Học Huệ Nghiêm vẫn được xem là lý tưởng mà Đại
Học Phật Giáo Việt Nam hiện nay đang vươn tới.
Suốt
thời gian gần một thập niên trước năm 1975, Đại Học Vạn
Hạnh đã cung ứng những tiện ích và nhiều chuyên nghành
đại học thuộc khoa học tự nhiên và khoa học xã hội.
Sinh viên Đại Học Vạn Hạnh đến từ khắp nơi của Nam
Việt Nam và được ghi danh không phân biệt vị thế xã hội,
nghề nghiệp, giới tính, sắc tộc và tôn giáo. Đại Học
Vạn Hạnh trong nền giáo dục của người dân Việt Nam nói
chung đã thực hiện vai trò của mình một cách xứng đáng.
Đã có người gợi ý nên tổ chức hội thảo để nhớ lại
và kết tập lại những hiện vật cũng như những hiểu
biết về Đại Học Vạn Hạnh trong quá khứ, tương tự
như điều đã được làm cho Đông Kinh Nghĩa Thục, một ngôi
trường đã làm rạng danh cho nền văn hóa và giáo dục tiến
bộ của Việt Nam thời Pháp thuộc trước khi bị thế lực
của thực dân đóng cửa.
Xem
lại lịch sử không phải chỉ để tránh những sai lầm mà
còn để chúng ta chọn được hướng phát triển tốt
nhất. Hay, như Khổng tử nói, “Hãy nhìn lại lịch sử,
nếu bạn muốn kính ngưỡng tương lai”.
Sau
chiến tranh Việt Nam, Phật giáo Việt Nam, cũng như mọi tổ
chức khác đều thừa hưởng rất ít những tiện nghi và
thiết bị giáo dục từ quá khứ và nền giáo dục Phật
giáo đã trải qua một giai đoạn trì trệ gần một thập
kỷ. Tuy nhiên, sự phục vụ của giáo dục Phật giáo dành
cho người theo đạo Phật ở Việt Nam vẫn tìm hướng hoạt
động trở lại, thậm chí xây dựng thành công và càng ngày
càng phát triển Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam, tiền
thân của Đại Học Phật Giáo Việt Nam hiện nay.
Sự
thành công của Trường Cao Cấp Phật Học Việt Nam đã tạo
cảm hứng và yểm trợ cho việc thành lập nhiều trường
Phật học khác khắp Việt Nam, phục vụ trình độ cơ bản
hay những trình độ cao hơn của nền giáo dục tâm linh, đạo
đức và khoa bảng. Trong hai thập kỷ sau đó, một mạng lưới
quốc gia những cơ sở giáo dục Phật giáo đã phát triển
mạnh mẽ dưới sự dẫn dắt của Ban Giáo Dục Tăng Ni, Giáo
Hội Phật Giáo Việt Nam. Tính đến hoàn cảnh kinh tế khó
khăn thời bấy giờ thì sự phát triển như vậy quả là
có ý nghĩa.
Nhưng
hệ thống giáo dục Phật Giáo Việt Nam trong nhiều phương
diện vẫn còn tụt hậu so với tốc độ phát triển của
xã hội Việt Nam khi thị trường và nền thương mại Việt
Nam đã mở cửa thông với thế giới. Phương diện cần
quan tâm là chất lượng kinh tế và chất lượng kỷ thuật
của những ngành học, của những thiết bị và phương tiện
giảng dạy, hầu hết đều trong tình trạng thiếu kém so với
những cơ sở giáo dục khác ở trong nước và ở những
nước phát triển hơn.
Những
sinh viên đã tốt nghiệp từ nền giáo dục Phật giáo, kể
cả những vị nổi trội nhất đều có những hồi ức vui
buồn lẫn lộn về nền giáo dục này. Những vị thành công
nhất chủ yếu là do dựa vào sức nỗ lực và sức mạnh
tâm linh phi thường. Và đã có đề nghị rằng hệ thống
giáo dục Phật giáo Việt nam có thể được cải thiện
nhờ vào sự đầu tư lớn hơn hướng đến 3 mục tiêu chính
yếu sau đây:
Đầu
tư để giảng viên có nhiều công trình nghiên cứu hơn hay
nhiều kinh nghiệm hơn hay được đào tạo theo những tiêu
chuẩn thế giới.
Đầu
tư để khâu tuyển sinh vào trường và khâu tốt nghiệp ra
trường dựa trên những tiêu chí thông thoáng và bền vững
hơn, đồng thời phù hợp với những chuẩn mực của nền
giáo dục Việt Nam và quốc tế.
Đầu
tư vào những tiện ích phục vụ giáo dục như thư viện,
giảng đường, lớp học, phòng nghiên cứu, nhà thể dục,
khu nội trú... rộng rải hơn, được trang bị tốt hơn song
song với việc có những đầu tư tối thiểu nhằm bảo vệ
sinh viên, các phân khoa và nhân sự giáo dục chống lại tình
trạng thời tiết càng lúc càng khắc nghiệt hiện nay.
Với
những mục tiêu như vậy thì bước đầu tiên và cơ bản
là nâng cấp học vị cũng như năng lực của đội ngũ giảng
dạy. May mắn là bước đầu tiên này đã được thực hiện
từ năm 1992 khi Phật Giáo Việt Nam ủng hộ cho một số tăng
ni được tuyển chọn đi du học nhằm nâng cấp kiến thức
và kinh nghiệm giảng dạy, trước hết là ở Ấn Độ, sau
đó là Trung Quốc, Đài Loan, và những vùng lãnh thổ khác;
gần đây nhất là Nhật Bản và Hoa Kỳ. Tuy rằng còn nhiều
việc cần phải làm để cho hệ thống giáo dục của Phật
Giáo Việt Nam đuổi kịp phần còn lại của thế giới,
dù vậy đội ngũ giảng viên của Đại Học Phật Giáo Việt
Nam hiện nay nhiều vị đã có học vị tiến sĩ được quốc
tế công nhận và rõ ràng là chất lượng giảng dạy của
Trường đã được cải thiện đáng kể.
Mục
tiêu thứ hai là điều hành khâu tuyển sinh và khâu thi tốt
nghiệp ra trường. Việc này có thể được thực hiện thành
công với sự nỗ lực của Giáo hội và qua sự hợp tác với
những tổ chức giáo dục và những nhà quản lý giáo dục
trong nước và ngoài nước.
Mục
tiêu thứ ba là cải thiện những phương tiện, những trang
thiết bị và những nguồn tư liệu hay những vật lực khác
để phục vụ giáo dục. Mục tiêu này khó có thể được
thực hiện đầy đủ nếu chỉ dựa vào sức cúng dường
và sức ‘công quả’ của tăng ni Phật tử và những vị
lãnh đạo. Ngoài những nguồn vật lực phục vụ giáo dục
từ mạng lưới internet, một nguồn vật lực, tư liệu rẻ
tiền và lúc nào cũng sẳng sàng cung cấp, chỉ hiềm một
nỗi là thiếu đồng bộ, không nhất quán, có nhiều khi là
hổn tạp.
Để
đủ kinh phí mà nền giáo dục ngày nay cần sử dụng thì
phải có mức độ đầu tư. Cụ thể là đầu tư cho những
phòng học hiện đại, thư viện, thính đường, phòng học,
khu thể thao, ký túc xá, văn phòng hành chánh, sách vỡ, vi
tính, trang thiết bị thính thị và những trợ giúp khác.
Hiện nay ở hầu hết những cơ sở giáo dục Phật Giáo,
những đầu tư như vậy rất thiếu, nhiều khi là hoàn toàn
không có. Và, hầu như không ai cho rằng Phật Giáo Việt
Nam có khả năng tự cung ứng nguồn kinh phí như vậy.
Đối
với những nguồn đầu tư từ trong nước và từ nước ngoài,
Việt Nam trong tư thế là một dân tộc đã thành công một
cách đáng khâm phục trong việc tìm kiếm, tìm thấy và phân
bổ những nguồn đầu tư cho sự nghiệp giáo dục. Nhưng
những nguồn đầu tư này nói chung chưa đụng chạm gì đến
Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, đại diện duy nhất cho Phật
Giáo Việt Nam, đang được hưởng quy chế tương đối tự
trị, cách ly với nhiều chương trình của nhà nước, một
quy chế mà Phật Giáo Việt Nam với tư cách là một tổ chức
tâm linh rất trân trọng.
Dẫu
sao, hiện trạng tương đối thiếu đầu tư dù là từ trong
nước hay từ nước ngoài vào hệ thống giáo dục Phật
Giáo của Việt Nam có thể có nguyên do từ nếp nghĩ truyền
thống của Phật giáo: “hãy xuất phát từ nơi mà bạn đang
đứng” và thường được giải thích với hàm ý cho rằng
hãy biết đủ và tránh đòi hỏi sự giúp đở của người
khác. Trong khi câu “Hãy bắt đầu xử lý những thiếu thốn
nơi bạn từ điểm chúng xuất phát” vẫn còn là lời khuyên
dành cho cá nhân và cộng đồng, thì lý tưởng biết đủ
đôi khi lại phát triển quá đà đến mức cực đoan và cuối
cùng làm hại cá nhân lẫn cộng đồng. Trong thời đại mà
hiện tượng toàn cầu hóa đã trở nên phổ quát không những
trong ngành truyền thông và thương mại mà còn trong ngành kinh
doanh và giáo dục thì ý tưởng mang tính cực đoan về sự
tự đầy đủ có thể nhanh chóng dẫn đến trình trạng cá
nhân hay cộng đồng bị tổn hại thậm chí là tình trạng
tự diệt.
Nguyên
lý duyên khởi của đạo Phật một cách thú vị đã được
John Donne, nhà thơ siêu hình người Anh thời Shakespeare diễn
đạt qua câu: “Không có ai là một hòn đảo, tự đầy đủ,”
Thật vậy, không có một cư sĩ nào, tăng sĩ nào, vị ni nào
là hoàn toàn tự đầy đủ. Ngay cả một nhà sư hay một vị
ni khổ hạnh còn phải nương nhờ vào ngôi Tam Bảo, Phật,
Pháp và Tăng. Phật và Pháp cung cấp cho vị ấy những hướng
dẫn tâm linh và những nhận thức sâu xa khác. Phật tử,
những vị lãnh đạo Phật giáo và tăng ni, tất cả có thể
gọi chung là Tăng già, thường cung cấp cho vị ấy những
nhu yếu như thức ăn, quần áo và chổ ở. Ngay cả trong thời
cổ đại vẫn rất hiếm hoi những vị tăng hay ni có thể
sống tu tập mà không nhờ vào lòng từ ái và sự đóng góp,
gọi chung là “đầu tư tâm linh” của tứ chúng, kể cả
những người ngoài tứ chúng.
Ngày
nay, Lễ Phật Đản Liên Hiệp Quốc cử hành ở Việt Nam
lại có tác dụng nhấn mạnh hơn nữa rằng không phải giới
cư sĩ Phật giáo Việt Nam, cũng không phải những vị Tăng
hay Ni, ngay cả tổng thể Phật giáo Việt Nam là “một hòn
đảo, tự đầy đủ”. Phật giáo Việt Nam đã và đang
luôn luôn là người có những cống hiến về nhiều phương
diện cho xã hội, cho Phật giáo thế giới và cho cộng
đồng thế giới; Phật giáo Việt Nam đồng thời cũng
đã và đang là người nhận lại những thành quả từ xã
hội và thế giới nói chung.
Phật
giáo Việt Nam và những hệ thống giáo dục mà Phật giáo
Việt Nam đã xây dựng được từ suốt quá trình lịch
sử đã có những cống hiến không thể phủ nhận được
cho sự phát triển và duy trì sự ổn định của xã hội
Việt Nam; phát triển và duy trì trí tuệ và tính thống nhất
của dân tộc Việt Nam.
Điều
đáng ghi nhận là xã hội Việt Nam trong thời gian dài trước
đây không có nguồn tư vấn tâm lý rộng khắp dành cho công
nhân, nhà quản lý, công chức, gia đình và ngay cả những
tội phạm như những nước phát triển hơn; trong suốt thời
gian đó Tăng già Việt Nam đã tích cực thực hiện vai trò
quan trọng này, nâng đở và duy trì sự bình ổn và trạng
thái tâm lý lành mạnh, nâng đở và duy trì mặt bằng đạo
đức cho nguồn nhân lực của nền kinh tế Việt Nam. Như vậy,
Phật giáo Việt Nam không cần phải ngại trong việc tìm
kiếm nguồn đầu tư từ xã hội Việt Nam nói chung. Cả
hai bên đều được hỗ tương lợi lạc.
Phật
giáo Việt Nam đã gửi ra thế giới những nhà tư tưởng,
những vị đạo sư tốt nhất, sáng lạn nhất, không những
làm phong phú thêm cho hàng ngũ Tăng già quốc tế mà còn cho
cả thế giới nói chung. Những vị này thường thành lập
nên những cộng đồng Phật giáo mới có tác dụng tích
cực về nhiều phương diện, thậm chí thành lập nên những
tông phái Phật giáo mới ở những quốc gia khác. Như vậy,
Phật giáo Việt Nam không cần phải ngần ngại trong việc
tìm kiếm, chấp nhận và sử dụng những nguồn đầu tư
từ nước ngoài. Những nguồn đầu tư như thế cuối cùng
sẽ làm lợi lạc không những cho những nhà đầu tư và
Phật giáo Việt Nam mà còn làm lợi lạc cho đất nước
Việt Nam và thế giới nói chung.
Tất
cả điều trên không hề có nghĩa là Giáo Hội Phật Giáo
Việt Nam sẽ tiếp nhận mọi dạng cúng dường, mọi dạng
đầu tư cho nền giáo dục Phật giáo từ bất cứ ai, với
bất cứ điều kiện nào. Mọi nhà đầu tư với đề nghị
đầu tư vào hệ thống giáo dục Phật giáo cần phải
được cân nhắc thận trọng xem có phù hợp với hệ thống
giáo dục Phật giáo Việt Nam, phù hợp với những mục tiêu
phát triển kinh tế xã hội của dân tộc Việt Nam hay
không, dù là dạng đầu tư ngắn hạn, trung bình hay dài hạn.
Ngày
nay, hệ thống giáo dục Phật giáo Việt Nam tương đối
đã có thể đáp ứng được những yêu cầu ngắn hạn của
nó, cụ thể như sự phát triển của các ngành học và những
nguồn vật lực phục vụ giáo dục căn bản. Mối quan tâm
chủ yếu hiện giờ là làm thế nào đẩy mạnh sự đóng
góp và nguồn đầu tư dài hạn, có được nguồn kinh phí
dành cho việc kiến trúc, xây dựng, sắm sửa những trang
thiết bị và nguồn vật lực đáp ứng được việc dạy
và học ở cấp cao hơn. Nói chung, những dự án ngắn hạn
hầu kiếm được lợi nhuận nhanh chóng hay gây xôn xao thì
không nên tiếp nhận, dĩ nhiên trừ trường hợp những đề
án này có thể đẩy mạnh và làm phong phú cho những mục
tiêu về đạo đức, tâm linh và tuệ giác cứu cánh của
nền giáo dục Phật giáo.
Giáo
hội không cần phải ngần ngại trong việc tìm kiếm nguồn
đầu tư. Tương tự, giáo hội cũng không cần phải ngần
ngại trong việc tìm kiếm sự trợ giúp hay tư vấn về cách
làm thế nào để thúc đẩy đầu tư, ký được hợp đồng
và giải ngân một cách tốt nhất, dù đối tác với các nhà
tư vấn đầu tư hay các nhà chiến lược đầu tư, dù là
bên trong nước hay từ ngoài nước, thuộc chính phủ hay phi
chính phủ.
Cuối
cùng, Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam phải được quyền ưu
tiên trong việc đánh giá mỗi một nguồn đóng góp hay đầu
tư vào hệ thống giáo dục Phật giáo dựa trên những
tiêu chí chung mà Giáo hội cũng áp dụng cho chính mình: phù
hợp với Giáo pháp và đạo đức Phật giáo. Cần nhấn
mạnh một lần nữa rằng những vị lãnh đạo Giáo Hội
Phật Giáo Việt Nam có đủ năng lực thực hiện nhiệm vụ
này và nền giáo dục Phật giáo Việt Nam xứng đáng được
những nhà bảo trợ và những nhà đầu tư trong nước và
trên thế giới quan tâm một cách ưu ái.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.