.
DIỄN VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN


TỪ HIỂU BIẾT ĐẾN THỰC HÀNH
Thích Chân Quang

1. Quả thực có một khoảng cách từ hiểu biết đến thực hành giáo lý

Ta có thể hiểu rõ ràng, nói lại rành mạch, rằng đệ tử Phật phải thực hành Tứ vô lượng tâm, phải từ bi hỷ xả với muôn loài, phải thương yêu chúng sinh vô hạn. Nhưng điều đó không hề bảo đảm rằng ta có thể thương yêu được những người đang sống bên cạnh ta từng ngày, càng không bảo đảm rằng ta có thể thương yêu được những con chim vừa bay qua cửa sổ, những con cá vừa bơi qua khe sâu. 

Ta có thể hiểu về Nhân quả nghiệp báo rất nhiều, có thể biết rằng muốn được làm một người có nhiều phúc lành, may mắn, ưu thế thì ta phải chịu cực làm những điều phúc thiện nhân ái. Nhưng điều đó không bảo đảm rằng ta đủ sức mạnh siêng năng dấn thân vào cuộc đời để đem lại niềm vui cho con người chung quanh.

Ta có thể tin rằng có rất nhiều người thực hành thiền định đạt được nội tâm an tĩnh, hạnh phúc, thậm chí đắc đạo, có trí tuệ, có thần thông. Thậm chí ta có thể hiểu phần nào, nói lại phần nào những trạng thái tự tại mầu nhiệm của thiền định. Nhưng điều đó không bảo đảm rằng ta sẽ chịu đau chân để ngồi thiền tinh tấn đều đặn.

Trong cuộc sống, nhiều khi ta có thể phân tích lỗi lầm của người khác chi li rõ ràng giống như một bậc thầy nghiêm khắc và khả kính, nhưng cũng không bảo đảm rằng ta sẽ không phạm đúng những lỗi lầm như thế.

Thậy vậy, biết điều tốt là một chuyện, thực hành điều tốt lại là một chuyện khác hẳn. 

Theo logic thông thường, một khi ta biết thế này là sai, thế kia là đúng, làm cho người đau khổ là sai, giúp cho người được an vui là đúng, để tâm hồn loạn động là sai, giữ tâm hồn an tĩnh là đúng, một khi đã biết đúng sai như thế thì tự nhiên tâm ta phải khởi lên cái “muốn” tránh việc sai, và muốn làm việc đúng. Nhưng còn cái gì đó khiến cho ta không đủ sức đi theo con đường chân chính hướng thiện. Những cái tham lam, sân hận, ganh ghét… vẫn chi phối ta, thúc đẩy ta làm nhiều việc tồi tệ xấu xa.

Cái gì đó  là những điều mà ta cần phải hiểu cho rõ, nhìn cho suốt để hóa giải nó, gỡ nó ra khỏi tâm hồn, để cho ta có thể mạnh mẽ làm những điều tốt như lời Phật dạy, như ta mong muốn ngay lúc ban đầu ta vừa biết rõ đúng sai.

Không những ta phải gỡ cái gì đó  ra khỏi tâm hồn mình, mà còn phải gỡ giùm cái đó giùm cho nhiều người khác, gỡ ra khỏi tâm hồn học trò mình, để điều tốt trở thành hiện thực trong cuộc sống này, và Phật Pháp không trở thành món hàng trưng bày trong cửa hàng văn hóa. Nhà giáo dục của Phật giáo phải nhìn suốt những điều này, để ngoài việc truyền bá giảng dạy đạo lý, ta còn phải có phương pháp giúp cho học trò mình làm được những điều cao đẹp mà họ đã học được trong Phật Pháp.

2. Những điều ngăn ngại 

Điều ngăn ngại thứ nhất mà ta dễ kết tội nhất đó là sự yếu kém ý chí, khiến cho một người tuy biết được những đạo lý tốt đẹp mà vẫn không mạnh mẽ thực hành được. Ý chí là gì, vẫn là một bí ẩn khó định nghĩa. Ta chỉ biết rằng nếu thiếu ý chí thì một người không thể làm được những gì mà họ dự tính, ước mơ, vì sự lười biếng là trở ngại, và cuộc vui… sẽ nhanh chóng kéo tâm hồn họ qua hướng khác.

Ý chí có thể được rèn luyện bằng cách tập luyện đương đầu với khó khăn nghịch cảnh. Vì thế, những người thường phải sống trong cảnh khó khăn dễ có ý chí hơn là người sống trong cảnh dư dả. Những vùng đất nghèo khổ hiếu học lại hay sản sinh ra người tài cho quốc gia, có lẽ cũng là như vậy.

Nếu không có nghịch cảnh khó khăn để ta đương đầu thì ta cũng phải tự tìm những việc khó để làm hầu tự rèn luyện cho mình ý chí mạnh mẽ. Người làm công tác giáo dục phải hiểu điểm này để rèn luyện ý chí cho học trò của mình. Phải ép học trò mình đương đầu thách thức với những việc khó, không chìu chuộng đệ tử với những việc dễ dàng nhẹ nhàng.

Nhưng có một phản ứng phụ phát sinh từ ý chí, đó là bản ngã. Sự ương ngạnh, sự kiêu ngạo cũng sẽ dấy lên một khi ý chí trỗi dậy. Người có nhiều ý chí mạnh mẽ, cũng là người có cá tính mạnh, cũng là người cứng rắn, và dễ là người kiêu ngạo. Người tu hành, người giáo dục phải biết cái side effect này để tránh. Một khi ta rèn luyện được ý chí thì phải biết tự nhắc mình về ý niệm khiêm hạ, thường tự nhủ sẽ nhường nhịn, lắng nghe, chịu đựng để khống chế bớt sự tự kiêu đang lớn theo cùng với ý chí.

Một phương pháp khác để rèn luyện ý chí nữa là cố gắng làm các điều thiện có lợi ích cho mọi người, hoặc siêng năng lễ Phật sám hối. Một logic của Nhân quả nữa là những hành động thiện nguyện tạo thành sức mạnh tinh thần rất nhiều, có khi còn hơn cả việc rèn luyện đương đầu với nghịch cảnh. Ai muốn có ý chí phải siêng năng làm các việc từ thiện công đức, phải siêng năng lễ Phật hằng ngày. Khi có phúc rồi, tự nhiên ta cũng có ý chí để có thể thực hành nhiều đạo lý của Phật dạy. Cũng vì thế, một nhà giáo dục Phật giáo phải tạo điều kiện cho học trò của mình làm được nhiều việc thiện nguyện.

Điều ngăn ngại thứ hai  là hoàn cảnh không thuận tiện. Quả thật là khi hoàn cảnh không thuận tiện, dù ta có lòng, vẫn khó thực hành các đạo lý Phật dạy. Cái khó vẫn bó được cái khôn chứ chẳng không. Nhiều người muốn ngồi thiền, nhưng gia đình bẩn chật quá. Nhiều người muốn ăn chay, nhưng chưa thể tách bếp ăn riêng cho mình. Nhiều người muốn giúp đỡ tha nhân nhưng chính mình còn quá khó khăn, v.v…

Trong trường hợp này, ta phải nguyện lòng giữ gìn đạo tâm vững chắc, sám hối nghiệp quá khứ đã tạo nên hoàn cảnh này, và mỗi khi cơ hội mở ra là lập tức thực hành không bỏ lỡ.

Nhà giáo dục Phật giáo phải thông cảm cho trường hợp này và luôn động viên an ủi cho học trò để nuôi dưỡng đạo tâm lâu dài cho đến khi trời sáng nắng lên.

Điều ngăn ngại thứ ba là một loại nghiệp bí mật kỳ lạ đồn trú sâu thẳm trong não bộ khiến cho một người như bị tê liệt không thể thực hiện những điều tốt đẹp mà mình biết rõ. Ta còn nhớ chuyện tôn giả Culla Panthaka khi mới vào đạo bị một loại ám nghiệp kỳ lạ khiến cho tôn giả không thể nào học thuộc nổi một bài kinh kệ nào cả. Đến khi ám nghiệp qua đi, tôn giả nhanh chóng đắc được thánh quả và bộc phát trí tuệ phi thường.

Nghiệp chê bai sự yếu đuối của người mà không thương yêu hướng dẫn, nghiệp ngăn cản người làm điều tốt, nghiệp đố kỵ người tinh tấn… có thể khiến cho về sau ta bị một loại chướng ngại kỳ lạ đồn trú trong não, khiến ta như bất lực trước những đạo lý cao đẹp mà ta biết rõ mà mình cần phải thực hành.

Muốn vượt qua tình trạng kỳ lạ này thì không còn cách nào khác hơn là ta phải sám hối thường xuyên, lễ Phật rất nhiều. Khi công phu lễ Phật sám hối đã chín mùi thì lùc nào đó, tự nhiên ta thoát khỏi ám chướng, tâm hồn trở nên mạnh mẽ, có thể làm được những điều mà ta mong muốn.

Ta cũng phải biết khen ngợi những người giỏi giắn, xót thương những người yếu đuối, phụ giúp những người hành thiện… để tạo thành công đức ý chí cho chính mình.

Điều ngăn ngại thứ tư là ta thiếu sự phát nguyện chân thành đối với những ước nguyện cao quý. Như ta đã biết, ước nguyện là Nhân mà hành động là Quả, hành động là Nhân và báo ứng là Quả. 

Muốn có những Báo ứng tốt thì ta phải Hành động tốt; muốn có Hành động tốt thì ta phải biết Ước nguyện. Thế cho nên, Ước nguyện thực sự là khởi đầu của Nghiệp duyên báo ứng. Trong đạo Phật ta có nghi thức Phát nguyện khi lễ Phật bái sám. Mỗi khi biết mình cần phải làm gì, ta đều quỳ trước Phật phát nguyện sẽ làm như thế. Ta sẽ tinh tấn, sẽ từ bi, sẽ nhẫn nhục, sẽ trì giới, sẽ thiền định, sẽ xuất gia, sẽ độ sinh… Khi phát nguyện trước Phật như thế, một nghiệp nhân bắt đầu khởi động từ trong tâm thức sâu kín của ta, lớn dần, lớn dần, và đến ngày nào sẽ trở thành hành động hiện thực.

Nhà giáo dục Phật giáo phải gợi ý cho học trò biết phát những lời nguyện cao thượng để một mai kia họ có thể đứng lên làm những điều tốt đẹp cho cuộc đời và cho chính bản thân của họ.

3. Sự thực hành là nền tảng của sự phát triển trong đạo Phật 

Ta mong cho Phật giáo có được sự kế thừa và phát triển tốt đẹp lâu dài, và cũng như mọi môn khoa học khác cần những thực nghiệm chứng minh, đạo Phật cũng cần những con người chuyên cần thực hành chứng nghiệm. Thiếu thực hành chứng nghiệm, ta chỉ là những kẻ giữ gìn văn bản Phật giáo chứ không phải là kẻ giữ gìn tâm linh mầu nhiệm của Phật giáo.

Ta có thể nói về Vô ngã vanh vách, nhưng thiếu thực hành chứng nghiệm, ta chỉ là kẻ tường thuật report lại những gì ta đã nghe. Nếu có thực hành, có chiêm nghiệm về tính chất Vô ngã, có ngồi thiền lặng yên quán chiếu về tính chất rỗng không, vô thường của thân tứ đại, rồi cảm nhận sự bình an tự tại của tâm hồn, ta sẽ nói về đạo lý Vô ngã hết sức sâu sắc, đầy thuyết phục, khiến cho người nghe cũng muốn thực hành theo và đạt được những bình an nội tâm như thế.

Chỉ có như thế, ta mới mở con đường kế thừa phát triển  Phật giáo đúng hướng nhất.

Ngay như bốn tầng bậc thiền định cũng vậy, nếu thiếu thực hành, ta sẽ không hiểu nổi sự diễn tả của Phật về từng trạng thái của các mức thiền như thế. Ta sẽ do dự không dám thuật lại chính xác những gì Phật đã diễn tả, và chỉ dám nói về những gì ta hiểu, rất khác với Phật, và thế là ta xa Phật dần dần. 

Muốn kế thừa Phật, ta phải thực hành kỹ lưỡng những gì Phật đã dạy để có thể hiểu chính xác lời Phật dạy. Khi đã hiểu rõ rồi, ta mới có thể mạnh dạn diễn tả đạo lý Phật dạy bằng ngôn ngữ của thời đại cho mọi người dễ hiểu. Nếu không hiểu rõ lời Phật dạy, ta đành phải dùng nguyên ngôn ngữ cổ cho chắc ăn không ai bắt bẻ được, nhưng lại làm cho đa số người nghe hôm nay khó lĩnh hội, và cứ thấy giáo lý Phật xa xôi với mình.

Ngoài ra, người có thực hành những đạo lý cao quý của Phật còn toát ra một phong thái khác thường, uy nghi, thanh thoát khiến cho mọi người cảm mến tự nhiên. Chính thân giáo đặc biệt này đã thuyết phục mạnh mẽ nhiều người tin theo Phật, đi theo Phật, rồi cùng nhau giữ gìn kho tàng đạo lý của Phật.

Đạo lý của Phật có một sức sống linh hoạt kỳ lạ. Nếu ta có thực hành chuyên sâu những đạo lý đó, ta sẽ dần dần có trí tuệ vượt lên từng ngày. Chính trí tuệ đó giúp ta có những phương pháp độc đáo trong việc giáo hóa độ sinh mà không bị ràng buộc bởi những phương tiện không còn thích hợp nữa. 

Ta phải xác định một điều là không ai có thể có tuệ giác hơn Phật, thế nên, ta chỉ nói cho chính xác những gì Phật đã nói, nói cho dễ hiểu những gì Phật đã nói, là ta đã rất giỏi rồi. Đừng bao giờ ảo tưởng nói những điều Phật chưa nói để gọi là phát triển Phật giáo. Ý nghĩa phát triển Phật giáo là trên nhiều phương diện về tổ chức, giáo hóa, nghi thức, truyền bá, diễn giải, chứ không bao giờ là sự khác lạ về đạo lý được. Đây là điều ta phải xác định trước khi làm một nhà giáo dục Phật giáo chân chính.

Và trước hết, ta nguyện thực hành chuyên sâu lời Phật dạy để trải nghiệm rõ kết quả tu hành. Đó chính là ta làm đứa con ngoan biết kế thừa và phát triển đạo Phật.

(Bài tóm tắt

1. Khoảng cách từ hiểu biết đến thực hành giáo lý

Sư thông hiểu giáo lý đạo Phật sâu sắc, Tứ Vô Lượng Tâm, hạnh Từ Bi Hỉ Xả, Nhân Quả Nghiệp Báo, lý thuyết về thiền định, hoặc một tuệ giác thông tuệ để có thể xét lỗi, phân tích hành động tha nhân v.v… đều không bảo đảm ta sẽ đạt được một sự thực hành Phật Pháp chuẩn mực và thực tế.  Giáo lý dạy ta những điều tốt đẹp, giáo dục ta điều đúng và sai, phải và trái, thiện và ác. Ta có thể qua hạnh nguyện mà hướng thiện trong hành động.  Nhưng vẫn còn một yếu tố ấn số; ẩn số này vẫn tiềm ẩn trong tâm hồn ngăn trở ta thực hành đạo đức.

2. Những điều ngăn ngại 

Sự yếu kém ý chí, sự rèn luyện ý chí, các phản ứng phụ từ việc rèn luyện ý chí, các yếu tố làm tăng trưởng bản ngả. 

Một điều ngăn ngại nữa cũng phụ thuộc vào hoàn cảnh. Nghiệp báo cũng là một ngăn ngại khác cản trở ta thực hành đạo đức. Cách để hóa giải bớt ảnh hưởng của nghiệp báo. Điều ngăn ngại cuối, sự phát nguyện từ chân tâm dựa vào nhân quả. 

3. Sự thực hành là nền tảng của sự phát triển đạo Phật

Đây chính là cốt lõi của bài tham luận,  sự chứng nghiệm, thực hành như thế nào để đạo Phật phát triển và được kế thừa một cách đúng đắn. Sự thực hành kỹ lưỡng và sâu sắc lời Phật dạy và sự cố gắng truyền đạt chính xác lời Phật mà không thêm thắt những điều Phật chưa dạy để trở thành người đệ tử Phật chân chính.
 

(http://vesakday2008.com/indexnew.html)

Trở Về Mục Lục: Diễn Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.