DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT GIÁO
TRONG THỜI ĐẠI MỚI - HỘI NHẬP THẾ KỶ XXI
Đại
Đức Thích Thiện Hạnh, Trưởng ban Hướng dẫn nam nữ Phật
tử Bắc Ninh.
 |
 |
Hân
hoan cùng niềm vui chung với thế giới và đất nước, đặc
biệt năm nay là năm đầu tiên toàn thể Tăng Ni Phật tử
ba miền Nam – Trung - Bắc cùng đón mừng đại lễ Phật Đản
(Ngày VESAK hay ngày Tam Hợp) đã được Hội đồng Liên Hiệp
Quốc (LHQ) chính thức công nhận là ngày lễ văn hoá của
thế giới. Để chào mừng ngày đại lễ Phật Đản LHQ 2008
- PL. 2552 do Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam đăng cai và do Uỷ ban Tổ chức Quốc tế và Giáo hội
Phật giáo Việt Nam đồng tổ chức đại lễ trọng thể tại
thủ đô Hà Nội -Việt Nam từ ngày13-17/05/2008 đó là ngày
rằm tháng tư cũng là ngày trăng tròn toả sáng hiền hoà trên
quê hương thân yêu của người con Việt, sự kiện thiết
thực này thể hiện tinh thần “Hoà hợp chúng yên vui - Đoàn
kết thống nhất” của Phật giáo Việt Nam.
Trong
ánh hào quang của Đức Từ Phụ Thích Ca Mâu Ni toả sáng đến
người con Phật khắp năm châu cùng chào mừng ngày khánh đản
toàn thể Tăng Ni Phật tử trong và ngoài nước vô cùng hân
hoan tổ chức đại lễ Phật Đản trang nghiêm. Với tinh thần
từ bi và trí tuệ của người con Phật, để thể nghiệm
vào đời sống hàng ngày. Chúng ta có cùng chung tín ngưỡng,
tôn kính chân lý giáo pháp của Đức Phật. Trên bước đường
giáo hoá độ sinh, Đức Phật và thánh chúng đã mang sự an
lạc, giải thoát và hạnh phúc đến mọi nơi, xoá bỏ sự
bóc lột, tà kiến, lập lại sự bình đẳng con người với
nhau trong xã hội.
Ngày
Đản sinh của Đức Từ Phụ chúng ta hãy làm sáng tỏ những
lời giáo huấn và theo dõi những việc làm xả kỷ vị tha
của Ngài, chúng ta lấy đó làm kim chỉ nam trên bước đường
tiến tu giải thoát và phục vụ đạo pháp, phục vụ dân
tộc. Toàn thể Tăng Ni và tín đồ Phật tử trong và ngoài
nước thắp sáng mãi ngọn đèn của Đức Phật thể hiện
sâu sắc tinh thần hoà hợp, đoàn kết, thống nhất trong ngôi
nhà Phật giáo. Được thành tựu như vậy đó chính là hành
động thiết thực, và cũng là đoá hoa tươi thắm dâng lên
cúng dường Đức Từ phụ Thích Ca Mâu Ni trong ngày Phật Đản
PL. 2552.
Đại
lễ Phật Đản (VESAK) Liên Hiệp Quốc (Lễ Tam Hợp Đức Phật)
năm 2008 tại Việt Nam nhằm tôn vinh các giá trị giáo huấn
của Đức Phật như: Từ bi, Trí tuệ; khoan dung và hoà hợp;
tôn trọng bảo vệ con người, sự sống và môi trường sinh
thái; tự chủ không ngừng tiến bộ và giải thoát, thực
hiện dân chủ và công bằng xã hội, chống bá quyền, bạo
lực, tội ác, chiến tranh, khủng bố và các tệ nạn xã hội…xây
dựng con người và cộng đồng xã hội an lạc, phát triển
hài hoà bền vững trong hoà bình hữu nghị và hợp tác thân
thiện.
Trên
bước đường hoằng hóa độ sinh, Đức Phật đã đưa ra
nhiều pháp môn nhằm thích nghi theo hoàn cảnh, theo trình độ
và nghiệp lực của chúng sinh. Chúng ta nhận thấy rõ Đức
Phật xuất hiện trên cõi đời này vào thời văn minh cổ
đại của nhân loại; có thể nói lúc bấy giờ, hiểu biết
của con người về vạn vật, về vũ trụ, về mọi lãnh vực
của cuộc sống chưa được phát triển, cho nên tư tưởng
thần quyền đã thống trị, đè nặng lên tâm lý mọi người
là điều tất yếu dễ hiểu. Trong bối cảnh thần quyền
quyết định tất cả và bao phủ sự sống của con người
như thế, Đức Phật đã triển khai việc hoằng pháp vô cùng
khéo léo. Đức Phật còn triển khai về mặt xã hội, ngài
thương tưởng tất cả mọi người hiện hữu trên cuộc đời
và đưa ra rất nhiều phương cách sống để ai ai cũng có
thể phát huy trí tuệ và khả năng siêu việt của con người.
Phương cách sống an lạc, hiểu biết, thương yêu, hòa hợp,
hòa bình, phát triển mà mọi người hiểu được và ứng
dụng được gọi là phương tiện của Phật. Đối với người
xuất gia bước theo dấu chân Phật, chúng ta cần có một nếp
sống mới, một sự suy nghĩ mới, một tầm nhìn mới để
hội nhập vào đời trong thời hiện đại, đồng thời chúng
ta nên áp dụng tinh thần thể nhập Bồ tát hạnh như trong
Kinh Pháp Hoa phẩm Pháp Sư là “vào nhà Như Lai, mặc y Như
Lai, ngồi tòa Như Lai” và chúng ta cũng cần phải hội đủ
thân giáo, khẩu giáo và ý giáo. Đức Phật triển khai giúp
cho mọi người trên thế gian này có thể tự làm chủ vận
mạng của mình, tự quyết định con đường sống hạnh phúc,
thăng hoa lên những cảnh giới hoàn thiện hay con đường sống
đọa lạc khổ đau ở ngay trong hiện đời và trong tương
lai gần.
Theo
sự tiến hóa của nhân loại trên mọi lãnh vực của cuộc
sống, tất nhiên tầm nhận thức của con người và những
tư tưởng, những phát minh của con người càng ngày càng phát
triển, càng tiến bộ theo thời gian. Đặc biệt chúng ta tiến
sang thế kỷ XXI, tri thức của nhân loại thường được xem
là phát triển ở tột đỉnh, với vô số phát minh mới, nhận
thức mới trong từng ngày ở nhiều lãnh vực khác nhau.
I.
Phật giáo hội nhập thế giới:
Trong
xu thế phát triển của đất nước và thời đại, Phật giáo
đang tiến vào một trang sử mới của thế giới, nhằm phát
triển hòa bình thế giới, kiến tạo một xã hội bình đẳng
cùng phát triển vật chất và tâm linh, nhất là trong lãnh
vực giáo dục gia đình, trong đó con người là thành viên
đóng một phần quan trọng. Tham gia vào những hoạt động
hòa bình thế giới một cách tích cực là một cơ hội phát
triển và trong đó có Phật giáo Việt Nam. Phật Giáo Việt
Nam trong những năm qua cũng đã có những sự thay đổi tích
cực trong công cuộc hoằng dương chánh pháp. Tuy nhiên, Phật
Giáo Việt Nam không thể không quan tâm đến một thực trạng
ngày nay đang là một thách thức lớn trong giai đoạn phát
triển Phật Giáo.
Ngày
nay, đất nước đang chuyển mình trong sự hội nhập chung
của quốc tế, mọi cố gắng để có thể bắt kịp với
xu hướng phát triển trên mọi phương diện và lãnh vực khác
nhau của xã hội. Tất cả đều nhằm tìm ra giải pháp chung
nhất để có thể hướng đến một thế giới hoà bình, thịnh
vượng. Trong đó, Phật Giáo đã góp một vai trò hết sức
quan trọng.
Phật
giáo xây dựng trên căn bản chánh niệm (mindfulness), hòa đồng
(harmony) và khoan dung (tolerance). Phật giáo không có nhu cầu
đối kháng và cưỡng chế. Trái lại Phật giáo có khả năng
dung hòa và kết hợp với các tôn giáo khác cho hòa bình thế
giới. Nhu cầu kết hợp này của thế giới rất khẩn thiết.
Đây là cơ hội lớn cho Phật giáo tham gia vào việc thiết
lập một cơ cấu trật tự tốt hơn cho tương lai thế giới
mặc dù có rất nhiều sự khác biệt về phong tục, tập quán,
tôn giáo và ngay cả chính trị, chấp nhận ngồi chung với
nhau cùng hợp tác trên căn bản chia sẻ và tôn trọng quan
điểm chung tham gia và phát triển trong cộng đồng quốc tế.Và
đang biến thế giới khổng lồ này gần gũi nhau lại như
một ngôi làng. Từ những cộng đồng cô lập, chúng ta đã
gần nhau hơn khi tiếp cận các dòng đa văn hoá.
Phật
giáo Việt Nam trước hết là Phật giáo dân tộc. Hòa hợp
đại chúng trên tinh thần từ bi hỷ xả là bản chất và
truyền thống của Phật giáo, đồng thời cũng là một nhân
tố căn bản, sâu xa, góp phần tạo nên tinh thần đoàn kết
nhân ái và hòa hiếu của dân tộc. Chính nhờ triết lý ấy
mà ngay trong thời điểm cực thịnh của mình, khi có sự trỗi
dậy của những tôn giáo mới, Phật giáo Việt Nam vẫn chủ
trương "tam giáo đồng nguyên". Tư tưởng "đồng nguyên" của
Phật giáo đã góp phần kiến tạo nên một xã hội mà xung
đột đã không trở thành "khổ nạn" của người dân và đất
nước. Chủ trương của Phật giáo là "nhập thế, cứu sinh",
việc hành trì Phật pháp vì thế đã không tách rời với
phụng sự chúng sinh và tổ quốc. Từ ngàn năm nay, triết
lý đó của nhà Phật đã bám rễ vào những nhu cầu thường
xuyên, cấp bách của dân tộc, thúc đẩy sự thăng tiến của
xã hội và con người Việt Nam.
Tính
năng động đầu tiên của Phật giáo thể hiện trong quá trình
hội nhập cần được đề cập đến là Phật giáo của cộng
đồng người Việt kể từ thời du nhập cho đến thời đất
nước độc lập, bao giờ nó cũng đặt sự tồn vong, phát
triển của mình trong sự tồn vong và phát triển chung của
dân tộc. Điều đó có nghĩa đời sống sinh hoạt Phật giáo
luôn song hành với đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa,
giáo dục của đất nước. Trong công cuộc đổi mới xây
dựng đất nước hiện nay, nguyện vọng hòa hợp, chấn hưng
và phát triển Phật giáo ở Việt Nam cũng đã đạt được
những thành tựu đáng khích lệ. Không chỉ nền kinh tế được
giải thoát khỏi cơ chế "tập trung quan liêu, bao cấp", không
gian hoạt động tôn giáo nói chung cũng đã được rộng mở.
Phật giáo trên đà ấy đã mở rộng khắp nơi. Nhà chùa đang
dần trở lại với vai trò như là một thiết chế văn hóa
đóng góp to lớn vào việc củng cố, giữ vững những giá
trị tinh thần cơ bản của người Việt, bảo tồn, sáng tạo
và phát triển bản sắc văn hóa Việt Nam. Phật giáo cũng
như những tôn giáo khác đều chủ yếu hướng con người
tới những điều chân thiện mỹ. Sự cường thịnh của Phật
giáo, từng là nền tảng cho sự thịnh vượng của nhiều
triều đại một thế giới mong muốn toàn cầu hóa chính là
một thế giới mong muốn sự đa dạng. Những giá trị truyền
thống mà Phật giáo giúp thiết lập và củng cố, chính là
"bản sắc", là phần giá trị mà chúng ta có thể tham gia để
góp phần tạo ra các giá trị toàn cầu. Mặt khác, tư tưởng
"đồng nguyên" do Phật giáo chủ xướng, cũng không những
không mâu thuẫn với dân chủ mà còn góp phần tìm kiếm sự
"đồng thuận" của xã hội, trở thành "nội lực" của một
quốc gia trên bước đường hội nhập. Không phải ngẫu nhiên
mà ngày nay, đạo lý và những giá trị Phật giáo đang được
tiếp nhận ngày càng sâu rộng ở nhiều nơi trên thế giới.
Những xung đột tôn giáo và sắc tộc đang khiến thế giới
có nhu cầu xích lại gần hơn với tinh thần từ bi, hỷ xả,
tăng cường "đoàn kết hòa hợp".
Phật
giáo như con đường khai sáng song song với con đường văn
minh kỹ thuật Tây phương. Kinh nghiệm của các nước bạn
Phật giáo Á Châu cho thấy đạo Phật đã phát triển thâm
sâu vào cuộc sống an lạc tỏa hiện ngay trong cung cách của
các vị sư, cư sĩ. So với các nước bạn, Phật giáo Việt
Nam, với trí tuệ sắc sảo của người Việt Nam, đã có một
truyền thống đặc thù, rút tỉa những tinh hoa của đạo
Phật để vun trồng gây dựng một bản lai văn hóa độc lập
và tự chủ. Phật giáo Việt Nam chắc chắn đóng góp một
phần quan trong trong sứ mệnh đem vui cứu khổ trên địa cầu
vẫn còn nung nóng hận thù tham lam và càng ngày càng chật
hẹp tình người này.Vai trò của Phật giáo trong quan hệ hữu
nghị, bảo vệ hòa bình thế giới và môi trường sống; Nhìn
nhận đạo Phật hòa nhập với tín ngưỡng thờ Tổ tiên
là đời sống văn hóa tinh thần và tâm linh cơ bản, truyền
thống của Dân tộc; Đề nghị liên kết Phật giáo với chính
trị, kinh tế và khoa học trong đường lối trị quốc; Xác
định nhiệm vụ cấp thiết và cơ bản trước mắt của Phật
giáo Việt Nam là hòa hợp đoàn kết (giữa nội bộ Phật
giáo trong nước, giữa Phật giáo trong nước và Phật giáo
ở nước ngoài...) và tinh tấn phát triển (khế cơ khế lý
với Đất nước và thời đại); coi trọng đào tạo nhân
lực (trang nghiêm Tăng già, tinh cần Tứ chúng) là yêu cầu
hàng đầu hiện nay. Phật giáo đang phải đối diện những
thách thức về nền tảng lý luận cũng như áp dụng thực
tiễn. Những thách thức này có thể được biến thành cơ
hội tốt nâng cấp Phật giáo về mặt tư duy cũng như hoạt
động một cách hiệu quả hơn.
Trong
sự quan hệ trao đổi hiểu biết với nhau, mọi người có
tri kiến như thật, thì việc tiếp thu hay phát biểu ý kiến
mới phù hợp với chân lý của cuộc sống. Cũng trên tinh
thần kiến hoà đồng giải, ngày nay Giáo hội Phật giáo Việt
Nam đã thật sự hoà hợp mọi quyết định, làm như vậy
chúng ta sẽ tạo được sức mạnh đoàn kết toàn dân, xây
dựng ý thức hoà hợp dân tộc và kiến tạo thế giới an
lành. Đức Phật dạy: “Hãy thừa tự chánh pháp hơn là thừa
từ tài vật”. Vì thế đối với người con Phật, nên xem
quyền lợi tài vật như là phương tiện cho cuộc sống. Nếu
chúng ta không ý thức, cảnh giác thì phương tiện này thường
đưa đến sự tranh chấp làm mất an vui. Vì vậy mọi Phật
sự đều thực hiện với tâm niệm lợi tha, để phục vụ
con người, xây dựng xã hội thuần thiện, an vui.
Phật
giáo trên con đường phát triển; truyền sang Trung Quốc, Nhật
Bản, Hàn Quốc, Việt Nam, Thái Lan,…đến nơi nào Đạo Phật
luôn luôn đều thích hợp với văn hoá dân tộc bản địa
và trở thành lẽ sống cho người thăng hoa, tạo thành thế
Phật giáo tồn tại vững chắc, lâu dài, hiền hoà. Trong lịch
sử cũng thể hiện rõ nét tinh thần ấy. Đức Phật dạy
rằng; với sự rọi sáng của trí tuệ, chúng ta nhận thức
được không có gì khác biệt giữa con người với con người
và với vạn vật; huống chi là có giai cấp, có mầu sắc
địa phương. Vì muôn pháp trong vũ trụ cùng một thể tánh
như nhau. Sự đồng nhất này là nguyên lý tất yếu đưa đến
sự hoà hợp an lạc và đoàn kết của mọi người trong xã
hội, với hiệu năng của trí tuệ, chúng ta sẽ phá tan được
thành trì tà kiến cực đoan, có được cái nhìn bao dung phổ
cập, nhờ vậy mà không cục bộ, không bè phái và gạt bỏ
những vướng mắc còn sót lại; để hoà hợp và đoàn kết,
cùng phục vụ toàn thể, xã hội, cộng đồng nhân loại:
“Không có giai cấp trong dòng máu cùng đỏ, nước mắt cùng
mặn”. Lời dạy của Đức Phật khẳng định nguyên tắc
bình đẳng tuyệt đối làm nền tảng cho sự nỗ lực vươn
lên của con người, mà còn mang tính chất nhân bản cao thượng.
Theo
dòng thời gian, Phật giáo nhẹ nhàng lặng lẽ đi vào lòng
người ở khắp mọi nơi trên thế giới. Không nơi nào không
có hình bóng những người nối chí Phật. Trên tinh thần ý
thức sâu sắc, hài hoà để sinh tồn và phát triển, Phật
giáo đại thừa không đặt nặng vấn đề hình thức. Tuỳ
theo văn hoá, phong tục của mỗi quốc gia mà mầu áo đạo
cũng như sinh hoạt lễ nghi tu tập có sự thay đổi cho thích
nghi, hoà nhập vào nếp sống cộng đồng của dân tộc bản
địa. Mỗi nơi sinh hoạt Phật giáo đều toát lên nét đẹp
đặc thù, tiêu biểu cho dân tộc tính và hoàn cảnh sống
qua từng thời đại khác nhau, của từng nước khác nhau. Tuy
nhiên, trong sự sinh hoạt đa dạng của Phật giáo ở khắp
năm châu, chúng ta vẫn thấy được sự chung nhất về nội
dung, và người tu ở thời Phật còn tại thế và ở thời
đại chúng ta nhất định không khác nhau. Đó là sự thanh
tịnh, giải thoát trong đời sống tâm linh, sự thăng hoa trí
tuệ và phẩm hạnh cao thượng, từ bi, vô ngã, vị tha của
hàng đệ tử Phật, dù ở đâu hay ở bất cứ nơi nào đều
có khẩu hiệu ở trong đạo Phật là: “Duy tuệ thị nghiệp”.
Nếp sống của tăng đoàn từ thời Đức Phật con tại thế
đã hình thành rõ nét tinh thần hài hoà với người với xã
hội, với thiên nhiên, và trải qua hàng ngàn năm tinh thần
ấy vẫ được phát huy, mang lại những kết quả thật tốt
đẹp.
Trong
quá trình hội nhập rộng lớn trước ngưỡng cửa của thế
kỷ XXI phải tự khẳng định giá trị cao cả của bản
sắc Phật giáo dân tộc mình, phát huy những ưu thế quan trọng
sẵn có đồng thời kết hợp thế mạnh của Phật giáo văn
minh thời đại. Từ đó hướng dẫn Phật tử vừa có đời
sống vật chất cao, vừa có nếp sống đạo đức theo lời
Phật dạy. Tinh thần hài hoà của Đức Phật là chất liệu
quý báu đưa Phật giáo Phát triển khắp năm châu, tồn tại
hơn 25 thế kỷ. Đặc biệt ngày nay, Phật giáo đang lần bước
mở rộng ở các nước phương tây, và những vị thiền sư
cũng theo tinh thần phục vụ vô ngã, đã nhẹ nhàng ảnh hưởng
cho người phát triển tâm linh, khai thông được những bức
bách của xã hội văn minh.
II.
Vài trò Phật giáo trong xu thế hội nhập:
Trong
tinh thần hân hoan cởi mở một chính sách thoáng cùng với
thực lực đang trên đà phát triển của giới Phật giáo chúng
ta, thiết nghĩ đó là những yếu tố tốt đẹp, thuận lợi
cho việc thực hiện một tương lai Phật giáo sáng lạn. Với
xu thế phát triển của Phật giáo trên thế giới và phật
giáo các nước trong khu vực Đông Nam Á, trong đó có Phật
giáo Việt Nam cùng đồng hành theo tinh thần phối hợp có
tổ chức, khai thác hữu hiệu ổn định đưa các nước trong
vùng Đông Nam Á ngang tầm với các nước đang phát triển.
Trong những thập kỷ kế tiếp có một sức mạnh, cùng nhau
trở thành những con rồng Đông Nam Á góp phần xây dựng cõi
tịnh lạc. Vì vậy Tăng Ni Phật tử Việt Nam trong và ngoài
nước cần hiểu biết tường tận quá trình Phật giáo Việt
Nam phát triển về mặt tổ chức như thế nàơ từ thời du
nhập cho đến ngày nay. Nhận thức được như vậy để thấy
được vị trí hợp pháp của mình trong cộng đồng dân tộc
và sẽ thực hiện những việc làm có lợi ích cho bản thân,
cho Đạo pháp và cho Dân tộc.
Trong
quá trình thực hiện công cuộc thống nhất Phật giáo cả
nước không phải diễn ra một cách đơn giản. Tổ chức Phật
giáo Việt Nam đã trải qua biết bao cuộc thăng trầm mới
tồn tại cho đến ngày nay, từ Trung ương cho đến địa phương
và hoạt động đã đi dần vào nề nếp thuận lợi. Đó chính
là sự nỗ lực phát huy trí tuệ, phát triển đời sống giới
đức, phẩm hạnh duy chỉ có đức hạnh và trí tuệ tạo
cho hành giả có năng lực siêu nhiên vượt mọi nhận thức
thông thường của thế gian. Do các vị Hoà thượng, thượng
toạ, đại đức, tăng, ni, chân tu đã góp phần giải quyết
những tâm tư, thắc mắc và khó khăn trong đời sống cho mọi
người. Từ đó được dân chúng thương mến, kính trọng,
gần gũi, tiếp xúc, Phật giáo Việt Nam kết hợp với dân
tộc để sản sinh ra một nền Phật giáo đầy sức sống
mãnh liệt. Chúng ta đã thấy rõ ngay từ giai đoạn đầu,
Phật giáo không phải chỉ hạn hẹp trong việc phục vụ tín
ngưỡng mà còn đóng góp thiết thực cho dân tộc trong công
cuộc dựng nước và giữ nước.
Ngày
nay, đất nước đang trên đà phát triển và hội nhập vào
nền kinh tế thị trường. Đời sống sinh hoạt của Phật
giáo cũng theo xu hướng toàn cầu hóa mà vận hành. Vấn đề
là trong quá trình hội nhập, Phật giáo vẫn giữ sắc thái
riêng của Phật giáo, nhưng đồng thời cũng mang những tính
chung của cộng đồng quốc tế, nhân loại. Bản chất của
nền kinh tế thị trường đòi hỏi sự tư duy sáng tạo, cạnh
tranh công bằng, lợi nhuận. Ưu việt của nền kinh tế thị
trường sẽ tạo ra động lực sáng tạo của mỗi cá nhân,
làm đòn bẩy cho xã hội phát triển. Do đó, khi kinh tế đất
nước hưng thịnh thì Phật giáo ắt hẳn phát triển. Bởi
tiềm lực của Phật giáo không chỉ nằm trong giới xuất
gia mà còn ở khối quần chúng Phật tử. Giáo lý Phật giáo
là giáo lý thể hiện tính năng động trên tinh thần duyên
khởi. Trách nhiệm người Phật tử là tích cực học đạo,
hành đạo tùy theo từng thời đại, hoàn cảnh với tính đa
dạng của nền kinh tế thị trường mà tham gia tích cực đóng
góp cho tự thân, gia đình và xã hội. Tính đa dạng của nền
kinh tế thị trường vốn chẳng xa lạ gì giáo lý Phật giáo.
Người Phật tử đã nắm rõ nguyên lý duyên khởi, vô thường,
thì họ sẽ dễ dàng thích nghi và tiếp cận chuyển hóa.
Phật
giáo nói chung và Phật giáo Việt Nam nói riêng đã có bề
dày lịch sử hơn 2000 năm rất đáng tự hào bởi những cống
hiến vô cùng lớn lao cho hạnh phúc của con người và hòa
bình thế giới. Lịch sử ấy mãi mãi là bài học lớn để
mọi người con Phật chúng ta ở khắp mọi nơi tìm thấy chính
mình và tìm thấy nguồn cổ vũ động viên lớn trong mọi
hoạt động phụng Đạo giúp đời.
Trong
quá trình hội nhập mà Phật giáo thể hiện là đã góp phần
tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Tại đây, nó không chỉ
cho ta cái nhìn về văn hóa Đại Việt từ trong quá khứ mà
còn từ nền văn hóa quá khứ ấy để xây một nền văn hóa
mới đậm đà bản sắc dân tộc, thích ứng với xu hướng
hội nhập toàn cầu. Cụ thể, một nền văn học dân tộc
tiếp tục vận hành theo sự biến chuyển dòng mạch lịch
sử dân tộc qua những áng văn chương mà chủ yếu của các
thiền sư Phật tử sáng tác. Và nếu yêu nước và nhân đạo
là hai nội dung lớn, hai tư tưởng lớn, hai chủ đề xuyên
suốt của văn học Việt Nam từ xưa đến nay thì văn học
Phật giáo Lý Trần được vinh dự là một bộ phận văn học
góp phần đặt nền móng vững chắc cho hai nội dung, tư tưởng,
chủ đề nói trên.
Phật
giáo hiển nhiên khẳng định được thực chất tồn tại
của chính mình và thể hiện đầy đủ tính hợp pháp của
một tôn giáo trên mảnh đất Việt Nam thân yêu, đĩnh đạt
bước vào thiên niên kỷ mới, từng bước đi vào tiến trình
hội nhập, theo trào lưu toàn cầu hoá để thực hiện sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc tiến hành công cuộc
đổi mới đất nước, đòi hỏi phải có sự đoàn kết thống
nhất Tăng Ni Phật tử trong và ngoài nước đang mong mỏi với
sự tiếp nối truyền thống hơn 2000 năm gắn bó cùng dân
tộc. Đó là sự khẳng định vị thế xứng đáng của mình
trong lòng dân tộc và giữa bạn bè quốc tế, trong thành tựu
chung của dân tộc có phần đóng góp xứng đáng của tăng
Ni Phật tử nước nhà, những người đang tích cực tham gia
xây dựng một xã hội tốt đẹp theo con đường phát huy truyền
thống hộ quốc an dân và thực hiện tinh thần nhập thế
của Phật giáo Việt Nam là “Phụng sự chúng sinh là cúng
dường chư Phật” làm cho tổ chức Giáo hội Phật giáo Việt
Nam mỗi ngày một trưởng thành, trở nên một thành viên đáng
tin cậy đối với Phật giáo trong và ngoài nước. Uy tín của
Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày một thăng tiến ở trong
nước- khu vực và thế giới.
Sự
phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin giúp cho sự
truyền bá Phật giáo và hoàn thiện cuộc sống con người
nhanh chóng hiệu quả và toàn cầu. Giáo lý và phương thức
tu tập có thể được truyền bá nhanh chóng, rộng rãi, hiệu
quả qua mọi băng tần truyền thanh, truyền hình, internet, nhanh
chóng đến đại chúng trên khắp thế giới. Sự sử dụng
internet để truyền bá Phật giáo cần có chương trình, chiến
lược và kiến thức chuyên môn về công nghệ và truyền thông,
thông tin giúp cho Phật giáo thực hành sự phát triển của
công nghệ cao như sau:
1.Thư
viện điện tử;
Thư
viện điện tử có thể chuyển ngữ sang nhiều ngôn ngữ khác
nhau cho toàn thế giới bất cứ nơi nào. Nhiều người cùng
một lúc có thể vào trong mạng để tham cứu học hỏi một
bài kinh mà không bị gián đoạn. Thư viện điện tử này
sẽ đóng góp một phần rất lớn trong việc phát huy đạo
Phật. Chính thư viện này là bộ máy giảng dạy nòng cốt
liên tục 24 giờ mỗi ngày, trong việc thiết kế các trường
đại học Phật giáo trên thế giới nói chung và trường đại
học Phật giáo Việt Nam nói riêng. Sự hoạt động của Phật
giáo không còn mang tính cách cục bộ địa phương mà sẽ
được thông báo cho toàn thế giới. Sự hỗ trợ của cộng
đồng Phật giáo do đó cũng được phối hợp nhanh chóng và
hiệu quả hơn.
Nguồn
sinh lực của chính pháp không chỉ tìm thấy trong Tam Tạng
kinh điển mà chính là sự tìm thấy trong cuộc sống hàng
ngày trên những trang thư viện điện tử hoặc những thông
tin nhanh chóng để cho mọi người được thể nghiệm chân
lý qua đời sống thực tiễn của Đức Phật. Đức Phật
quả là một nguồn sống đạo đức vô tận.
Nhìn
chung, có nhiều cơ hội tốt đang mở ra trong tầm vóc quốc
tế cho sự phát triển của Phật giáo. Những cơ hội này
phát sinh một phần lớn do sự khủng hoảng chính trị, kinh
tế của thế giới thiếu một mô hình tâm linh bền vững.
Sự phát triển Phật giáo lại gặp nhiều cơ duyên tốt hơn
nữa vì sự phát triển nhanh chóng của hai công nghệ cao trên
thế giới. Đó là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học.
Riêng công nghệ thông tin có thể truyền tải giáo lý nhanh
chóng, ít tốn kém đến một số đông người trên thế giới.
2.
Hoằng pháp trong thời kỳ hội nhập;
Con
đường Hoằng Pháp vừa lợi ích vừa thành công của Đức
Phật kéo dài bốn mươi lăm năm. Từ lúc Thành Đạo cho đến
khi nhập Niết Bàn, Đức Phật không ngừng phục vụ nhân
loại bằng cả hai lối - gương sáng và lời dạy. Suốt cả
năm trường, đôi khi một mình, lắm lúc cùng với môn đệ,
Ngài đi từ nơi này đến nơi khác để truyền bá Giáo Pháp
trong dân gian và dẫn dắt nhiều người ra khỏi vòng cương
tỏa của luân hồi.
Mạch
sống của Phật giáo là suối nguồn tuôn chảy bất tận.
Do đó, giáo pháp của đức Phật là phương pháp sống thực
tiễn, không thể tách rời con người; nếu không đem chánh
pháp hoằng truyền cho chúng sanh thừa hưởng, thì Phật giáo
chỉ là món đồ cổ trưng bày xem chơi chớ chẳng có ích
lợi gì. Mà chánh pháp muốn được lan rộng cho chúng sanh
thừa hưởng thì phải nhờ những sứ giả của Như lai hoằng
truyền. Hơn 25 thế kỷ qua các nhà truyền giáo Phật giáo
đã thực hiện hoài vọng của Phật, làm cho mạng mạch Phật
Pháp được sống mãi ở thế gian. Phật pháp là dòng chảy
linh động nên không bị bế tắc và hạn cuộc trong bất cứ
khuôn khổ nào. Vì vậy, cũng là giáo pháp Phật, nhưng giáo
pháp của 2500 năm trước và ngày hôm nay nó đã được thay
đổi rất nhiều, cho dù là giáo lý nguyên thuỷ cũng không
còn là Nguyên thuỷ, tất cả chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu
của từng thời đại. Đó chính là tinh thần tuỳ duyên trong
đạo Phật.
Muốn
cứu chúng sanh trong thời mạt pháp này được nhanh chóng thì
chúng ta phải cần đến truyền thông báo chí, truyền hình,
Radio, mạng lưới vi tính để hoằng pháp. "Hướng đến một
kỷ nguyên mới về việc truyền bá lời Phật dạy qua phương
tiện truyền thông điện tử". Chúng ta biết rằng Chánh Pháp
đã tồn tại đến nay đã hơn 2500 năm, tại sao lời Phật
dạy lại có thể được truyền bá qua nhiều thời đại khác
nhau và nhiều quốc gia khác nhau như vậy? “Vì chúng ta có
nhiều phương tiện khác nhau để truyền bá, tùy theo nhu cầu,
căn cơ của từng thời đại và của từng địa phương mà
Phật giáo có thể thích ứng. Một kỷ nguyên mới đã đến,
nền khoa học kỹ thuật phát triển rất nhanh. Trong một thời
đại bùng nổ về kiến thức như vậy, mạng lưới điện
toán toàn cầu (internet) đã trở thành một nhu cầu thiết
thực cho mỗi cá nhân trong đời sống hằng ngày. Chính vì
thế, từ hôm nay, tổ chức Tăng Già chúng ta phải có đầy
đủ những kỹ năng về loại kiến thức và kỹ thuật mới
này, chúng ta mới mong hoàn thành được sứ mạng hoằng pháp
trong thế giới hiện đại “.[1] " Ngày nay mạng lưới internet
đã trở thành một nguồn thuận lợi nhất để tìm kiếm
thông tin và cũng là một phương tiện nhanh nhất để truyền
bá Phật pháp. Do đó, việc sử dụng hệ thống Internet để
phổ biến giáo lý là một sức mạnh to lớn đối với sự
phát triển của Phật giáo. Những vị tu sĩ nên biết sử
dụng email trong việc liên lạc thông tin. Bên cạnh đó, nếu
có thể, vị ấy có thể chuyển tải những tài liệu giảng
dạy của họ vào mạng Internet. Điều này cho phép việc truyền
dạy Phật pháp nhanh hơn và thuận lợi hơn. Vì vậy, những
hiểu biết và cách sử dụng Internet đã trở thành một đòi
hỏi cần thiết ở những người có trách nhiệm truyền bá
giáo lý Phật Đà.
Việc
sử dụng hệ thống Internet để truyền bá Phật pháp có thể
đạt đến tốc độ và hiệu quả ở phạm vi toàn cầu. Tuy
nhiên, qua hệ thống thư điện tử (e-mail) cũng có thể đạt
được một cách dễ dàng để chuyển tải giáo lý mà học
trò không cần phải ở gần gũi vị thầy và lãng phí thời
gian để đi tới một địa điểm xa xôi để nghe giảng. Tuy
rằng Internet và email có thể giúp truyền bá giáo lý, nhưng
lại không thể nuôi dưỡng lòng tôn kính của tín đồ đối
với vị thầy và hết lòng hộ trì Phật pháp. Đó là vấn
đề quan trọng cho chúng ta quan tâm, hoặc thế hệ dùng email
sẽ lại xa lánh chùa chiền và vì thế loại truyền thông
này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển của Phật giáo.[2]
Nói
đến người hoằng pháp trong thời đại mới nếu không đủ
điều kiện về vật chất, thì không có thể hoàn thành tốt
công việc truyền bá Phật giáo. Vậy trong Thế kỷ 21 đang
chứng kiến nhiều đổi thay lớn lao trong những phát kiến
khoa học. Xã hội phương tây ngày càng hướng về đời sống
vật chất, hưởng thụ nhiều hơn. Đời sống tâm linh, đời
sống Tôn giáo ngày càng như xa lạ đối với giới trẻ, thành
tố cho một phạm trù cộng đồng nhân loại mới. Khi một
xã hội, mà con người chỉ lo tìm cách giành dựt lợi nhuận,
dối trá trong cư xử và tàn bạo trong cuộc cờ “mạnh được
yếu thua ”. Sự phát huy ảnh hưởng Tôn giáo nói chung và
của Phật giáo nói riêng, là việc làm vô cùng cần thiết
vào lúc nầy, để cứu vãn nguy cơ tha hóa con người, nguy
cơ biến dạng của các định chuẩn luân lý đạo đức cao
đẹp trong thời đại chúng ta.
Hoằng
Pháp cũng là cơ hội tạo mối tương quan, tương ngộ trong
ánh sáng hào quang của Đức Phật để mỗi người trong chúng
ta hãy tự thắp lên ngọn đuốc thiêng, xua đi bóng tối mê
lầm, giải thoát cho chính mình và giải thoát cho tha nhân.
Trong sứ mệnh Hoằng Pháp của Phật giáo Việt nam chúng ta
phải thật sự cập nhật, phù hợp với thời đại mới,
hoằng truyền Phật Pháp trên mọi phương diện, hầu đáp
ứng nhu cầu thực tiễn trong thời đại mới, Hoằng pháp
cần ghi nhớ và noi theo khẩu hiệu của ngành Hoằng pháp là:
"Nơi nào chúng sanh cần ta đến. Nơi nào Đạo pháp cần ta
đi. Chẳng kể gian lao, không từ khó nhọc” theo phương châm
‘xiển dương Chánh pháp, lợi lạc quần sanh’ trên tinh thần
‘tuỳ duyên bất biến.’ hoằng pháp mang lại niềm an lạc
hạnh phúc cho con người.
Nói
đến Hoằng Pháp, thường nghĩ đến người giảng pháp và
đối tượng thính pháp, nói pháp trong một khung cảnh trang
nghiêm là việc đúng, nhưng không thể bảo hoằng pháp bằng
những tốp nhỏ hòa nhập vào mọi sinh hoạt nông thôn theo
Tứ Nhiếp Pháp là sai, công tác nầy không đòi hỏi hình thức
một tu sĩ đạo mạo, một cư sĩ có thể hòa nhập vào mọi
tầng lớp, trong mọi ngành nghề, rất có tác dụng; Ban Hoằng
pháp nên vạch kế hoạch thực hiện xu hướng nầy song song
với các giảng sư hoằng pháp. Đào tạo giảng sư làm công
tác truyền bá là lực lượng chính quy đầy tốn kém, thực
hiện lối hội nhập như vậy ít chi phí và có hiệu quả
nhất định, đây là lực lượng Hoằng Pháp du kích! Hoằng
Pháp là công tác mũi nhọn để phát triển Phật giáo, từ
thời Đức Phật còn tại thế đã coi trọng vấn đề nầy.
Hoằng pháp không chỉ là nhiệm vụ của Tăng Ni giảng sư,
mà cũng chính là nhiệm vụ của vị trụ trì các tự viện.
Hay nói một cách khác hơn, hoằng pháp là một nhiệm vụ chung
của hàng xuất gia. “Hoằng pháp vi gia vụ, lợi sanh vi sự
nghiệp” là hoài bão của chư Phật, là phương châm hoạt
động của ngành hoằng pháp nói riêng, là nhiệm vụ chung
của hàng xuất gia. Mỗi vị Giảng Sư phải luôn tâm niệm:
Quyết tâm làm Phật pháp xương minh, giúp mọi người thâm
hiểu giáo lý của Đức Phật để đạt được sự an lạc,
giải thoát và hoàn thiện đạo đức cá nhân nhằm xây dựng
một Tịnh độ nhân gian, khẳng định giá trị Chân – Thiện
- Mỹ của người đệ tử Phật trong việc đem Đạo vào đời,
xây dựng con người có tình thương, có ý thức, có trách
nhiệm với cộng đồng, đúng với phương châm: Đạo Pháp
gắn liền với Dân Tộc.
Trong
công cuộc thành công đổi mới, Phật giáo Việt Nam tiếp
tục phát triển trong thời kỳ đổi mới, vừa hoằng dương
chính pháp vừa khế hợp Phật giáo với thời đại để “Hộ
quốc an dân”. Bên cạnh đó Giáo hội Phật giáo Việt Nam
cần gấp rút có kế hoạch đào tạo năng lực, bồi dưỡng
tăng tài nhằm nâng cao nhận thức, tầm nhìn cho các thế hệ
Tăng Ni trẻ đủ sức gánh vác nhiệm vụ của thời đại
nhằm làm cho Phật pháp không bị lu mờ trong đời sống con
người. Chúng ta có thể nói đến ý tưởng hiện đại hoá
Phật giáo cũng được, bởi vì thời đại mới, nhận thức
mới, thì cũng cần có sự canh tân trong vấn đề trình bày
giáo lý, không có gì sai, cốt yếu là không mất đi cái tinh
ba của Phật học.
3.
Con người là yếu tố quyết định:
Phật
Giáo không thể đứng ngoài dân tộc, do đó, ngoài trách nhiệm
tinh thần đối với Phật Giáo, người tu sĩ, cư sĩ Phật
Giáo còn phải có bổn phận đối với quốc gia dân tộc,
một bổn phận nặng nề hơn, vì sự tồn vinh của dân tộc
cũng là sự tồn vinh của Phật Giáo. Nếu chúng ta không hiểu
được điều này thì không bao giờ có thể hiểu được cái
sinh lực Phật Giáo trong lòng dân tộc. Điều này chứng tỏ
Phật Giáo đương nhiên là một thực thể trong mọi hoạt
động xã hội của dân tộc. Muốn duy trì cái sinh lực Phật
Giáo này trong lòng dân tộc, người cư sĩ Phật Giáo phải
tích cực trong nhiệm vụ chung là xây dựng đất nước. Đạo
Phật là đạo cứu khổ. Khổ có mặt khắp mọi nơi trên
đất nước. Cho nên, Phật Giáo Việt Nam cần phải đi vào
xã hội nhiều hơn nữa để thể hiện tinh thần Đại Thừa.
Phật Giáo Việt Nam cần phát triển mạnh những hoạt động
từ thiện trong xã hội như mở các lớp học tình thương
Phật Giáo, cô nhi viện Phật Giáo, viện dưỡng lão Phật
Giáo, trạm y tế nếu có khả năng, nhà thương Phật Giáo
v...v…ngoài những việc cứu trợ thiên tai có tính cách ngắn
hạn. Chúng ta phải quan niệm những hoạt động từ thiện
nói trên như là một con đường tu tập, thể hiện giáo lý
từ bi của đạo Phật.
Vì
lợi ích của tập thể, của cộng đồng xã hội, vì lợi
ích nhân sinh mà làm việc tham gia các Phật sự của Giáo hội
Phật giáo trên thế giới nói chung và Phật giáo Việt Nam
nói riêng. Phát huy tinh thần đoàn kết của Phật giáo Việt
Nam đối với Phật giáo các nước trên thế giới, góp phần
xây dựng hoà bình, ổn định nếp sống hiền thiện ở mọi
nơi. Đặc biệt là chú trọng mối quan hệ của Giáo hội
đối với tăng Ni Phật tử người Việt ở hải ngoại. Tăng
Ni Phật tử dù ở trong hay ở ngoài nước, luôn nghĩ đến
quê hương, đến đạo pháp thể hiện lòng yêu nước, yêu
đạo mà phát huy tình đoàn kết, nỗ lực xây dựng và phát
triển Giáo hội Phật giáo Việt Nam ngày càng trang nghiêm vững
mạnh, góp phần xây dựng xã hội an vui, hạnh phúc, phù hợp
với đạo đức văn hoá truyền thống dân tộc. Tăng Ni trẻ
có đạo hạnh, năng lực, trình độ, vững vàng trong quan điểm,
thâm hiểu giáo pháp, có kiến thức chuyên sâu về chuyên môn,
đáp ứng sự phát triển của Giáo hội trong thời đại mới.Vậy
mối quan tâm cuối cùng của nhân loại, Phật giáo là một
hệ thống tín ngưỡng, triết học khổng lồ và phức tạp,
cũng là hệ thống giá trị, trở thành tín ngưỡng tinh thần
của hàng trăm triệu dân suốt 2500 năm nay, điều đó chứng
tỏ sức sống và giá trị vĩnh hằng của Phật giáo.
Ngày
nay ở thời đại chúng ta càng thấy rõ được sự quan trọng
và việc cần thiết của việc thực hiện tinh thần hoà hợp
theo lời Phật dạy để gìn giữ trái đất này còn trong lành,
mọi người trên thế giới được sống trong hoà bình an lạc.
Đặc biệt là Phật giáo Việt Nam ngày nay lại mang một sắc
thái đặc thù, theo đó mọi sắc thái đặc thù, mọi sinh
hoạt Phật giáo, không phận biệt hệ phái, đều được thống
nhất trong một giáo hội, yếu tố thuận lợi này tạo thành
sức mạnh cho Phật giáo Việt Nam trong việc xây dựng đất
nước và phát triển đạo pháp. Chúng ta luôn luôn nhớ lời
Phật dạy:“Thế gian này là vô thường, kiếp sống con người
mong manh như sương khói”, trước khi Đức Phật nhập niết
bàn, Ngài đã khẳng định rằng: “Này các tỳ kheo, ngày
nào chư đệ tử còn hoà hợp, chung sống trong tinh thần đoàn
kết, làm Phật sự trong tinh thần đoàn kết, và giải tán
trong tinh thần đoàn kết, thì nhất định giáo pháp không
thể suy đồi, trái lại còn phồn thịnh hơn trước”. Phương
pháp này cũng được gọi là con đường Trung-Ðạo, con đường
chính đáng của đời sống, một hệ thống triết lý-đạo
đức, một phương pháp tự mình thực hành lấy và cũng được
nhận thức là một con đường giải thoát.
THAM
KHẢO TÀI LIỆU
-
Thích Minh Châu, Trung Bộ Kinh, Vol. I & II, TP.HCM: Viện
Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1992.
-
Phương Lan (dịch), Đức Phật Lịch Sử, TP.HCM: Viện Nghiên
Cứu Phật Học Việt Nam, 1997.
-
HT.Narada, Phạm Kim Khánh dịch Việt, Đức Phật và Phật Pháp.
-
Nguyễn Văn Hiểu, Trên Đường Hoằng Pháp của Phật Tổ Gotama.
-
Ernest K. S. Hunt, (Tịnh Minh dịch), Đức Phật và Giáo Pháp
của Ngài.
-
GS. Lokanatha. TT. Thích Giải Thông dịch, Đức Phật và Hào
Quang Chân Lý.
-
Ernest K. S. Hunt, Tịnh Minh dịch, Đức Phật và Giáo Pháp của
Ngài.
-
Ðại sư Ấn Thuận, Thích Quảng Mẫn dịch, Đức Phật và
Chân Lý Cuộc Sống.
-
HT. Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch, Mục đích cuộc đời và
đường lối sống.
-
HT.Dhammananda, Thích Tâm Quang dịch, Làm sao thực hành giáo lý
của Đức Phật.
-
GSTS. Đỗ Quang Hưng, Việt Nam Trong Thời Đại Toàn Cầu Hóa,
Hà Nội Phật giáo.
-
GSTS. Trần Ngọc Ninh, Phật giáo Việt Nam và những thách thức
của thời đại mới.
-
http://www.thuvienhoasen.org/hoithaophatgiao-tintuc.htm
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.