DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT GIÁO
NAM TÔNG KHMER TRONG BỐI CẢNH THỐNG NHẤT
VÀ
HỘI NHẬP CỦA PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Hoà
thượng Dương Nhơn Phó Chủ tịch Hội đồng Trị sự
Trung
ương Giáo hội Phật giáo Việt Nam
 |
 |
Việt
Nam là một quốc gia thống nhất, đa dân tộc. Đồng bào dân
tộc Khmer Nam Bộ với dân số hiện nay khoảng 1,3 triệu người
là một trong số 54 dân tộc, là cư dân có mặt lâu đời
trên vùng đất Nam Bộ. Đồng bào dân tộc Khmer sống tập
trung nhất ở các tỉnh, thành phố khu vực miền Tây Nam Bộ,
một bộ phận sống ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh
miền Đông Nam Bộ. Người Khmer có tiếng nói và chữ viết
khá hoàn chỉnh, có nền văn hoá phong phú và đa dạng.
Phật
giáo Nam Tông là tôn giáo chính thống của dân tộc Khmer. Văn
hoá của Phật giáo ảnh hưởng nhiều đến đời sống tinh
thần và trở thành yếu tố chi phối tư tưởng, tình cảm
của cộng đồng dân cư. Ngôi chùa là nơi sinh hoạt tín ngưỡng,
nơi dạy chữ dân tộc, dạy văn hoá và cũng là trung tâm sinh
hoạt cộng đồng của đồng bào Khmer. Theo số liệu thống
kê gần đây, toàn vùng có 453 chùa với khoảng 10.000 sư sãi,
trong đó có 53 Hoà thượng, 60 Thượng toạ và 596 Đại đức.
Quản lý, điều hành các hoạt động Phật sự, của chư Tăng
và Phật tử có hội Mêkon, các Ban Trị sự và Hội Đoàn
kết Sư sãi Yêu nước các tỉnh, thành. Hiện nay, tỉnh Trà
Vinh có Hội Mêkon. Trong Ban Trị sự các tỉnh, thành đều
có các vị chức sắc của Phật giáo Nam Tông là thành viên.
7/9 tỉnh, thành trong khu vực Đồng bằng sông Cửu Long có
Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước.
Sư
sãi và đồng bào Phật tử Khmer Nam Bộ có truyền thống yêu
nước, cần cù, sáng tạo trong lao động, có ý thức nâng
cao dân trí, xây dựng khối đoàn kết, dũng cảm trong đấu
tranh và mơ ước một xã hội bình đẳng, tự do, công bằng,
bác ái. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam
do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, truyền thống
đó ngày càng phát huy mạnh mẽ, trở thành sức mạnh to lớn
trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc cũng như
trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã
Hội Chủ Nghĩa.
Thực
hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tương trợ giúp nhau
cùng phát triển, với tư tưởng chiến lược đại đoàn kết
dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Sư sãi và đồng bào
Phật tử Khmer đã có nhiều cống hiến xuất sắc trong sự
nghiệp dựng nước và giữ nước. Theo lời kêu gọi của
Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong cuộc kháng chiến chống ngoại
xâm, thông qua các cuộc vận động của cách mạng, đồng
bào Khmer Nam Bộ đã xuất hiện nhiều phong trào đấu tranh
chống xâm lược. Nòng cốt trong các phong trào đó là những
chức sắc tiêu biểu, trí thức tôn giáo là người dân tộc
Khmer.
Sau
ngày 30/4/1975, ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, thống nhất
đất nước, các tổ chức Phật giáo hai miền thống nhất
mở đại hội và tổ chức thành Giáo hội Phật giáo Việt
Nam, có Hiến chương và chương trình hoạt động của Giáo
hội. Phật giáo Nam Tông Khmer đã tham gia đại hội với tư
cách là thành viên trong ngôi nhà chung của Giáo hội Phật
giáo Việt Nam với tính biệt truyền của một hệ phái. Từ
ngày thống nhất đến nay, nhiều vị chức sắc tiêu biểu
của Phật giáo Nam Tông Khmer đã được Đại hội lần lượt
suy tôn vào Hội đồng Chứng minh Trung ương Giáo hội Phật
giáo Việt Nam như Hòa thượng Maha Thạch Srây, Hòa thượng
Thạch Som, Hòa thượng Châu Mum, Hòa thượng Danh Nhưỡng, Hòa
thượng Dương Nhơn. Phật giáo Nam Tông và Hội Đoàn kết
Sư sãi Yêu nước tiếp tục phát huy truyền thống cách mạng
góp phần tích cực trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc.
Trải
qua các thời kỳ đấu tranh cách mạng lâu dài cũng như trong
công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam Xã Hội
Chủ Nghĩa, hầu hết Sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer,
mà nòng cốt là các vị chức sắc tiêu biểu, khẳng định
rõ vị thế và vai trò của mình, tích cực tham gia các phong
trào cách mạng tại địa phương, vận động sư sãi và đồng
bào Phật tử Khmer phát huy truyền thống yêu nước, tinh thần
đoàn kết, tự lực, tự cường, chấp hành tốt chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước. Tham gia phát triển kinh tế, xã hội, xóa đói giảm
nghèo, nâng cao dân trí, giữ gìn và phát huy bản sắc văn
hóa truyền thống của dân tộc. Động viên sư sãi và đồng
bào Khmer hưởng ứng cuộc vận động toàn dân đoàn kết
xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư. Củng cố khối
đại đoàn kết dân tộc, giữ vững an ninh chính trị và trật
tự an toàn xã hội vùng dân tộc.
Ngày
nay, trong công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh
đạo, sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer thể hiện tinh thần
phấn khởi, tin tưởng vào chính sách đổi mới đối với
tôn giáo, dân tộc của Đảng và Nhà nước. Thấy rõ quan
điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt
Nam về tôn giáo là rất phù hợp và đúng đắn thể hiện
chính sách nhất quán về tôn giáo, bảo đảm quyền tự do
tín ngưỡng tôn giáo và không tín ngưỡng tôn giáo của công
dân. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung
ương Đảng khoá IX về tôn giáo xác định: “Tín ngưỡng
tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng
chủ nghĩa xã hội ở nước ta”. Nghị quyết Đại hội X
của Đảng cũng nêu rõ: “Đồng bào các tôn giáo là bộ
phận quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
thực hiện chính sách nhất quán tôn trọng và bảo đảm quyền
tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo tôn giáo của công
dân, quyền sinh hoạt tôn giáo bình đẳng theo pháp luật”.
Được
sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, trực tiếp là sự chỉ
đạo của các cấp ủy Đảng, chính quyền, các ngành, đoàn
thể ở địa phương đã tạo mọi điều kiện thuận lợi
cho việc phát triển kinh tế xã hội ở vùng tôn giáo và dân
tộc nói chung, vùng đồng bào Phật tử Khmer Nam Bộ nói riêng.
Nhờ đó, đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào
từng bước được cải thiện, dân trí được nâng lên, văn
hoá của dân tộc được bảo tồn và phát huy, tôn giáo truyền
thống của dân tộc được tạo điều kiện hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật. Các vị chức sắc lãnh đạo các cấp
Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước hoạt động đúng Điều
lệ, tôn chỉ mục đích của Hội, phù hợp với chủ trương,
đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
nước, theo phương châm “Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa
xã hội”. Nhiều ngôi chùa Khmer được Nhà nước công nhận
là Di tích Lịch sử - Văn hoá. Các chùa có nhiều đóng góp
cho sự nghiệp cách mạng được hỗ trợ kinh phí để sửa
chữa và xây dựng mới. Việc học hành của các nhà sư, việc
in ấn kinh sách Phật giáo để phục vụ tu hành và việc tổ
chức các lễ hội tôn giáo, dân tộc được các cấp chính
quyền và ban ngành chức năng tạo điều kiện và hỗ trợ.
Cùng
với chính quyền và đoàn thể các cấp, các vị chức sắc
trong Phật giáo Khmer Nam Tông tích cực tuyên truyền, vận động
sư sãi và đồng bào Phật tử thực hiện chủ trương của
Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tham gia tốt
các phong trào cách mạng tại địa phương, nhất là lĩnh vực
xoá đói giảm nghèo, nâng cao dân trí, bảo tồn và phát huy
văn hoá dân tộc, giữ gìn an ninh trật tự và góp phần vào
việc xây dựng khối đại đoàn kết tôn giáo và dân tộc.
Bên
cạnh những kết quả đạt được nêu trên, trong thời kỳ
hội nhập quốc tế, đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá của đất nước hiện nay, Phật giáo Nam Tông
Khmer cũng đối mặt với một số vấn đề cần được quan
tâm như:
- Các
thế lực thù địch luôn tìm cách tác động, móc nối, lôi
kéo sư sãi và đồng bào Phật tử Khmer để thực hiện ý
đồ xấu, xuyên tạc và bôi nhọ chính sách tôn giáo và dân
tộc của Đảng và Nhà nước.
- Hộ
nghèo còn chiếm tỉ lệ cao, việc thích nghi với cơ chế thị
trường còn nhiều bất cập, thiếu thông tin, việc ứng dụng
các thành tựu khoa học kỹ thuật còn thấp kém, chuyển dịch
kinh tế nông nghiệp còn lúng túng, dịch bệnh, thiên tai thường
diễn ra, giá cả biến động từng lúc bất lợi cho nông dân.
Việc đào tạo nghề, giải quyết việc làm, xuất khẩu lao
động còn quá ít. Việc bảo tồn và phát huy văn hoá truyền
thống có mặt còn khó khăn. Hiệu quả công tác giáo dục
đào tạo vùng dân tộc còn thấp. Chương trình giảng dạy,
hiệu quả dạy học trong hệ thống các trường chùa còn nhiều
bất cập, chưa được quản lý và chỉ đạo thống nhất
là những khó khăn chung cho Phật tử Khmer.
- Những
yếu kém của Phật giáo Nam Tông bao gồm những khó khăn về
mặt giáo quyền, tình trạng thiếu liên thông trong việc học
hành của các nhà sư, bất đồng trong tổ chức lễ hội tôn
giáo, dân tộc. Sự yếu kém trong quản lý, điều hành cơ
sở thờ tự và hoạt động Phật sự chậm được khắc phục.
Những khó khăn trong hoạt động của Hội Đoàn kết Sư sãi
Yêu nước, của Trường Bổ túc văn hóa - Pali Trung cấp Nam
Bộ, nhất là của Học viện Phật giáo Nam Tông mới được
thành lập tuy được các ban ngành chức năng và địa phương
quan tâm giúp đỡ nhưng chưa có hệ thống căn bản. Một số
nơi trong vùng dân tộc còn có những hoạt động tôn giáo
với mưu cầu lợi ích vật chất làm ảnh hưởng xấu đến
phong tục, tập quán truyền thống của dân tộc. Có nơi, một
số sư sãi trẻ do nhận thức thấp kém đã bị kẻ xấu lợi
dụng gây mất trật tự an toàn xã hội làm ảnh hưởng đến
vị trí và vai trò của Phật giáo Nam Tông và cộng đồng
dân tộc Khmer.
- Trình
độ năng lực hạn chế của các vị sư và chức sắc trong
Phật giáo Nam Tông có phần ảnh hưởng đến các mặt hoạt
động, nhất là trong việc bảo tồn, phát huy bản sắc văn
hoá dân tộc, các hoạt động xã hội trong tiến trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và trong hội nhập
kinh tế thế giới hiện nay.
Từ
thực trạng trên, đối với vấn đề Phật giáo Nam Tông Khmer
trong bối cảnh thống nhất và hội nhập của Phật giáo Việt
Nam, tôi xin có một số kiến nghị, đề xuất như sau:
1.
Cần nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của sư sãi và đồng
bào Phật tử Khmer, diễn biến tình hình trong vùng dân tộc,
nhất là những vấn đề bức xúc của địa phương để kịp
thời tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền những
giải pháp giải quyết kịp thời không để nảy sinh phức
tạp có tính điểm nóng.
2.
Tiếp tục thực hiện tốt chính sách phát triển kinh tế -
xã hội một cách toàn diện với mức đầu tư thích hợp
đối với vùng dân tộc, tôn giáo và địa bàn khó khăn để
sớm thu hẹp sự chênh lệch về các mặt giữa các dân tộc,
tôn giáo trên địa bàn.
3.
Thấy rõ tính đặc thù trong quan hệ giữa tôn giáo với dân
tộc của đồng bào Khmer và truyền thống cách mạng của
Phật giáo Nam Tông để có cách nhìn đúng đắn đối với
các chức sắc trong cộng đồng dân tộc và giải quyết tốt
mối quan hệ tôn giáo và dân tộc. Tiếp tục phát huy vai trò
của Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước trong việc quản lý,
điều hành, tổ chức các hoạt động của Phật giáo, vận
động giới sư sãi và đồng bào Phật tử, nhất là vai trò
của các vị chức sắc tiêu biểu. Cho phép thành lập Hội
Đoàn kết Sư sãi Yêu nước các tỉnh An Giang và Vĩnh Long,
trên cơ sở đó hình thành Hội Đoàn kết Sư sãi Yêu nước
cấp cao hơn tỉnh để thống nhất Điều lệ, thống nhất
quản lý và điều hành các cấp Hội trong khu vực đối với
các hoạt động tôn giáo, việc học hành của các vị sư,
các lễ hội truyền thống của dân tộc.
4.
Có chính sách đặc thù đối với Phật giáo Nam Tông Khmer,
nhất là trong việc kiện toàn tổ chức trực thuộc Giáo hội
Phật giáo Việt Nam với tư cách là một hệ phái có tính
biệt truyền hoạt động theo Hiến chương của Giáo hội.
Thống nhất quản lý, điều hành về mặt giáo quyền có tính
biệt truyền và đặc thù của tôn giáo dân tộc. Xây dựng
và thống nhất quản lý có tính liên thông giữa các cấp
học trong việc tổ chức dạy học của các vị sư Khmer tại
các trường chùa. Tiếp tục hỗ trợ và tạo điều kiện
cho Trường Bổ túc văn hóa - Pali Trung cấp Nam Bộ và Học
viện Phật giáo Nam Tông hoạt động có hiệu quả. Có chính
sách bồi dưỡng về vật chất và tinh thần cho các chức
sắc tiêu biểu. Khen thưởng kịp thời đối với các chùa
Khmer, các vị sư có công trong kháng chiến cũng như trong sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
5.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục các
chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước,
ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam xã hội chủ nghĩa đối với sư sãi và đồng bào
Phật tử Khmer. Phát động sâu rộng phong trào quần chúng
bảo vệ an ninh Tổ quốc, xây dựng trật tự an ninh vững
chắc nhằm ngăn chặn kịp thời những biểu hiện lợi dụng
tôn giáo để hoạt động bất chính và nhất là chặn đứng
những thế lực thù địch lợi dụng vấn đề tôn giáo để
phá hoại khối đại đoàn kết, làm ảnh hưởng đến an ninh
chính trị, trật tự an toàn xã hội.
6.
Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu đối
với Phật giáo Nam Tông Khmer nhằm nâng cao trình độ cho các
sư, nhất là các chức sắc, các trụ trì một cách toàn diện
cả về Phật học và thế học để tiếp tục phát huy vai
trò của Phật giáo trong cộng đồng dân tộc. Nghiên cứu
từng bước tiến tới việc chuẩn hoá về đức độ và năng
lực đối với các vị trụ trì của Phật giáo Nam Tông để
nâng chất lượng sinh hoạt tôn giáo, quản lý cơ sở thờ
tự, điều hành các lễ hội tôn giáo, dân tộc trong nhà chùa
và trong cộng đồng dân cư.
7.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam cần tăng cường công tác nghiên
cứu, bồi dưỡng kiến thức cho Phật giáo Nam Tông về quan
hệ giữa các tôn giáo trong nước và ngoài nước. Chú trọng
việc giao lưu giữa các tôn giáo trong nước và quan hệ với
Phật giáo các nước trong khu vực để xây dựng tốt quan
hệ đoàn kết với các tôn giáo bạn và mở rộng giao lưu
với Phật giáo các nước trong khu vực.
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.