DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
HÀN GẮN
MẤT MÁT, HÀN GẮN THẾ GIỚI
Alan
Pope - Thích Nữ Liên Đạt dịch
 |
 |
Khi
trong mỗi chúng ta có một người thân qua đời, phải rời
xa quê nhà, hoặc bị bạo hành – những việc đó thường
để lại trong ta những nỗi khổ đau cùng cực. Nếu tâm trạng
đó không được hoá giải thì dễ nảy sinh những hành động
thái quá đối với người khác cũng như đối với chính mình.
Có rất nhiều những biểu hiện thái quá diễn ra trong cuộc
sống thường nhật, một trong số đó là câu chuyện về Tổng
Thống Harry S. Truman: khi nghe tin người tiền nhiệm nổi tiếng
là Franklin Delano Roosevelt qua đời, ông đã chút bỏ sự giận
giữ bằng việc quyết định thả bom nguyên tử xuống Nhật
Bản (Pope, 2006a). Do đó, để tiến đến hoà bình thế giới,
chúng ta cần phải học cách để hoá giải những tâm trạng
bất an của chính mình.
Trên
phương diện tâm linh, niềm đau khổ khởi lên chung quy là
do chúng ta không nhận thức được Tam Pháp Ấn. Vì chúng ta
không nhận thức được tất cả các sự vật hiện tượng
là vô thường (đệ nhất Pháp ấn), nên chúng ta lại chấp
vào các sắc tướng mà chúng không thể nắm giữ được và
đau khổ khi chúng bị mất đi. Khi chúng ta thất bại trong
nhận thức rằng chính chúng ta không tồn tại một cách cố
định (đệ nhị Pháp ấn), chúng ta lại bám víu vào bản
ngã, bảo vệ và luyến ái nó. Nhưng những nỗ lực này cũng
sẽ bị băng hoại bởi thực tại, và sẽ đưa đến khổ
đau. Đệ Tam Pháp Ấn - Niết Bàn được ám chỉ và tán thành
bởi sự nhận biết của hai pháp ấn trên. Vì chúng ta không
hiểu biết rõ các phương diện căn bản của thực tại nên
đã gây ra những khổ đau.
Nếu
thật sự hiểu biết tam Pháp ấn, chúng ta sẽ biết rằng
các hiện tượng thì không sanh cũng không diệt (Nhất Hạnh,
2002). Chúng luôn có mặt một cách tự nhiên khi hội đủ nhân
duyên. Không nhận thức được điều này thì bản chất chân
thật của thực tại bị áp đặt và xâm nhập thình lình
các bảo vệ kiên cố của màn vô minh. Chúng ta cảm nhận
sự nhầm lẫn và xung đột mạnh mẽ. Những thiền sư hướng
dẫn các môn sinh ngồi với các cảm xúc này và quán sát chúng.
Bằng cách thực tập chánh niệm, chúng ta có thể nhận biết
các phản ứng của chúng ta khi bị mất mát là vô thường
và không có bản ngã, hoặc khái niệm. Từ đó chúng ta dùng
nỗi khổ niềm đau như là một phương tiện nhận biết thấu
đáo tam pháp ấn và giải thoát khỏi những hạn chế của
sự cố chấp bản ngã.
Trong
lúc, Phật giáo xem sự đau khổ như là một hoạt động khởi
lên do mê lầm trong vòng luân hồi, tâm lý học và y học Phương
Tây đã giải thích đau khổ ở một mức độ tương đối.
Như vậy, các lĩnh vực này đã đưa ra một loạt nhiều triệu
chứng khác nhau có thể khởi lên trong lúc đau khổ, bao gồm
sự buồn bã, tức giận, tội lỗi, lãnh đạm, mong chờ, đau
khổ về thể xác và các phản ứng khác (e.g.,Lindemann, 1944;Worden,2002).
Các truyền thống Phương Tây này phân biệt giữa đau khổ
bình thường và không bình thường hoặc phức tạp. Cái gọi
là khổ não thông thường, xảy ra trong một cách thức như
vậy nhằm để giúp cho cảm thọ tổng hợp của tự ngã.
Trong khi đó ưu não khác thường thách thức cảm thọ cơ bản
của một thực thể con người. Do vậy điều đau khổ này
thường rất sâu đậm nặng nề hoặc lâu dài hơn là chúng
ta tưởng tượng.
Quan
điểm này của phương Tây là một trong những quan điểm đã
đánh giá cảm thọ tổng hợp của tự ngã như là tiêu chuẩn
của phát triển tâm lý. Mặc dù Phật giáo nói với chúng
ta là, ở mức độ tuyệt đối, cái ta là trống rỗng, Phật
giáo cũng dạy rằng cái tận cùng của tuyệt đối thì không
bao giờ tách rời tương đối. Như một vị Lạt ma Tây Tạng
đã nói, khi hỏi một bậc giác ngộ về bản ngã” Vâng,
mỗi người phải ngồi xuống ăn chung một bàn.” Mặc dù
bản ngã là trống rỗng, nó được tồn tại ở mức độ
tương đối để chúng ta có thể hoạt động trong xă hội.
Tâm lý phương tây cho chúng ta một số công thức mang tính
cách lý thuyết tinh vi giúp chúng ta hiểu được các nhân duyên
do đó cái ta có thể phát triển lành mạnh, và từ đó có
thể hiểu được khổ não.
Khi
có khổ đau, chúng ta có thể dùng nó không chỉ để tiến
đến chuyển hoá tinh thần, mà còn là chuyển hoá tâm linh.
Có nghĩa là tiến trình của một chuỗi cảm thọ phức tạp
khởi lên trong bối cảnh bị mất mát, chúng ta giải quyết
cả hai phương diện tâm lý mà sự mất mát đưa đến cảm
thọ tự ngã thông thường và sự quán chiếu tâm linh sâu
sắc qua các trải nghiệm tức thời. Chiều hướng tinh thần
và tâm lý không hoạt động riêng lẽ; mà chúng đi theo thứ
lớp, cũng như thế cái tương đối và tuyệt đối bao hàm
lẫn nhau. Mặc dù tiến trình tâm linh hoàn toàn vượt hẳn
khỏi hạn chế của bản ngã, có một phương cách trong đó
bản ngã được trau giồi ở một mức độ tương đối để
trợ giúp cho sự hiểu biết đó. Cũng như thế, những bài
báo cáo đó đây và các bài nghiên cứu tâm lý đề nghị
rằng quá trình khổ đau có thể đưa đến thay đổi cá nhân
nó mở ra chiều hướng nhận biết tâm linh.
Với
quan kiến này, chúng ta hãy kiểm nghiệm hai mô hình chính của
Phương tây cho tiến trình đau khổ. Mô hình đầu tiên là
do từ tác phẩm đầu tay của SigmundFreud, được trình bày
trong bài tham luân của ông vào năm 1917, “Về vấn đề mất
mát và buồn phiền” (Freud, 1917/1957). Freud mô tả đau khổ
là một tiến trình diễn biến nội tâm trong đó người thân
đã chết được xem như một đối tượng của tâm, Khi đau
buồn, chấp thủ của chúng ta với một đối tượng bị tiêu
huỷ một cách có hệ thống. Năng lựơng này sau đó được
giải phóng để hướng về một đối tượng khác, việc này
cho phép chúng ta yêu thương lại sau khi đã giải quyết xong
niềm đau khổ hiện tại.
Mô
hình của Freud là căn bản của những lời khuyên ở phương
Tây đối với người bị mất mát, dẫn đến cái gọi là
“Xã bỏ” hoặc “Thuyết về đoạn diệtï tương quan”
(Stroebe,Gergen, Gergen, & Stroebe, 1992). Mô hình của ông ta
giới thiệu sự khác biệt giữa bình thường và khác thường
nơi đó đau khổ tích cực đưa đến việc chúng ta hoàn toàn
xã bỏ các chấp thủ với người thân đã quá vãng; Ngược
lại, là đau khổ khác thường, phức tạp, hoặc bị chậm
trễ. Thêm vào đó, bài tham luận của Freud đã giới thiệu
ý tưởng về tiến trình của đau khổ, ở đó nỗi đau khổ
bình thường hay tích cực đòi hỏi nỗ lực từ người bị
mất mát. Một cố vấn có khả năng có thể giúp đương sự
vượt qua được.
Tuy
nhiên, mô hình của Freud bi nhiều hạn chế đáng kể. Chính
Freud đã thừa nhận rằng mô hình đó không thể nào tính
đếm được các cảm xúc đau đớn trong quá trình đau khổ.
Bản chất máy móc của mô hình đó cũng không thể nào tính
đếm được các thứ chuyển hoá cá nhân đôi khi có thể
xảy ra trong lúc thương tiếc người thân, vì trong lúc đó
người bị mất mát có thể được bình phục để sinh hoạt
như trước khi bị mất mát. Do đó chúng ta cần một giải
pháp khác để nhìn vào vấn đề khổ đau.
Mô
hình khác được gọi là mô hình ‘Tương quan tiếp diễn’.
Trên quan điểm này, mối quan hệ với người đã mất là
một thực thể tồn tại không thể xoá sau khi chết. Theo chiều
hướng đó mối quan hệ tiếp tục và người khác đã qua
một sự chuyển hoá toàn diện của việc không còn thể
hiện qua hình thức thế gian, rồi chúng ta sẽ bị bắt buộc
phải thay đổi khi phản ứng. Nhiều người kháng cự
lại sự thay đổi này, và cố gắng nghĩ rằng các sự
vật, sự việc vẫn còn như trước khi bị mất người thân,
với kết quả là các triệu chứng mà tâm lý phương
Tây cho là niềm đau khổ bất thường. Tuy thế, cách tốt
nhất là tiếp tục duy trì cảm thọ trong mối quan hệ nó
sẽ đem lại sự hiểu biết sâu sắc về bản chất không
thật của bản ngã, sự sanh và sự chết, sự hiểu biết
này dẫn đến một nhận thức về nguyên lý tiếp hiện.
Tiềm
lực này được minh hoạ trong nghiên cứu riêng của tôi về
ảnh hưởng của sự chuyển biến khi mất mát người cha hoặc
người mẹ còn lại đối với những người ở độ tuổi
trung niên. Phỏng vấn những người mồ côi ở độ tuổi
trung niên cho biết rằng chính những cảm thọ liên kết với
người cha mẹ đã qua đời đã làm cho người ấy thay đổi.
Những người tham dự công tác nghiên cứu đã nắm chặt những
kỷ niệm về cha mẹ họ và đã ôn lại cuộc đời của họ.
Khi nghĩ lại cuộc đời của cha mẹ họ làm cho sự mất mát
đó càng to lớn hơn, những người con lớn tuổi còn sống
có thể hiểu và tha thứ những hành động mà trước đây
họ đã cảm thấy rất oán giận. Để nhìn lại chính mình
trong bối cảnh rộng lớn hơn, họ cũng chấp nhận những
trách nhiệm cao cả hơn cho các hành động của họ, cũng như
tự tha thứ nhiều hơn. Nói chung thái độ khoan dung này bao
gồm những người khác.
Khi
sống với cái chết của người cha hoăc mẹ còn lại, những
người tham dự trong cuộc nghiên cứu đó cũng có ý thức
sâu sắc hơn về trách nhiệm hiện tại đối với người
khác. Vì vậy, họ đã hoàn toàn hy sinh vì lợi ích của người
khác và ít nghĩ đến chính họ. Họ bỏ đi những cá tính
riêng của mình, hiểu biết chính mình, thay vì đặt mình vào
phạm vi quan tâm chăm sóc đến người khác mà họ đã cống
hiến cuộc đời họ. Điều này thoát khỏi cảm giác thắt
chặt trùng với việc họ trở nên thân thiện, khoan dung, kiên
nhẫn, và từ bi hơn. Điêù này như là cảm giác đau xót khi
bị mất người cha hay người mẹ còn lại đã đánh thức
bồ đề tâm trong những người mồ côi ở độ tuổi trung
niên.
Ảnh
hưởng chuyển hoá sự mất mát được minh hoạ trong cuốn
sách của Robert Romanyshyn, một nhà tâm lý học người Mỹ,
‘Linh hồn đày đoạ (1999)’, trong đó ông đã diễn tả
chi tiết về cái chết bất ngờ của người vợ ở tuổi
45. Trong khi bề ngoài ông Romanyshyn đã bị rơi vào tình trạng
ức chế trong vòng 2 năm. Sự mô tả chi tiết của nội tâm
ông đã chứng tỏ một tiến trình phản ánh và mơ hồ, nhờ
vậy ông ta bắt đầu thức tỉnh cảm giác liên hệ với thế
giới bên ngoài, Một sự nối kết sâu sắc và đậm đà hơn
mà ông ta đã biết trước cái chết của vợ ông ta. Trong
một đoạn ông ta nói rằng, có những âm thanh, mùi, vị, xúc
chạm, nhưng nó không phải là tôi hoặc tâm tôi cái đã biết
được chúng. Thay vì có một loại nhận biết ra chúng, để
trong lúc đó ranh giới giữa tôi và thế giới bên ngoài
biến mất. Sự biểu lộ về vô ngã này và những vấn đề
tiếp hiện, không những là việc tu tập tâm linh, mà
còn qua kinh nghiệm quan tâm đến vấn đề khổ đau.
Các
mô tả của Romanyshyn cho biết một mối liên kết sâu sắc
giữa khổ đau và thực nghiệm tâm linh. Cả hai đều có khả
năng đi đến tỉnh thức và chuyển hoá bằng cách hướng
nỗi qua nỗi đau của sự mất mát chứ không hướng ngoại.
Trong khi những người Phương Tây thường suy nghĩ ngây thơ
rằng thiền định là một tiến trình chuyển hoá khổ đau
điều này thật sự là một cách dẫn đến việc chuyển hoá.
Trong tiến trình tiếp nhận này, chúng ta học được cách
buông bỏ sự bám níu bản ngã đó là cội gốc sâu nặng
của đau khổ. Với ý tưởng này, thuyết “buông bỏ” được
xem là đúng. Mặc dù không phải là vấn đề lột bỏ các
cảm thọ yêu thương và mối liên kết với người đã mất;
đúng hơn, là sự lột bỏ cảm giác cứng ngắt mà vốn dĩ
đời sống hiện hữu đã ban cho chúng ta. Tương tự như thế,
mô hình về “ Tương quan tiếp diễn” là đúng, không phải
để giữ một mối liên hệ bên ngoài giữa hai thực
thể riêng biệt, mà là sự biểu hiện gốc rễ
sâu đậm của mối liên hệ theo nguyên lý tiếp hiện. Với
quan điểm này, đau khổ là một tiến trình qua đó chúng ta
có thể làm yếu đi những tri giác về bản ngã để trải
nghiệm một chuyển hoá tâm linh.
Để
kết luận, những lý thuyết tâm lý học của phương tây về
sự đau khổ giúp chúng ta hiểu thế nào cảm giác tương đối
về cái ta thay đổi sau sự mất mát cá nhân đầy to lớn.
Trong khi tâm lý học Phật giáo mô tả mô hình rộng hơn trong
đó sự chuyển hoá xảy ra. Sự đau lòng vì mất mát có thể
làm giảm đi sự chấp thủ bản ngã. Đặc biệt, chúng ta
sẽ thấy rằng chúng ta không phải là một cá thể tách biệt
và riêng lẻ, thay vào đó cảm giác của chúng ta được bén
rễ trong mối quan hệ với sự quan tâm chăm sóc đến người
khác. Chiều hướng tâm lý này không thể tách rời tuyệt
đối khỏi nhận thức tâm linh của sự thật tuyệt đối
trong đó chúng ta thấy không có vật gì tách rời và lòng
từ của chúng ta thì vô hạn. Tôi hy vọng rằng quan điểm
đau khổ như là một tiến trình chuyển hoá của tâm linh có
thể kết hợp tâm lý Phương Tây với quan niệm tâm linh trong
Phật giáo để giúp chúng ta hàn gắng chính mình và hàn gắn
thế giới.
1_Mặc
dù các truyền thống cho rằng đệ tam pháp ấn là đau khổ,
nhưng TS Thích Nhất Hạnh (1998) cho rằng đó là Niết Bàn.
Cũng như hai pháp ấn trước, Niết Bàn là một phương diện
sẵn có của thực tại, trong khi đó khổ sanh khởi do những
hạn chế của sự nhận biết của chúng ta.
2_Câu
trả lời này là của Khenpo Tsewang Dongyal Rinpoche cách đây
đã nhiều năm qua.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.