DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
MỐI QUAN
HỆ GIỮA PHẬT GIÁO
VÀ SỰ THIẾT
LẬP HOÀ BÌNH THẾ GIỚI
Dr.
Arvind Kumar Singh
Department
of Buddhist Studies, University of Delhi
 |
 |
Đã
đến lúc chúng ta phải bàn về vấn đề hoà bình thế giới.
Lâu nay thế giới rất cần hoà bình. Chính thực trạng biến
đổi đã xô đẩy hành tinh này đến bờ vực chiến tranh
và thảm hoạ. Nhiều vũ khí được chế tạo để huỷ diệt
hàng loạt bằng chất hoá học, sinh học, hạt nhân, v.v...
Hiện
nay, các tổ chức hòa bình được hình thành và nhiều cuộc
hội thảo đã diễn ra tại khắp nơi trên thế giới trong
niềm tin tôn giáo. Tuy nhiên, kết quả thực sự chỉ là con
số không. Hoà bình sẽ không được thiết lập trừ khi chính
nhân loại biết tự giác.
Trong
thời đại nguyên tử hạt nhân, một nền hoà bình thế giới
bền vững là điều kiện tiên quyết cho sự bảo tồn văn
minh nhân loại và sự tồn tại của con người. Không có gì
quan trọng và cần thiết bằng sự thiết lập và duy trì hoà
bình thế giới.
Hoà
bình có nghĩa là lòng yêu thương, nhân đạo, hạnh phúc, công
bằng, nhân phẩm và bình đẳng về kinh tế - xã hội. Vì
vậy, hoà bình thế giới ngày nay bao hàm nhiều ý nghĩa chứ
không phải là sự vắng bóng chiến tranh và bạo lực. Trong
thế giới phụ thuộc lẫn nhau hiện nay, Liên Hiệp Quốc cần
trở thành tổ chức tiêu biểu cho một thế giới hiện đại
và thể hiện tính năng dân chủ, bởi vì tổ chức này được
thiết lập nhằm cứu nguy cho các thế hệ khỏi thảm hoạ
của chiến tranh.
Giải
pháp để đạt được hoà bình là một vấn đề nóng bỏng
nhất trong thực trạng thế giới hiện nay. Theo khuynh hướng
này, Phật giáo đóng một vai trò quyết định tạo ra điểm
tựa và gìn giữ hoà bình thế giới. Nền tảng của hoà bình
và an ninh có thể trở nên vững chắc trong khuôn khổ Phật
giáo, một giáo lý từ bi, quảng đại và uyển chuyển. Nhiệm
vụ của tôn giáo là hướng con người đến việc tuân giữ
các giá trị đạo đức để có một đời sống an lành, và
cũng nhằm duy trì phẩm hạnh.
Đức
Phật đã dẫn dắt nhân loại đi theo con đường đúng đắn
sau khi tự thân Ngài nghiệm rõ những yếu mềm và mạnh mẽ
của nội tâm. Đạo Phật là một giáo lý thực nghiệm, nhằm
giải thoát khỏi khổ đau trước, sau đó làm sáng tỏ các
vấn đề mang tính triết lý.
Nhưng
Đương nhiên hai lĩnh vực thực nghiệm và triết lý không
kết thành một. Pháp học (Pariyatti) và Pháp hành (Paṭipatti)
phải cùng song hành, như hai bánh xe ngựa lăn trên đường
đời bằng thẳng. Đó là một hệ thống gồm một vấn đề
- một giải pháp, và con đường hướng dẫn nằm giữa.
Khó
khăn của nhân loại là nỗi đau khổ (dukkha) và giải pháp
nhằm đạt được an lành vĩnh viễn (Nibbāna) là con đường
Bát Chánh Đạo (Atthaṅgika Magga); đồng thời đó cũng chính
là một phương cách tích cực đưa đến sự hoàn thiện và
hòa hợp hoàn toàn trong tổng thể xã hội, không bạo động,
thế giới tràn ngập an lành và bình yên.
Trước
hết chúng ta bàn về ý nghĩa của hòa bình theo triết lý nhà
Phật. Trong Phật học, một số thuật ngữ tiếng Pāli được
dùng cho chữ hoà bình như 'Santi' (tiếng Sanskrit là 'Shanti'),
Santa, Samatha, Upasama... tất cả những từ này đều có cùng
gốc 'sama' nghĩa là 'làm an ổn', 'tạo bình an'.
Những
từ này sở dĩ khác nhau là vì có tiếp vị ngữ khác nhau
đặt ở cuối mỗi từ. Do vậy, từ Pali Santi có gốc là 'sama'
cộng tiếp vị ngữ 'ti' thành Santi, mang nghĩa là 'hoà bình,
bình an'.
Hoà
bình, an tịnh được dịch từ chữ 'santi' là "bình an, xoa
dịu tất cả mọi bệnh tật và đau khổ (sabbadukkhupasama)."[1]
Nó cũng có nghĩa là sự chấm dứt đau khổ (dukkhanirodha) nhờ
diệt sạch tham muốn, nguyên nhân tạo ra đau khổ (dukkhasamudaya).
Điều này được nói đến trong Diệu đế thứ ba, một trong
Tứ Diệu Đế (Catavāri Ariya Saccāni).
Hoà
bình, an tịnh theo định nghĩa trên là một trong các đặc
tính của Niết Bàn, cứu cánh siêu việt của Đạo Phật.
Điều này được nói rõ trong Tăng Chi Bộ Kinh, tiếng Pali:
"Đây là an tịnh (santi), đây là tột đỉnh, gọi là sự chấm
dứt các hình thức tạo nghiệp, sự từ bỏ tất cả các
dạng hiện hữu, sự mất dần tham muốn, dính mắt, sự tịch
diệt (và) Niết Bàn. Trong Tương Ưng Bộ Kinh, Niết Bàn cũng
được mô tả như "trạng thái thanh tịnh và an toàn không
gì có thể sánh bằng".3
Mục
tiêu chủ yếu của Đạo Phật là hoà bình, không chỉ là
hoà bình cho nhân loại mà còn là hoà bình cho tất cả chúng
sinh. Đức Phật đã dạy rằng bước khởi đầu trên
con đường đạt đến hoà bình là sự hiểu rõ căn nguyên
nhân của hoà bình.
Trong
số những lời dạy của Đức Phật, có thể nói rằng tâm
giác ngộ là yếu tố dẫn đầu đưa đến hoà bình. Ý nghĩa
phân tích của tâm giác ngộ là tâm đạt được tỉnh thức.
Nếu tâm của mọi người ở trạng thái bình an thì cả thế
giới này được hoà bình, yên ổn.
Hoà
bình liên quan đến tâm, tâm là mấu chốt phát sinh mọi hành
động. Đức Phật đã dạy rằng: "Này các Tỳ kheo, tác ý
(cetanā) được gọi là nghiệp, hành động."
Trong
kinh Pháp Cú, Ngài chỉ dạy:
Không
làm các việc ác,
Năng
làm các việc lành,
Giữ
tâm ý trong sạch,
Chính
lời Chư Phật dạy.
Vì
vậy, khi đạt được tâm giác thì hoà bình, an ổn được
thiết lập; bạo lực và thù hận bị tiêu trừ. Điều này
làm chúng ta liên tưởng đến cuộc chiến Kaliṅga của vua
Asoka. Theo Sắc lệnh thứ 13, vua Asoka tuân giữ "Pháp âm" (Dhammaghosha),
tức âm thanh của Sự Chân Chính thay vì "Nhạc âm", tức tiếng
kèn trumpet, sau khi nhà vua đã thấy được rất nhiều lời
khuyên bảo ở đời và cuộc sống vật chất trong suốt thời
chiến.
Những
lời dạy của Đức Phật là di sản quan trọng nhất mà đất
nước Ấn Độ cổ đại đã dâng cho thế giới. Những lời
dạy này là một tập hợp các quy tắc thực hành, một cách
thức thanh lọc và cách sống nhân từ. Những lời giáo huấn
đầy trí tuệ của Ngài được giải thích rõ trong Bát Chánh
Đạo (Atthaṅgika Magga), phần sau cùng của Tứ Diệu Đế,
con đường được chia làm ba: Giới (sīla), Định (samādhi)
và Tuệ (paññā).
Theo
truyền thống Phật giáo, Đức Phật đã tuyên bố rằng để
sống một đời thanh tịnh, hạnh phúc và bình an, con người
phải tránh xa hai thái cực: tham đắm, khoái lạc (Kamesukamasukhallikanuyogo)
và khổ hạnh (Attakilamathanuyogo). Điều này được mô tả
trong Trung Đạo (Majjhimapatipadā), con đường mà nhân loại
nên đi theo.
Để
duy trì hoà bình, an tịnh trên thế giới, con người phải
thực hành Trung Đạo, bao gồm tám bước từ thấp lên cao
(Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo).
Nhìn
chung, Bát Chánh Đạo có ba bước, đó là Giới (gồm Chánh
Ngữ, Pāli: Samma vāca; Chánh Nghiệp, Samma kammaṅta; Chánh
Mạng, Samma-ājiva), Định (gồm Chánh Tinh Tấn, Samma-vayāma;
Chánh Niệm, Samma-sati; và Chánh Định, Samma-samādhi) và Tuệ
(gồm Chánh Kiến, Samma-diṭṭhi; Chánh Tư Duy, Samma-saṅkappa)
Giới
là bước đầu tiên loại bỏ những hành động (nghiệp) xấu
về thân và khẩu. Định là loại bỏ những nghiệp xấu của
ý. Tuệ mở rạng sự hiểu biết chân chánh nhờ ánh sáng
từ sự thấy biết bản chất của sự thật. Giới, Định,
Tuệ là ba yếu tố cơ bản để thoát khỏi những khó khăn
,rối rắm.
Khi
nguyên tắc này được thực hành đúng, thì bốn lậu hoặc
(Āsava) năm triền cái (Nivaraṇa), mười kiết sử (Samyojana)
sẽ tự động bị tiêu trừ và ắt có sự xuất hiện của
Tứ vô lượng tâm (Bốn phẩm hạnh cao cả, Brahmavihāra), năm
Ba-la-mật (Pāramitā) chấm dứt sự điên đảo vọng tưởng.
Đây là lý do tại sao Trung Đạo được coi như là liệu pháp
thích hợp nhất để điều trị chứng loạn tâm của nhân
loại.
Theo
truyền thống Phật giáo giai đoạn đầu, hoà bình, an ổn
là một trạng thái của tâm thức trong đời sống con người.
Ngay giây phút đầu tiên của kiếp người đã chuyển thành
một dòng tâm thức tự nhiên, sau đó do nghiệp lực nó có
thể biểu hiện ra bên ngoài thành hành động hoặc tiềm ẩn.
Vậy,
"hoà bình" có thể là cách diễn đạt của "tâm an tịnh" (santa
citta), một tâm thanh thản, vô cùng tĩnh lặng, không bị xáo
động, lại uyển chuyển, vi tế và được thể hiện qua tất
cả các yếu tố thuần hậu của tâm. Trong cách giải thích
này, có thể xuất hiện một trật tự xã hội dựa trên việc
thực hành con đường thánh thiện - Bát Chánh Đạo, mà Đức
Phật đã chỉ dạy.
Sự
hận thù là chướng ngại lớn nhất cho việc thiết lập hoà
bình trên thế giới. Hận thù chỉ mang lại hận thù. Trong
Kinh Pháp Cú, Đức Phật khuyên rằng hận thù không dẹp tan
được gì, chỉ có không hận thù thì mới diệt được hận
thù mà thôi. Đó là chân lý chung. Tâm giác phá tan được
hận thù và như vậy sẽ đưa đến bình an và hoà hiệp trên
toàn thế giới. Điều này cư sỹ cũng có thể thực hiện
được bằng cách y theo lời dạy về Tứ Vô Lượng Tâm của
Đức Phật. Lời dạy về bốn đức tính cao thượng: Từ
(mettā), Bi (karuṇā), Hỷ (muditā), Xả (upekkhā). Bốn đức
tính cao thượng này có thể tạo ra một bầu không khí cảm
thông lẫn nhau giữa con người và quốc gia trên thế giới.
"Từ"
diệt được ác tâm và bản ngã, giúp nuôi dưỡng tình thương
và hoà bình cho nhân loại, điều này được minh chứng hùng
hồn trong bài kệ của Kinh Từ Bi, thuộc Kinh Tập: Như tấm
lòng người mẹ, đối với đứa con duy nhất của mình, trọn
đời lo che chở. Cũng vậy, đối tất cả các chúng hữu tình,
hãy phát triển tâm ý rộng lớn không hạn lượng. "Bi" có
nghĩa là sự trừ khổ cho người khác "-"Karuṇati dayā, anuddayā,
hadayanampanaṃ vā."
Bi
không chỉ là tình cảm đối với chúng sanh đang đau khổ
mà còn là thái độ tích cực của một người trước đau
khổ của người khác, nổ lực tinh tấn đúng đắn để giảm
dần nỗi đau đó[2]
Bi
có tính chất tạo ra phương pháp giải trừ đau khổ về thân
và tâm, và là sự thể hiện của lòng tốt. Bi có công dụng
nhổ tận gốc ác ý làm hại người khác. Nó làm cho con người
rất mẫn cảm với những nỗi đau của tha nhân và giúp họ
tự mình cảm thấu những nỗi đau đó đến mức họ không
còn muốn đau khổ gia tăng hơn nữa.
Từ,
Bi, Hỷ, và Xả cũng giúp tạo dựng hoà bình, an tịnh khắp
nơi nơi. Đức Phật dạy nhân loại nên thực hành Tứ
Vô Lượng Tâm[3].
Thuyết
về lòng Từ đối với từng cá nhân và cộng đồng Phật
tử gắn liền với tâm không hãm hại (Ahiṃsā) và là cội
nguồn đạo đức tốt đẹp đưa đến quan điểm của Đức
Phật về chính trị trong nước cũng như các vấn đề về
chiến tranh và hoà bình.
Đạo
Phật là một tôn giáo vô cùng hiền thiện, bình đẳng, công
bằng và an tịnh. Giáo lý nhà Phật dạy chúng ta chỉ dùng
sự chân chánh để chiến thắng sức mạnh và bạo lực. Đức
Phật rất quan tâm đến là việc chỉ dạy năm giới cho hàng
Phật tử tại gia.
Đây
cũng là bước khởi đầu cho việc thiết lập hoà bình thế
giới. Đức Phật đưa ra phương châm bất bạo động và hoà
bình như bức thông điệp cho cả nhân loại. Ngài không chấp
nhận bạo lực hay sự huỷ diệt mạng sống; Ngài tuyên bố
nếu sống với thái độ như vậy sẽ không xảy ra chiến
tranh. Ngài dạy rằng người chiến thắng sẽ bị hận thù,
người thất bại sẽ bị khổ đau. Người từ bỏ cả chiến
thắng lẫn thất bại thì sẽ có hạnh phúc và an tịnh.
Đức
Phật không chỉ chủ trương bất bạo động và hoà bình,
mà Ngài còn là bậc Đạo sư đầu tiên và duy nhất đích
thân mình đến tận chiến trường để ngăn chặn sự bùng
nổ chiến tranh. Ngài đã làm giảm sự căng thẳng giữa dòng
họ Thích Ca (Sākyas) và dòng họ Koliya (Koliyas) khi sắp có
cuộc tranh chấp về việc sử dụng nước lưu vực sông Rohini.
Ngài cũng đã khuyên can Vua A xà Thế (Ajātasattu) trị vì nước
Ma-kiệt-đà từ bỏ ý định tấn công nước Tỳ-xá-ly (Vajjī).
Sau đó Đức Phật đưa ra bảy chính sách giúp một quốc gia
hưng thịnh, điều này được đề cập trong Kinh Đại Niết
Bàn thuộc Trường Bộ Kinh.
Đức
Phật đã không truyền bá bất cứ nguyên tắc chỉ đạo hay
giáo điều nào. Toàn bộ những bài pháp của Ngài dựa vào
lý tưởng thự dụng và tư duy thích hợp. Ngài dạy: "Hãy
tự mình thắp đuốc mà đi." (Atta dipo viharatha). Hơn thế,
trong Phẩm Tự Ngã của Kinh Pháp Cú, Đức Phật dạy: "Tự
mình nương tựa chính mình, không nương tựa vào một ai khác"
(Atta hi attano natho ko hi natho parasidya).
Điểm
quan trọng, đáng nhớ là khi có tư duy chân chánh thì bình
an sẽ tự đến. Chúng ta có thể áp dụng điều này để
thiết lập hoà bình thế giới. Đức Phật để cho đệ tử
Ngài tự do suy nghĩ, quyết định và hành động. Ngài không
áp đặt một ý tưởng nào cho họ. Như vậy, tư duy chân chánh
dựa trên tự do cá nhân mở đường tiến đến hoà bình thế
giới.
Có
thể nói rằng chúng ta nên tu tập tâm Từ Bi một cách có
hệ thống đối với tất cả, sau đó tăng dần lòng từ cho
các cộng đồng, quốc gia, và toàn thế giới. Tôi cho rằng
ý tưởng này thực sự hữu hiệu.
Lấy
điển hình vua Asoka đã phát tâm hướng đến Đạo Phật sau
khi bản thân nhà vua cảm thấy rất khiếp sợ trước hậu
quả của cuộc chiến đổ máu chinh phạt dòng tộc Kaliṅga.
Từ đó về sau, nhà vua nghiêm cấm không ai được quyền giết
hại và khuyến khích mọi người đối xử tốt với tất
cả chúng sanh.
Cũng
vậy, những sắc tộc người Mông Cổ, đặc biệt đội quân
của Thành Cát Tứ Hãn (?), đã từng làm kinh sợ nhiều người,
từ đất nước Trung Hoa đến những cổng thành nước Áo.
Tuy nhiên, những hội tuyên truyền Phật giáo đến từ Ấn
Độ đã chuyển hoá được người Mông Cổ này thành một
trong những dân tộc an bình nhất Châu Á.
Đệ
tử Phật không bao giờ hiếu chiến hay ủng hộ chiến tranh
tôn giáo. Ý tưởng Bồ Tát phát nguyện trở lại thế giới
đau khổ từ đời này sang đời khác để dắt dẫn con người
tu tập đạt đến bình an miên viễn nơi nội tâm, đây là
con đường duy nhất mang lại hoà bình thật sự trên thế
giới.
Đạo
Phật không chỉ là một tôn giáo mà còn là một pháp tu thánh
thiện đem lại sự an tịnh, giải thoát vĩnh viễn nhờ thực
hành đời sống cao quý. Đạo lý chính của Đạo Phật luôn
quý trọng phẩm hạnh và quyền lợi của con người, nhờ
vậy có thể đưa đến hoà bình và hạnh phúc cho toàn nhân
loại.
Đạo
Phật không hề phai mờ theo dòng thác thời gian. Đạo Phật
vẫn tồn tại sau bao cuộc chiến tranh qua nhiều thời điểm
trong quá khứ. Nếu một nơi nào đó trên thế giới công kích
Đạo Phật thì tại những nơi khác Đạo Phật vẫn được
trân quý thông qua sự hỗ trợ về mặt chính trị và sự
bảo tồn về mặt văn hóa.
Chính
vì vậy, Đạo Phật đã tạo được một trào lưu chưa từng
có, từ trào lưu này toàn thế giới có thể vận dụng Đạo
Phật trong mọi lãnh vực như tôn giáo, văn hoá, chính trị,
đạo đức, sinh thái và xã hội. Đạo Phật đã dạy con người
biết mưu cầu hoà binh cho tất cả muôn loài chứ không chỉ
cho con người nói riêng.
Giống
như các tôn giáo lớn trên thế giới, bản chất Đạo Phật
là một tôn giáo hoà bình, trong các kinh văn Phật giáo đầu
tiên như Kinh Pháp Cú, có các bài kệ nói về sự tu tập trong
đời sống hàng ngày như sau:
"Hận
thù không bao giờ được diệt hận thù,
Chỉ
có Từ Bi mới diệt được hận thù,
Đó
Là định luật ngàn thu."
Thuật
ngữ ‘định luật ngàn thu’ ở đây là ‘pháp’ hay giáo
lý nhà Phật. Bài kệ về bất bạo động này thể hiện tinh
thần cốt yếu trong Đạo Phật, đó là hòa bình và không
gây hiềm khích. Sau này, chúng ta sẽ thấy một nhà thơ Đại
thừa nổi tiếng của thế kỷ thứ 8 pháp danh Santideva cũng
dạy rất nhiều điều như thế. Đơn cử, tác phẩm vĩ đại
Bodhicarayāvatāra của Santideva đã đề cập rất nhiều đến
sự nguy hại của lòng sân hận.
“Không
có tội ác nào bằng tâm sân hận và không có tu tập nào
bằng tâm tha thứ.Thế nên con người phải tu tập tâm tha
thứ bằng nhiều nỗ lực, nhiều phương pháp”[4]
Lại
nữa, “Tâm không bình, không sao vui được, không ngủ, thấy
bất an, khi mũi tên sân hận cắm vào tim.”[5]
Cầu
mong cho tất cả chúng sanh được hạnh phúc, cầu mong cho tất
cả chúng sanh sống không lo sợ, cầu mong cho tất cả chúng
sanh thọ hưởng niềm an lạc, hạnh phúc, và thoát khỏi tất
cả khổ đau và sầu muộn.”
Đạo
Phật hoàn toàn thích hợp cho xu thế hoà bình và cảm thông
trên toàn thế giới. Kinh văn, triết lý Đạo Phật có giá
trị rất cao đưa đến sự đoàn kết và hòa bình cho nhân
loại. Thậm chí ngày nay Đạo Phật có thể làm sống lại
tình anh em, tinh thần hòa bình, đoàn kết, mối thân thiện
giữa các nước. Bài viết kết luận bằng trích của Pt. Jawaharlal
Nehru:
“Nếu
chúng ta thực hành theo giáo lý Phật dạy,
Chúng
ta nhất định sẽ đạt được sự an lạc và hòa bình trên
thế giới.”
[1]
See, Edward Conze, Buddhist Thought in India, p. 74.
[2]
Aṭṭhasālini (ed.) Tripathy R.C. 1989, p. 340.
[3]
Dharamrakshit Bhikkhu, op.cit., p. 36
[4]
Santideva, Bodhicaryavatara, Chapter VI, verse-2
[5]
Ibid. Chapter VI, verse-3
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.