DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
PHẬT GIÁO
VỚI VIỆC NGĂN NGỪA CHIẾN TRANH
VÀ XÂY DỰNG
THẾ GIỚI HOÀ BÌNH AN LẠC
Bùi
Hữu Dược
Vụ
trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ
 |
 |
“Phật
giáo với việc ngăn ngừa chiến tranh và xây dựng thế giới
hoà bình an lạc” là một trong các chủ đề hội thảo tại
diễn đàn Đại lễ Phật đản Liên Hợp Quốc 2008 tổ chức
ở Hà Nội - Việt Nam. Chủ đề này có tính thiết thực bởi
nhiều người đã trải qua, đã chứng kiến không ít những
hậu quả tang thương do chiến tranh gây nên, và giờ đây hậu
quả ấy vẫn còn để lại di chứng lâu dài cho biết bao người
gánh chịu. Đối với xã hội, chiến tranh là điều mà tất
cả những người yêu cuộc sống yên bình không bao giờ muốn
có. Bởi nó đã gây nên sự khổ đau, chết chóc và bất hạnh
cho bao người vô tội. Lịch sử nhân loại đã ghi lại rất
nhiều và rất đậm nét những cuộc chiến tranh khốc liệt
mà không ít nước đã trải qua. Chiến tranh để lại hậu
quả cho cả hai phía, nhưng dĩ nhiên phần thiệt thòi nhiều
hơn thuộc về những người vô tội. Tránh được chiến tranh,
không có chiến tranh là mơ ước của tất cả những người
yêu hoà bình, yêu cuộc sống tự do và hạnh phúc của con
người. Làm sao để ngăn ngừa được chiến tranh, làm sao
để nhân loại được sống trong hoà bình đâu phải chỉ
là việc lớn của những nhà tư tưởng, của những lãnh tụ
quốc tế, bởi đó cũng chính là mơ ước, là sự hành động
của tất cả những ai mong muốn có cuộc sống bình yên hạnh
phúc.
Chủ
đề “Phật giáo với việc ngăn ngừa chiến tranh và xây
dựng thế giới hoà bình an lạc” trở thành đề tài hấp
dẫn. Chỉ tiếc rằng, khi tìm hiểu và lý giải mới thấy
rằng, tri thức về Phật học của mình cũng như kiến thức
liên quan tới chủ đề được đặt ra còn kém quá. Trong lúc
đang gặp khó khăn khi tự vận dụng kiến thức nông cạn
của mình về Phật giáo để cắt nghĩa, lý giải cho vấn
đề trên thì thật may được gặp và trao đổi cùng nhà Sư
từ xa về chiêm bái thắng tích Phật giáo ở Yên Tử (Quảng
Ninh).
Nghe
điều tôi thưa, Sư cười và nói đây là vấn đề rất hay.
Để hiểu rõ, cắt nghĩa và thực hành được điều đó,
đòi hỏi phải thấu hiểu triết lý Phật giáo, vì đó là
một trong những vấn đề cốt lõi mà Đức Phật đã đặt
ra từ hơn 2500 năm trước. Sư nói:
“Hiểu
nôm na, chiến tranh là kẻ mạnh xâm lược kẻ yếu, là đánh
nhau, là bạo động giữa lực lượng này với lực lượng
khác; còn giáo lý Phật giáo dạy con người nuôi tâm từ bi,
thực hành hạnh thương yêu con người cùng chúng sinh và thực
hiện cuộc sống bất bạo động như vậy rõ ràng tư tưởng
đạo Phật không ủng hộ hành động bạo động, không chấp
nhận chiến tranh.”
Với
kẻ xâm lược, mục đích gây chiến tranh thì rất nhiều nhưng
tựu trung cũng là mong muốn quyền lực, danh lợi của một
số ít người trong xã hội, nhưng số ít ấy lợi dụng vị
thế, quyền lực, tiền tài… để lôi kéo, kích động đưa
nhiều người vô tội vào các cuộc chiến tranh. Để đạt
tới mục đích, tư tưởng quyền lực, danh, lợi của các
thế lực gây chiến tranh trái hẳn với tư tưởng triết lý
Phật giáo là vô ngã. Vô ngã là không cần quyền lực mà
kẻ mạnh đạt được trên sự cai trị kẻ yếu bằng chiến
tranh, bằng thủ đoạn; không cần danh lợi có được từ
sự tước đoạt và gây đau khổ cho đồng loại. Cái có được
khi đạt tới tâm vô ngã mới thực sự là có tất cả: Bình
an, hạnh phúc, ung dung, tự tại…. Triết lý Phật giáo không
hướng con người đến những sự giàu sang, quyền lực, danh
vọng được đánh đổi bằng chiến tranh và cướp đoạt.
Chiến tranh, cướp đoạt khởi nguyên từ tâm bất an của
kẻ gây chiến, đồng thời nó sẽ tạo sự bất an cho người
bị xâm lược, bị cướp đoạt. Đạo Phật đã chỉ “Tâm
an thế giới an”.
Khi
đã xảy ra chiến tranh, nguyên nhân của nó được tìm thấy
rất nhiều, song có thể quy lại do ganh ghét, đố kỵ, vì
sự bất hoà vốn có hoặc do bị kích động, xúi dục dẫn
đến hiểu sai sự thật. Nhưng nguyên nhân gì đi nữa thì
với kẻ gây chiến đều ẩn chứa sự vô minh bởi xã hội
đã đúc kết: “Hại nhân, nhân hại”. Kẻ gây chiến tranh
do vô minh không hiểu luật nhân quả mà đạo Phật đã chỉ
rõ “nhân nào quả nấy” nên mới gây hại cho người, trước
sau gì kẻ gây tội ác, tạo chiến tranh sẽ gặp quả báo,
đó là sự trừng phạt bởi sự vùng lên của những con người
yêu hoà bình, yêu độc lập tự do. Kẻ gây ác sẽ gặp đúng
với luật “ác giả ác báo”. Để giải quyết tận gốc
nguyên nhân ấy, Phật giáo dạy con người xoá bỏ vô minh
bằng việc nỗ lực tu học để nâng cao nhận thức và thực
hành tâm từ bi để nhận ra mình trong xã hội, điều chỉnh
mình trong cuộc sống vì xã hội, để con người với con người
sống trong thiện chí với nhau, đúng như phương châm đạo
Phật đã nêu “Tâm bình thế giới bình”.
Đối
với chiến tranh, kẻ khởi lòng tham gây chiến sẽ không từ
bất cứ thủ đoạn nào để tranh đoạt, để mưu lợi,
từ chiến tranh bằng súng đạn, chiến tranh tâm lý, chiến
tranh văn hoá, cho tới chiến tranh kinh tế…, và những thủ
đoạn ấy hoàn toàn trái với giáo lý Đức Phật. Phật
giáo không chỉ lên án chiến tranh và bạo động mà còn giáo
hoá con người tu học, thực hành theo Bát Chính Đạo: Nghĩ
đúng, nói đúng, làm đúng… vì cuộc sống an lạc, vì lợi
ích của con người và của chúng sinh, trong đó có lợi
ích của mình.
Phật
giáo với tư tưởng bất bạo động, với phương châm hòa
bình, an lạc là yếu tố cơ bản nhất để không gây
chiến tranh. Trong giáo lý, kinh điển của đạo Phật luôn
nhắc nhở luật nhân quả và hiểu rõ giá trị của cuộc
sống trong hoà bình, hữu nghị, an lạc. Người hiểu về Phật
giáo luôn có tâm lành xem hạnh phúc của người như hạnh
phúc của mình, không bao giờ chỉ vì lợi ích của mình mà
tranh đoạt hay làm hại đến người khác. Triết lý đạo
Phật đã chỉ “Tâm bình thế giới bình”.
Chiến
tranh để lại hậu quả không thể nói hết: Chết chóc, thương
tật, chia ly, khổ đau, di chứng, thù hận… Phật giáo với
tâm từ bi, vị tha, tư tưởng lục hoà luôn là yếu tố tích
cực, góp phần hoá giải, gắn kết những con người, nạn
nhân của cả hai phía lại với nhau, giúp họ hóa giải hận
thù cùng nhau xây dựng cuộc sống trong tình thương yêu của
đồng loại. Hơn rất nhiều lĩnh vực khác chỉ chữa lành
vết thương cơ thể mà bất lực với vết thương tâm hồn,
Phật giáo với tâm từ bi, với lòng khoan dung hỷ xả, đã
trở thành liệu pháp hữu hiệu trong việc chữa lành vết
thương tâm hồn do xung đột của cuộc sống mang lại.
Chính
vì để thăng hoa các giá trị hạnh phúc nhân sinh mà Phật
giáo luôn hướng tới xây dựng một thế giới hoà bình, an
lạc. Thế giới Phật giáo hướng tới là thế giới của
sự đoàn kết, hữu nghị, gắn bó giữa con người với con
người, là thế giới của tình yêu thương trân trọng nhau,
giúp nhau cùng tiến bộ, cùng hướng tới hạnh phúc.
Với
phương châm “Duy tuệ thị nghiệp”, Đức Phật dạy con
người muốn làm nên sự nghiệp phải có trí tuệ, có giác
ngộ. Phật giáo cho rằng chỉ có những gì do trí tuệ và
từ lao động chân chính làm ra mới đáng trân quý, những
gì do thủ đoạn tranh đoạt để có được sớm muộn cũng
tiêu tan. Vì lẽ ấy, Phật giáo hướng tới xây dựng một
thế giới hòa bình phát triển với nỗ lực lao động của
mỗi con người trong sự tự giác và khả năng của họ để
góp phần xây dựng, phát triển xã hội vì sự an lạc
của mọi người trong đó có hạnh phúc của mỗi người.
Với triết lý sâu sắc, xã hội mà Phật giáo đã và đang
góp phần xây dựng, phù hợp với mục tiêu xây dựng một
thế giới mới, tiến bộ mà cộng đồng quốc tế đang hướng
tới. Có phải thế mà Liên Hợp Quốc đã công nhận Lễ Tam
Hợp của Phật giáo là ngày hội văn hoá tôn giáo của thế
giới. Công nhận ấy là sự khẳng định, vinh danh Đức Phật,
vinh danh tư tưởng giáo lý của Ngài, là sự khẳng định
tư tưởng giáo lý của Đức Phật phù hợp với đường lối
của Liên Hợp Quốc, phù hợp xu hướng phát triển của nhân
loại tiến bộ, đó là cùng nhau xây dựng một thế giới
hoà bình hữu nghị cùng phát triển.
Giờ
đây, nhân loại khi đã trải qua quá nhiều những cuộc chiến
tranh, những trải nghiệm khổ đau không ít, song lòng tham và
sự ham muốn của một bộ phận người sân hận vẫn đang
là nguyên nhân của nhiều cuộc tranh dành đẫm máu, để rồi
mãi gieo rắc hậu quả tang thương khôn lường cho người vô
tội. Trước bối cảnh ấy, thế giới có nhiều cách tác
động để ngăn ngừa, giải quyết xung đột, chiến tranh.
Một trong những giải pháp về tư tưởng giáo dục là đề
cao tư tưởng hoà bình, hữu nghị của đạo Phật, giáo dục
và hướng con người tới việc hành động vì sự bình yên,
hạnh phúc của mỗi con người, lấy đó làm mục tiêu phấn
đấu chung cho xã hội văn minh.
Để
tư tưởng triết lý Đức Phật thành hiện thực, để thế
giới không còn chiến tranh và mọi người được sống trong
hoà bình an lạc. Trước hết, những người con Phật phải
đoàn kết để tỏ rõ sức mạnh của sự nhận thức và hành
động trong xây dựng cuộc sống tương thân, tương ái và
an lạc. Phải chứng minh cho thế giới thấy rằng, không có
hạnh phúc nào bằng hạnh phúc có được cuộc sống trong
hoà bình an lạc, không có trí tuệ nào vượt qua trí tuệ
phục vụ mục tiêu cao cả vì hạnh phúc của con người và
chúng sinh. Chỉ có xây dựng thế giới hoà bình an lạc mới
mong con người hết sân hận, tham lam. Và như vậy, cái cội
nguồn của chiến tranh cũng không còn để mà phát tác.
Phải
chăng vì thế mà Việt Nam đăng cai tổ chức đại lễ Phật
đản Liên Hợp Quốc năm 2008. Nước đăng cai tổ chức Đại
lễ Phật đản, trước hết là ủng hộ chủ trương của
Liên Hợp Quốc, nhằm hướng tới việc xây dựng thế giới
hoà bình, an lạc, sau đó là sự khẳng định với các nước
bè bạn rằng, Việt Nam cam kết với các nước, sẽ cùng nhau
xây dựng mối quan hệ hữu nghị hợp tác, tôn trọng nhau
vì một nền hoà bình, bền vững của mỗi nước.
Vị
sư già ngừng nói, mắt nhìn tôi như muốn hỏi đã hiểu chưa?
Tôi
chắp tay, nói lời cám ơn, xin từ giã vì biết nhà sư không
có nhiều thời gian, bởi Yên sơn nhiều nơi Sư còn cần phải
tới. Trong ráng chiều Yên Tử, bóng áo nâu dần khuất sau
rặng trúc xa xa.
Chia
tay nhà sư, tôi thấy thấm thía về những điều nhà sư đã
nói. Nôm na mà ý tứ thật cao sâu. Những điều nhà sư nói
thì sâu sắc mà sự hiểu biết của tôi còn nông cạn, việc
chép lại có thể chưa thể hiện hết được tư tưởng sâu
sắc của Sư. Song tôi xin được chép ra để tỏ lòng mình
và cũng mong góp phần để những người quan tâm mà chưa hiểu
như tôi cùng biết, dù không nêu hết ý sâu xa cũng tỏ rõ
sự thành tâm, với mong ước thế giới hoà bình để mọi
người được sống trọn vẹn trong an vui, hạnh phúc.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.