DIỄN
VĂN, THUYẾT TRÌNH VÀ THAM LUẬN
XUNG ĐỘT
VÀ GIẢI PHÁP PHẬT GIÁO
TTTS.
Thích Tâm Đức
Giảng
viên, Học viện PGVN
 |
 |
Xung
đột là chuyện thường tình ở bất cứ nơi đâu và ở bất
cứ khi nào. Nó thường xảy ra trong mỗi con người, mỗi gia
đình hay trong một phạm vi lớn – giữa những sắc tộc hay
giữa những quốc gia; và mỗi khi như vậy thì nó dẫn đến
khổ đau hay thậm chí đưa đến tận thế! Vì vậy, xung đột
là một vấn đề lớn của nhân loại và một giải pháp về
nó là một điều phải được đề ra.
Trong
đạo Phật, xung đột – có nguồn gốc từ những hý luận-vọng
tưởng – được xem là một pháp hữu vi và bất thiện, và
nó cần phải được chuyển hoá. Trong 45 năm thuyết pháp của
Ngài, Đức Phật tuyên bố rõ ràng về hai điều: khổ và
diệt khổ. “Ồ các tỷ kheo, xưa cũng như nay, Ta chỉ thuyết
giảng về khổ và diệt khổ.”[1]
Trong
bài pháp đầu tiên tại Ba La Nại cách nay khoảng hai nghìn
năm trăm năm, Đức Phật chỉ ra nguyên nhân của khổ đau
chính là tham ái hay sâu xa là tà kiến. Ở một bài pháp khác,
Ngài dạy rằng, một người trí không còn hý luận-vọng tưởng
thì không có tranh chấp với một ai ở đời:
“Này
các tỷ kheo, dù bất kỳ nguyên nhân nào khiến hý luận vọng
tưởng tấn công một người mà người ấy không hoan hỉ,
không chào đón, không nắm giữ thì ở đấy có sự đoạn
tận của những tuỳ miên: tham, sân, kiến, vô minh, chấp gậy,
chấp kiếm, tranh cải, tranh chấp, xung đột, xung khắc, buộc
tội, phỉ báng, nói dối. Bằng những cách này thì những
trạng thái ác, bất thiện được chấp dứt không còn dư
tàn.”[2]
Một
thái độ như vậy sẽ dập tắt mọi tranh cải, tranh chấp,
chiến tranh và tất cả những pháp bất thiện. Lời dạy của
Ngài đã được khéo giải thích bởi Ca Chiên Diên, một đệ
tử của Ngài, như sau:
“Nhãn
thức khởi lên do mắt và sắc; sự gặp gỡ của ba pháp này
là xúc, rồi xúc duyên sinh cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng;
tưởng duyên sinh suy tư; suy tư duyên sinh hý luận-vọng tưởng,
rồi chúng tấn công một người thấy sắc trong quá khứ,
trong tương lai, trong hiện tại. Và nhĩ thức khởi lên do tai
và tiếng … Và tỉ thức khởi lên do mũi và hương … Và
thiệt thức khởi lên do lưỡi và vị … Và thân thức khởi
lên do thân và xúc … Và ý thức khởi lên do tâm và tâm pháp.
Sự gặp gỡ của cả ba pháp này là xúc, rồi xúc duyên sinh
cảm thọ; cảm thọ duyên sinh tưởng; tưởng duyên sinh suy
tư; suy tư duyên sinh hý luận-vọng tưởng, rồi chúng tấn
công một người ý thức tâm pháp trong quá khứ, trong tương
lai, trong hiện tại.”[3]
Ca
Chiên Diên cũng thêm rằng khi không có sự gặp gỡ của ba
pháp thì không có sự tấn công của hý luận-vọng tưởng.
Và
những ai bị hý luận-vọng tưởng sai khiến thì có tà kiến.
Đức Phật nói rằng, thế giới thường đặt quan điểm của
mình vào hai điều, hiện hữu và không hiện hữu. “Có”
là một thái cực; “không có” là một thái cực khác. Do
tham đắm chúng mà thế giới bị trói buộc. Vị thánh giả
siêu việt cái giới hạn của sự tham đắm này. Tránh xa hai
thái cực, Như lai thuyết giảng Pháp Trung đạo, theo đó mà
chân lý được tìm thấy:
“Này
Ca Chiên Diên, phần đông thế giới bị trói buộc bởi sự
tiếp cận, sự nắm giữ và thiên hướng. Và người không
theo đuổi sự tiếp cận và nắm giữ đó, sự quyết định
của tâm đó, sự thiên hướng và tánh khí đó, người ấy
không khư khư với quan điểm của mình: ‘Đây là của tôi.’
Vị ấy nghĩ: ‘khổ do duyên sinh đang khởi lên; khổ do duyên
diệt đang chấm dứt.’ Một người như vậy sẽ không còn
nghi ngờ, không còn giao động. Ở đây, nhận thức của vị
ấy không bị phan duyên. Do vậy, này Ca Chiên Diên, có ‘chánh
kiến.’
‘Các
pháp hiện hữu,’ – đây, Ca Chiên Diên, là một cực đoan.
‘Các
pháp không hiện hữu,’ – đây, Ca Chiên Diên, là một cực
đoan thứ hai.
Này
Ca Chiên Diên, không tiếp cận cả hai cực đoan, Như lai giảng
cho ngươi về học thuyết Trung đạo.”[4]
Pháp
ấy, theo Long Thọ (Nāgārjuna) – nhà tư tưởng và diễn giảng
hàng đầu của Phật giáo, được gọi là Śūnyatā (không
tánh). Theo ngài, không-tánh có nghĩa là các pháp bất khả
đắc (aprāptvya-śūnyatā). Các pháp hiện hữu một cách tạm
thời và không có gì là thường hằng theo luật Duyên sinh
(Pratītyasamutpāda). Hiện hữu chỉ tạm thời và không cố
định. Ngay cả không hiện hữu cũng chỉ tạm thời và không
cố định. Vì vậy, cả hai đều không thực hữu và không
thực không. Phủ định những tà kiến và tham đắm vào bất
cứ cái gì kể cả hai cực đoan là Trung đạo (Madhyamāpratipad).
Chỉ có phủ định và phủ định mới có thể đưa đến
đích Tuyệt đối, Chân lý hay Niết bàn (Nirvāṇa). Và, đó
chính là thuyết Bát bất do ngài đề ra trong bài kệ mở đầu
của Trung-luận (Mūlamadhyamakakārikā) như sau:
“Tôi
đảnh lễ Bậc Toàn giác,
Vị
đạo sư tối thượng đã dạy,
Lý
duyên sinh,
Niềm
vui diệt tận mọi kiến chấp thế gian,
[Ở
đó, mỗi sự việc được ‘đánh dấu’ bằng]:
Không
sinh, không diệt,
Không
đoạn, không thường,
Không
nhất, không dị,
Không
đến, không đi.”[5]
Cái
Tuyệt đối là không-tánh và tất cả mọi thứ là không tánh.
Tuy nhiên, thật không đúng khi xem không tánh như là một loại
Tuyệt đối hiện diện đằng sau hoặc như là một thứ làm
nền tảng cho thế giới hiện tượng, vì “Niết bàn (Nirvāṇa)
không khác với sinh-diệt[6].”[7] Nó không một chút gì là
một thực tại riêng biệt cả. Đến đây, không tánh có nghĩa
là không quan điểm hay không học thuyết; ngay cả Tứ diệu
đế (Cattāri-āriyasaccāni) – bài pháp đầu tiên của Đức
Phật, cũng không đúng về phương diện tuyệt đối. Chân
lý tuyệt đối thì không duyên với bất cứ gì khác; nó là
thật một cách rốt ráo.
Trong
thời hiện đại, mọi xung đột đều dẫn đến khổ đau.
Tệ nhất là dẫn đến một cuộc chiến tranh hạt nhân hay
một thứ tương tự được thực hiện bởi những vọng tưởng
bất thiện và nó là một công cụ bạo tàn nhằm gieo rắc
khổ đau cho toàn nhân loại, huỷ diệt mọi sự sống trên
hành tinh của chúng ta. Là những Phật tử Việt Nam, chúng
tôi làm hết sức mình để khởi động bánh xe hoà bình bằng
sức mạnh đoàn kết với đồng bào chúng tôi trong bổn phận
bảo vệ và tái thiết tổ quốc của chúng tôi. Chúng tôi
làm việc để mở rộng mặt trận đoàn kết của chúng tôi
với mọi dân tộc trên thế giới, tạo những điều kiện
để phát triển sự hợp tác hữu nghị và chung sống hoà
bình để tham gia vào một nỗ lực chung hầu tạo thêm những
khu vực phi hạt nhân trên toàn thế giới và bảo vệ sự
tồn tại của toàn thể nhân loại.
Hơn
bao giờ hết, Phật tử Việt Nam khắc sâu lời dạy sau đây
của Đức Phật, vị Đại đạo sư:
“Chiến
thắng sinh thù oán,
Thất
bại chịu khổ đau,
Sống
tịch tịnh, an lạc,
Bỏ
sau mọi thắng bại.”[8]
Để
xây dựng một cảnh giới Niết bàn ngay trên cuộc đời này,
nên bắt đầu từ đâu? – Từ chính mỗi người. Nếu không
có con người lành mạnh thì làm sao chúng ta có thể mong đợi
một mối quan hệ xã hội lành mạnh tốt đẹp về mặt đạo
đức. Nếu những tư tưởng tánh không hay bất nhị (advayatā)
ngược với những hý luận, vọng tưởng không thấm sâu vào
nội tâm của mỗi con người thì làm sao chúng ta mong có được
một thế giới an vui và hoà hợp thật sự.
[1]
Majjhima-nikāya, I, 140.
[2]
Ibid., 109-110.
[3]
Ibid., 111-112.
[4]
Saṃyutta-nikāya (Tương ưng bộ kinh), II, tr. 17.
[5]
Mūlamadhyamakakārikā by Nāgārjuna, trans. Kenneth K. Inada, Sri Satguru
Publications, Delhi, 1993, pp. 38-39.
[6]
Sinh diệt hay Ta bà (Saṃsāra) hay hiện tượng giới.
[7]
M. K. 25, 19.
[8]
Kinh Pháp cú (Dhammapada), 201.
(http://vesakday2008.com/indexnew.html)
Trở
Về Mục Lục: Diễn
Văn, Thuyết Trình và Tham Luận.