Quyển
thứ hai
(3
nước)
Tam
Tạng Pháp Sư Huyền Trang phụng chiếu Vua dịch
Chùa
Đại Tổng Trì, Sa Môn Biện Cơ soạn
1.
Nước Lam Bà
2.
Nước Na Yết La Yết
3.
Nước Kiền Đà La
Những
nước này thuộc về Ấn Độ; nhưng lễ nghĩa phong tục khác
nhau. Nên có thể nói là riêng biệt. Hoặc nói là: Hiền Đậu.
Đây dịch theo âm gọi là Ấn Độ. Người người tuỳ theo
đó mà xưng là người Ấn Độ. Do những phong tục khác nhau
mà có tên gọi khác nhau. Tiếng gọi Ấn Độ này có nghĩa
là: Tốt đẹp. Đời nhà Đường gọi Ấn Độ có nhiều tên
khác nhau. Nhưng có một tên xưng gọi nghĩa là mọi loài bị
luân hồi không gián đoạn. Vì vô minh tăm tối nên chưa ra
khỏi nơi này. Giống như mặt trời chiếu sáng làm tỏ rạng
chỗ tối tăm. Tuy có ánh sáng ngôi sao chiếu đó. Há làm sao
sáng bằng được ánh sáng mặt trăng? Vì nhân duyên ấy nên
ở đây dụ cho mặt trăng là điều tốt đẹp, mà với đất
nước này Thánh hiền tương tục xuất hiện như ánh sáng
mặt trăng rọi soi. Do ý nghĩa nầy mà có tên là Ấn Độ.
Ấn Độ được chia ra nhiều dân tộc và chủng loại khác
nhau. Nhưng Bà La Môn vẫn là một giai cấp cao quý, mà từ
tục lệ đã biến thành như vậy. Trải qua nhiều thời gian
sai khác, gọi chung là nước Bà La Môn.
Nếu
nói về lãnh vực biên giới, có thể nói rằng chung quanh Ấn
Độ có năm nước và chu vi rộng hơn 90.000 dặm. Ba bên đều
có biển. Phía bắc giáp Hy Mã Lạp Sơn. Phía bắc rộng phía
nam hẹp. Hình dạng như mặt trăng khuyết. Trong đó còn chia
ra hơn 70 nước nữa. Đa phần thuộc về nhiệt đới. Đất
đai có nhiều suối nước nóng. Phía bắc có nhiều núi đồi.
Phía đông có sông ngòi và ao hồ. Phía nam cây cỏ tốt tươi.
Phía tây đất đai phì nhiêu. Đại khái xin lượt qua như vậy.
Đại
đa số được gọi là Du Thiện Na. Du Thiện Na có nghĩa là
từ xưa các vị Thánh Vương mỗi ngày đều đi du hành. Theo
truyện cổ một Du Thiện Na hơn 40 dặm. Theo phong tục của
nước Ấn Độ chỉ có 30 dặm. Theo giáo lý viết chỉ có
16 dặm. Cuối cùng phân tích một Du Thiện Na là tám Câu Lô
Xá (Krosa - theo Tỳ Đàm Luận: bốn gang tay là một cung, 500
cung là một Câu Lô Xá, là hai dặm, tám Câu Lô Xá là một
Do Tuần tức 16 dặm). Câu Lô Xá có nghĩa là tiếng rống của
con bò có thể nghe được (năm dặm) nên xưng là Câu Lô Xá.
cũng có định nghĩa khác: một Câu Lô Xá là 500 cung. Một
cung là bốn Mạch. Một Mạch chia làm 24 Chỉ. Một Chỉ tức
là bảy hạt lúa. Cho đến gọi là Lông bò, lông dê, sừng
thỏ, nước đồng, cũng còn gọi 7 phần này là một Vi trần.
Vi trần chia ra làm 7 phần nhỏ nữa gọi là Cực vi trần.
Cực vi trần thì không thể chia thêm nhỏ nữa. Nếu chia thêm
sẽ trở về không. Cho nên gọi là cực vi vậy. Cũng có lịch
âm dương đối chiếu theo ngày tháng, xưng gọi là đặc thù
không khác. Tuỳ theo ngôi sao mà định hướng của tên tháng.
Thời gian ngắn nhất gọi là sát na. 120 sát na làm một Đản
Sát Na. 60 Đản Sát Na thành một Thử thần. 30 Thử thần là
một Mâu Hồ Phiêu Đa. Năm Mâu Hồ Phiêu Đa là một giờ.
Sáu giờ thành một ngày một đêm. Nhưng cũng có nơi chia ra
mỗi ngày đêm có tám giờ. Đầu tháng cho đến giữa tháng
là tháng trắng. Giữa tháng có trăng cho đến tháng cuối gọi
là tháng đen. Phần đen là trước ngày 14 và 15. Trăng thì
có trăng già và trăng non. Có trăng và không trăng (trắng và
đen) hợp thành một tháng. Sáu tháng như vậy là một hành.
Mặt trời đi bên trong gọi là bắc hành, mặt trời đi bên
ngoài gọi là nam hành. Tổng cộng có 2 hành hợp lại thành
1 năm. Mỗi năm chia ra làm 6 mùa. Từ 16 tháng giêng đến 15
tháng 3 là mùa ít nóng. Từ 16 tháng 3 cho đến 15 tháng 5 là
mùa nóng nhất. Từ 16 tháng 5 cho đến 15 tháng 7 là mùa mưa.
Từ 16 tháng 7 cho đến 15 tháng 9 là mùa tạnh. Từ 16 tháng
9 đến 15 tháng 11 là mùa ít lạnh. Từ 16 tháng 11 đến 15
tháng giêng là mùa thật lạnh. Giáo lý của Đức Như Lai chia
ra làm 3 mùa. Từ 16 tháng giêng đến 15 tháng 5 là mùa nóng.
Từ 16 tháng 5 cho đến 15 tháng 9 là mùa mưa. Từ 16 tháng 9
đến 15 tháng giêng là mùa đông. Hoặc cũng có nơi gọi 4
mùa, gọi là xuân, hạ, thu, đông. Mùa xuân có 3 tháng. Gọi
là tháng Đản La, tháng Phục Khá Xứ, Kỳ Sắt Ngỏa.
Những tháng này từ 16 tháng giêng đến 15 tháng tư. Mùa Hạ
có 3 tháng, đó là tháng Loại Sa Trà, tháng Thất La Phiệt
Nô, tháng Bà La Bát Đa. Những tháng này từ 16 tháng 4 đến
15 tháng 7. Mùa thu có 3 tháng. Đó là tháng An Ổn Thần Phố
Xà, tháng Ca Sắt Vệ Ca, tháng Vị Già Thỉ La. Những tháng
này từ 16 tháng 7 đến 15 tháng 10. Trong ba tháng mùa đông
gồm có: tháng Vị Báo Xa, tháng Ma Khứ và tháng Loại Lặc
Thê Nô. Những tháng này từ 16 tháng 10 đến 15 tháng giêng.
Cho nên Tăng tín đồ của Ấn Độ theo lời Phật dạy, họ
có hai mùa an cư. Hoặc trước 3 tháng hoặc sau 3 tháng. Trước
3 tháng có nghĩa là từ 16 tháng 5 đến 15 tháng 8. Sau 3 tháng
có nghĩa là từ 16 tháng 6 cho đến 15 tháng 9. Chữ Tiền được
dịch nghĩa theo Kinh luật hoặc gọi là một Tọa Hạ hay một
Tọa Lạp (một tuổi đạo). Đây là những tục lệ cổ. Chẳng
giống với Trung Quốc về âm vận hoặc phương ngôn khi chuyển
dịch ra như vậy. Cho nên sự nhập thai của Đức Như Lai cũng
như Đản Sanh, Xuất Gia, Thành Phật, Nhập Niết Bàn, ngày
giờ đều có sự sai khác. Nguyên nhân như sau.
Phàm
chỗ ở, làng mạc, thành ấp cho đến phố xá, thị thành,
do trải qua địa bàn mà tạo nên đường xá rộng hẹp. Có
người ở chỗ cao ráo đẹp đẽ. Có người ở chỗ ô uế
tạp cư. Những kẻ sống bên ngoài đi đứng qua lại thành
phải trái. Từ chỗ ở đó chế tạo ra những công việc thành
thục. Do địa thế và khí hậu khác nhau mà thành. Cho nên
làm tường hoặc bằng tre gỗ hoặc bằng những loại gạch
nhiều hồ than. Tất cả những khác biệt đó ở trong mùa
hạ. Những loại bằng cỏ bằng mây tạo nên những tấm thảm
để trang sức trên những bức tường bằng đá bằng than.
Dưới đất có trải phân bò cho là sạch, có lúc rải hoa
lên đó; nên có điều khác lạ. Mà ở các chùa thường không
làm như vậy. Các chùa thường làm 4 lầu 3 từng. Trên nóc
có đòn dông chạm khắc nhiều hình tướng. Trên tường có
những bức hoạ đồ nhiều màu sắc khác nhau mà thứ dân
thì không như thế. Phòng ở giữa cao lớn rộng hơn. Tầng
thứ nhì có khắc các hình tướng không giống nhau. Cửa thường
hướng về đông. Buổi sáng ngồi xoay mặt về hướng đông
cho đến ngủ nghỉ thì dùng thằng sàng (giường dây) để
ngủ.
Vua
chúa, trưởng giả, thứ dân có sự khác nhau. Những sự trang
sức có quy củ và không sai biệt mấy. Nơi chỗ ngồi của
quân Vương thường cao rộng. Đặc biệt thường ngồi trên
tòa sư tử, được làm bằng những loại trân bảo. Hàng trăm
loại quý giá được điêu khắc khác nhau nơi y phục cũng
như đồ mặc. Rõ ràng có sự sai khác rất nhiều. Phía người
nam mặc đồ bao bọc chung quanh qua phía vai hữu. Người nữ
mặc kín đáo hơn. Ở trên đầu có để tóc ngắn. Hoặc có
dấu hiệu khác tục. Cổ thì choàng hoa tươi, thân hình thì
đeo anh lạc. Đây là những y phục kiều diễm làm bằng vải
và những đồ trân quý cũng như bằng lụa hoặc bằng vỏ
cây. Cũng có khi bằng loại gai hoặc bằng vải cũng như lông
dê. Những y phục đặc biệt được làm bằng lông thú. Lông
chim đẹp cũng là một loại y phục trân quý vậy. Ở phía
bắc Ấn Độ phong thổ lạnh lẽo nên y áo được chế biến
khác hơn. Bên ngoài được mặc thêm nhiều áo khác nhau giống
như lông con chim khổng tước hoặc trang sức những anh lạc.
Hoặc chẳng để lộ hình. Hoặc lấy cỏ mây che thân thể.
Hoặc cạo tóc hoặc bới đầu. Những loại thể như thế
không có định hướng cũng như màu sắc khác nhau. Pháp phục
của Sa Môn chỉ có ba y và Tăng Khước Kỳ cũng như Nê Thần
Thử La. Ba y cũng được cấu tạo không giống nhau. Hoặc ngắn
dài rộng hẹp, hoặc lớn nhỏ khác nhau. Tăng Khước Kỳ vai
trái rộng, hai bên trái mở ra, bên phải đóng lại để bao
bọc lên người. Nê Thần Thử La (Niết Bàn Tăng) không có
dây cột giống như áo. Tất cả đều tính thành một bộ
y mà mỗi bộ đều khác nhau, màu sắc vàng đỏ cũng không
giống nhau. Sát Đế Lợi Bà La Môn sự ăn ở cũng khác nhau.
Quốc vương đại thần ăn mặc đẹp lạ. Hoa cài tóc, cổ
trang sức gồm nhiều đồ anh lạc để hoá trang. Trong ấy
cũng có nhiều thương gia giàu có làm như vậy. Người người
có nhiều khác biệt như tục nhuộm răng hoặc đỏ hoặc đen.
Tóc, răng, tai, mũi mắt cũng đều làm đẹp như thế.
Tất
cả cũng chỉ mục đích làm cho đẹp và trong sạch. Phàm ăn
uống, trước tiên có tẩy rửa, phải dùng rượu và dùng
những chén bát khác nhau. Cũng có dùng chén bát bằng vàng,
bằng bạc, bằng đồng. Ở trong những trường hợp ăn uống
như thế tăm xỉa răng cũng cốt làm sạch. Nước súc miệng
cũng không là điều chấp trước. Mỗi khi tắm rửa thường
dùng hương thơm của lá cây hay bằng bột trầm, bột nghệ.
Khi quân vương tắm thì âm nhạc trổi lên, ca hát tế lễ
rất là hưyên náo.
Chữ
nghĩa rõ ràng. Do Phạm Thiên chế ra gồm 47 chữ. Nhờ vào
những vật hợp thành mà trở nên chuyên dụng. Rồi phát triển
rộng ra. Đây là nguyên nhân vậy. Rồi từ đó người địa
phương cải biến lại. Ngôn ngữ nầy sau nầy cũng có sự
thay đổi từ bổn gốc mà lấy Trung Tâm Ấn Độ làm tiêu
chuẩn, để điều hòa tiếng Phạn rõ ràng hơn. Vần đọc
thanh cao lấy người làm quy tắc. Những nước khác lân cận
cũng được giáo dục thành thục như thế. Có sự cạnh tranh
muốn bảo toàn thuần phong mỹ tục. Cho nên trong những thơ
văn lời nói vẫn còn tồn tại. Sử chép rằng gọi chung những
điều như thế là Ni La Tế Trà. Tốt, xấu đều do nơi đây
mà ảnh hưởng vậy, mà mở ra 12 chương tốt đẹp để chỉ
đạo. Sau bảy tuổi thì lãnh thọ Ngũ Minh Đại Luận
- Một
là Thanh Minh, giải nghĩa những chữ huấn dụ. Chú giải những
mục sớ văn.
-
Hai là Công Xảo Minh là những cơ quan kỹ thuật và lịch âm
dương đối chiếu
-
Ba là Y Phương Minh. Cấm chỉ những tà thuật về thưốc men
có ngải bằng đá kim
-
Bốn là Nhơn Minh, khảo sát việc chánh tà nghiên cứu tìm
chơn ngụy
-
Năm là Nội Minh, nghiên cứu về diệu lý nhân quả, ngũ thừa.
Đây
là bốn luận Vệ Đà của Bà La Môn:
- Thứ
nhất là Thọ, nghĩa là duỡng nuôi tánh thiện,
-
Thứ hai là Từ nghĩa là tế tự cầu nguyện
-
Thứ ba là Bình, nghĩa là lễ nghi binh pháp quân trận
-
Thứ tư là Thuật, nghĩa là dùng y học để đối lại với
những ma chú.
Vị
Thầy bắt buộc phải nghiên cứu rộng rãi tinh vi ý nghĩa
nầy. Để minh thị ý nghĩa dẫn đạo to lớn trong lời nói
tế nhị. Đề cao những việc thiện khắc ghi vào danh bạ.
Nếu mà ý thức được nhiều thì sẽ làm nguyên tắc sống
rõ. Thành sự học nghiệp phải trải qua ba mươi năm. Lúc
đó chí nguyện mới đạt thành. Mới có thể hưởng lộc
đầu tiên về đạo đức của một vị Thầy. Cho nên đây
là sự chiếm cứ tốt đẹp nhất của việc biết rộng vậy.
Đây là sự biểu hiện của những vật bên ngoài chìm nổi
thay đổi, đây là sự chịu đựng không sợ tai tiếng từ
xa. Nếu nhà vua có tà vạy, chưa thể khuất phục được,
nhưng vì việc nước là trọng thì phải thông qua tập tục
cao sáng đó. Đồng thời cũng tán thành mệnh lệnh của long
thể là trọng yếu. Cho nên có thể có ý chí mãnh liệt để
học hỏi, quên đi những nghề nghiệp đi xa mệt mỏi. Sự
tìm đạo phải nương theo lý lẽ nhân nghĩa không quá xa hơn
ngàn dặm. Nhà tuy giàu mà có ý chí ra đi, đầu óc rõ ràng.
Quý trọng để biết đạo chứ không xấu hổ để tham tài.
Vui chơi đoạ nghiệp vào sự ăn mặc. Chẳng phải vì đức
hạnh lại chẳng thực tập, vì sự sỉ nhục đến tạo nên
tai tiếng cao xa, như giáo lý của đức Phật tuỳ loại mà
được thành tựu. Đến Thánh quả của chánh pháp kia còn
xa vời trách nhiệm nghe thấy giải thích đều do tâm nầy
vậy. Nghe biết thực hành để được ngộ đạo. Chấp trước
tranh luận để làm sáng tỏ. Những môn học chuyên môn khác
làm cho thấy rõ sự sai biệt. Mười cõi, tám loài mỗi mỗi
đều rõ ràng. Đại Thừa, Tiểu Thừa hai giáo đều có sự
riêng biệt; nơi đây đều có sự yên tĩnh tư duy qua sự đi
đứng nằm ngồi. Định tuệ lắng yên sự tranh tụng. Tùy
theo điều nầy mà đại chúng được chế ra để phòng ngừa
không thể cho rằng Luật Luận Kinh là kinh Phật
- Bộ
thứ nhất, tuyên dương, không cần tri sự tăng
-
Bộ thứ hai, tăng thêm tư liệu phòng ốc
-
Bộ thứ ba, sai bảo thị giả cung kính phụng thờ
-
Bộ thứ tư, cho người tịnh hạnh nhơn việc làm
-
Bộ thứ năm, đi theo xe voi
-
Bộ thứ sáu, dẫn đường theo sau.
Lấy
đạo đức đầu nêu cao tánh mệnh, cho nên tập họp để
khảo sát những giảng luận nầy về ưu khưyết điểm phân
biệt thiện ác mà có đen trắng sáng tối. Trong nầy cũng
có sự bàn bạc tế nhị để đề cao Diệu Lý. Những ngôn
từ tốt đẹp cũng được triển khai. Đây là bảo tượng
cao quý để chỉ đạo như vào trong rừng vậy. Cho đến ý
nghĩa hư vọng cũng được chỉnh đốn. Lý giải rõ ràng,
nghĩa lý phù hợp với lời nói, tức tùy theo sự hợp nhất
giống như đất ở trên tường. Hoặc giả, phải ở nơi tịch
tịnh để biểu hiện tánh hiền thuận. Người ta biết rằng
vui theo niềm đạo là điều được khuyến thỉnh để học
hỏi. Người xuất gia trở lại đời cũng được gọi là
tốt. Tuy nhiên khi còn ở trong Tăng bị phạm luật thì phải
bị phạt. Không thể khinh xuất mệnh lệnh của chúng tăng
được. Lại ở trong chúng không được nói, cũng không được
cùng chúng ở chung, không được cùng chúng ăn cơm, đi ra khỏi
trụ xứ phải sống biệt trụ, để phản tĩnh lại việc
làm sai trái đầu tiên của mình. Nếu mà nói về chủng tộc
có bốn loại như sau:
- Thứ
nhất, Bà La Môn, là những kẻ tịnh hạnh, giữ đạo trinh
khiết, tiết tháo.
- Thứ
hai, Sát Đế Lợi, là những kẻ nắm vương quyền, là những
bậc nhân chủ trong đời, lấy nhân đức làm chí nguyện
- Thứ
ba, Phệ Xá, là những kẻ buôn bán làm giàu do sự buôn bán
gần xa.
- Thứ
tư, Thủ Đà La, là những kẻ nông dân, đem sức lực của
mình siêng năng làm việc nhà cửa. Phàm tất cả đều do bốn
chủng tộc nầy mà lưu hành.
Về
việc hôn phối thì không được vượt qua những giai cấp
đó. Nội ngoại gia tộc được cấu thành không phức tạp,
người lấy chồng không được tái giá. Nếu không sẽ bị
khai trừ ra khỏi tộc đó. Mỗi chủng tộc đều có mỗi tục
lệ khác nhau, khó có thể tường lãm hết. Quân Vương trị
thế ở đời chỉ có dòng Sát Đế Lợi. Họ được xưng
là cao quý trên các tộc khác; nhưng lính tráng của nước
nhà được tuyển chọn khác nhau. Cha con chuyên nghiệp cùng
theo binh thuật, ở nơi cung điện để phòng vệ. Ra đi chinh
phục được cử đi trước. Phàm trong bốn loại binh, thì
có bộ binh, mã binh, xa binh và tượng binh. Voi được điều
khiển bởi những người nài, một tướng ngồi lên đó, hai
bên tả hữu có quân lính đi theo ngự giá gồm xe tứ mã.
Binh tướng theo hầu, cận vệ hai bên để phù trợ xe vua.
Quân cỡi ngựa chia ra hộ tống. Phía bắc quân đi bộ là
những kẻ dũng sĩ được tuyển chọn cầm theo giáo mác dài
và giữ những dao kiếm đi kề. Phàm những khí cụ như thế
đều được vót nhọn. cũng gồm có cung tên, dao kiếm, búa
lớn, búa nhỏ, giáo mác dài cùng theo xe . Tất cả đều để
biểu dương uy thế. Phàm làm như vậy là tục lệ, biểu hiện
tính chất mạnh mẽ cấp thời chiếm lĩnh, không được cẩu
thả, để có nghĩa là bảo hộ. Nếu không thì phải bị tội
khinh thường sự sống là nghiệp vậy. Ngụy trang những việc
làm ấy để trở thành ngụy tín. Chính sách giáo dục phong
tục phải điều hòa tốt xấu. Những kẻ hung dữ bị luật
pháp quốc gia trừng trị. Có ý mưu hại làm nguy đến Quân
Vương, làm chướng ngại v.v..những việc như thế đều bị
hình phạt. Vì sự sanh tử chẳng kể nhân luân. Phạm vào
lễ nghĩa nghịch lại trung hiếu bị xẻo mũi, cắt tai, chặt
tay, và chặt chân. Hoặc đuổi ra khỏi nước. Hoặc phóng
thích nhưng bị phạm vào tội ăn cắp tài sản, đa phần bị
ở tù cũng như những hình phạt khác, tùy theo vấn đề mà
đối sách sự việc để giải quyết. Nếu kẻ phạm tội
quá sức mà muốn làm rõ sự thật thì phải theo án lệnh.
Trong đó có bốn điều: dùng nước lửa để trị tội, tội
nhân bị bỏ vào nước cùng với đá, khi chìm rồi, nhận
sâu xuống mới biết đúng sai. Khi chìm rồi, lấy đá đè
lên phạm nhân. Nếu người nổi đá chìm không ổn. Dùng lửa
bằng cách đốt cột đồng để tội nhân leo lên đó. Hoặc
đốt nơi chân để hỏi cung. Hoặc đưa vào lưỡi. Nếu không
có tội không sao, nếu có thì bị tổn thương. Có bị thương
tích hay không do sự thật hư mà có. Kẻ nhu nhược không chịu
nổi lửa cháy mạnh. Cây chưa phát hoả, thì sẽ bị cháy
sém. Kẻ thật hư sẽ bị hoa lửa kia đốt cháy. Đây gọi
là người bị đá đe nặng nhẹ. Kẻ hư ngụy sẽ bị đá
đè lên người. Độc thủ hơn là cho một con dê mang đá đến
chỗ tra khảo và người bị kiện cho uống thuốc độc, kẻ
xử phạt bắt người đó phải chết. Kẻ hư ngụy sẽ bị
chất độc làm hại. Đây là đơn cử bốn điều đã nói
để phòng hờ trăm việc trái.
Cho
đến nghi thức cung kính cũng có chín nghi lễ. Thứ nhất là
nói lời an ủi. Thứ hai là cúi đầu cung kính. Thứ ba là
giơ tay cao chào. Thứ tư là chắp tay ngang ngực. Thứ năm là
quỳ gối. Thứ sáu là chân để duổi ra. Thứ bảy là tay
duổi thẳng ra đất. Thứ tám là năm luân đều cong. Thứ
chín là năm vóc đều gieo xuống đất. Phàm chín việc này
đều phải cung kính. Đây là cái đức cao cả, tận lực cung
kính tán thán. Về phía xa hơn nữa thì phải cúi đầu chấp
tay. Về phía gần thì chân phải quỳ gối. Phàm nói năng phải
nương vào lệnh trên. Tôn trọng bậc hiền thánh, thọ nhận
sự lễ bái tất có sự an ủi. Hoặc cọ sát nơi đầu. Hoặc
vỗ về nơi lưng. Lời nói diệu hiền mẫn cảm hướng dẫn
minh thị chỗ thân thiết nồng hậu. Xuất gia làm Sa Môn được
thọ nhận sự kính lễ. Chỉ có thêm nguyện tốt không dừng
lại sự lễ bái. Tùy theo công việc của Tông môn có nhiều
khác biệt. Hoặc chỉ một lần. Hoặc hai ba lần. Tâm niệm
ấy do sự cầu thỉnh riêng mà được.
Phàm
khi gặp bệnh nhịn ăn bảy ngày trong thời kỳ đó sẽ có
thuyên giảm. Nếu chưa hết mới dùng đến thuốc than. Tên
của
những loại thưốc thì không giống nhau. Đây là công vệc
của y khoa chiếm lĩnh có sự khác nhau. Cuối cùng khi chết
đi thì đều nhỏ lệ. Người thân cạo tóc để ngực, áo
quần được chế tạo để mặc cư tang thì không hạn định.
Khi tống tán nghi lễ có ba loại. Thứ nhất là hoả táng,
dùng củi để thiêu. Thứ hai là thủy tán, cho dìm xuống nước
để trôi đi. Thứ ba là dã táng, nghĩa là cho xác vào rừng
cho chim ăn. Khi Quốc Vương băng hà đầu tiên lập một ban
tổ chức cho tang lễ, rồi phân chia trên dưới. Khi sống lấy
đức làm đầu. Khi chết không còn kiêng cử nữa. Những người
nhà có tang thì không ăn uống. Sau khi tang lễ xong trở lại
bình thường không kiêng kỵ. Những người đi đưa đám chết
không sợ dơ hoặc tắm rửa bên ngoài rồi cho vào. Cho đến
tuổi tác sống lâu hay chết sớm cũng thế. Khi sống không
sợ mệt nhọc đắm chìm. Con thú khi lìa đời còn muốn trở
lại nhân gian. Sự sanh tử nặng nhẹ hy vọng vào con đường
phía trước. Cho nên người thân thuộc phải biết tạo nên
niềm vui bằng tiệc rượu. Hoặc đánh trống thổi kèn để
thêm sức. Kẻ trung lưu cũng được sanh thiên. Trong mười
cõi ấy một cõi này cũng chưa thấy được. Kẻ xuất gia
làm tăng không bị quy vào đây. Khi cha mẹ mất tụng niệm
để nhớ ơn. Xa hơn là cầu việc phước đức. Giữa chính
trị và tôn giáo có những điều cũng giản đơn. Nhà nào
chẳng có gia phả thì người đó chẳng có thay đổi quá trình.
Trong đất đai của Vua chúa cũng chia ra làm bốn loại. Thứ
nhất đất ấy nhà nước dùng để làm tế lễ. Thứ hai đất
ấy ban cho các tể tướng triều thần. Thứ ba đất ấy thưởng
cho những kẻ học cao tài rộng. Thứ tư đất ấy giống như
ruộng phước điền cấp cho những đạo khác. Cho nên cũng
có chế độ thuế má nặng nhẹ được kiểm soát bởi tỉnh.
Mọi người trong đời có nghề nghiệp đều có đầy đủ
cổ phần đất đai. Nếu là ruộng quý thì phải đóng một
phần sáu thuế. Sự thương mại có lời qua lại cũng như
sự buôn bán trước sau đều có thuế. Sự buôn bán giúp cho
quốc gia giàu mạnh bắt buộc phải lao dịch. Đây là giá
trị của sự thành công vậy. Trấn nhậm chinh phạt là do
lính tráng. Số nhiều do mọi tộc và các huyện tuỳ theo người
mà thưởng. Những người đầu ấp được cử ra để thâu
thuế. Các nơi đều có phân chia đất đai cho việc ăn uống.
Phong tục khác biệt, chỗ ở cũng như vậy. Hoa quả cây trái
đủ loại khác nhau. như Am Mộc La, trái Am Nhi La, trái Mạc
Đỗ Già, trái Phạt Đạt La, trái Kiếp Tỳ Hoá, trái A Mạc
La, trái Chấn Đỗ Già. Phàm những loại như thế thật khó
biết hết. Vì thấy lạ trên đời nên lược ghi như vậy
thôi. Cho đến những loại cây khác của Ấn Độ cũng ít
nghe tới như quả lê, quả đào, nho v.v... . Nước Già Hiển
Nhi La cũng đã đến đây mang về trồng. Thạch Lựu Cao Kiều
các nước đều có trồng. Tuỳ theo nhà nông mùa màng canh
tác, để trồng tuỳ theo thời tiết mà có sự thay đổi.
Đất đai nơi đây cũng trồng được nhiều lúa mạch. Rau
cải cũng được trồng nơi có nước. Rau cỏ tuy ít nhưng
không thiếu để dùng. Nhà có nhiều miệng ăn phải chia khu
ra để canh tác. Cho đến sữa tươi, đường cát, mật ong,
dầu và các thứ bánh cũng đều dư dả. Dê, nai và những
loại quý cũng như voi, ngựa, chó, khỉ, sư tử, gà nhà v.v...
. Phàm những loại động vật có lông thì vô số kể. Những
người có tâm xấu hổ thường hay không làm những việc ác.
Những kẻ ấy bị người đời coi thường ví như những kẻ
uống rượu say sưa đều ít trân quý. Rượu nho cam thảo là
những thứ dùng cho giòng Sát Đế Lợi uống. Rượu cúc và
những loại rượu khác cũng như vậy. Sa Môn, Bà La Môn uống
nước nho và nước cam thảo, không có nghĩa là uống rượu
say. Có nhiều bộ tộc khác nhau cho nên không thể nói riêng
biệt được. Họ dùng những đồ ăn uống đặc thù. Tùy
theo đồ vật và thời gian mà có sự liên quan khi dùng đến
mà không thể biết hết được; đa phần ly bằng đất ít
dùng mà dùng loại đồng đỏ. Khi ăn, dùng một cái bát để
hết thức ăn vào đó. Dùng tay bốc ăn. Cho đến khi già bệnh,
họ vẫn dùng đồ bằng đồng.
Về
những loại vàng bạc đá ngọc quý ở đất nước này có
chứa chất rất nhiều. Có nhiều loại trân bảo khác nhau
bằng đá quý. Lấy từ biển lên để bán. Vật để mua bán
hàng hoá là vàng bạc cho đến những đồ quý giá. Trải dài
cho đến biên cương của Ấn Độ cũng đều như thế. Phong
tục có sai biệt nhưng đại lược là như thế. Tất cả đều
cùng một khái niệm là nước ấy có nhiều chánh sách và
phong tục khác nhau.
1)
Nước Lam Bà, chu vi hơn ngàn dặm. Phía bắc giáp với Tuyết
sơn. Ba bên có núi cao. Thủ đô hơn mười dặm có từ hơn
100 năm nay. Vương tộc không còn cho nên có sự cạnh tranh
không có người đứng đầu. Trước đó lệ thuộc nước
Ca Tất Thí. Ở đây có nhiều mía, cây rừng và những hoa
quả khác. Khí hậu ôn hoà. Chỉ có sương nhưng không có tuyết,
phong tục của nước này người ta hay vui với ca hát ngâm
thơ. Ý chí tánh tình thì yếu đuối thường hay quỷ quái.
Chẳng xuất hiện điều gì đặc biệt. Lễ nghi cử chỉ thô
tháo. Mặc nhiều áo phải dùng màu trắng để trang sức. Già
Lam hơn mười ngôi. Tăng tín đồ còn rất ít. Đa phần học
tập theo Đại Thừa giáo. Ngoài ra hầu hết theo những đạo
khác. Từ đây đi về phía đông nam hơn trăm dặm thì gặp
núi cao, sông sâu; đến biên giới bắc Ấn Độ gặp nước
Na Yết La Yết.
2)
Nước Na Yết La Yết, đông tây hơn 600 dặm. Nam Bắc hơn 256
dặm. Núi non bao bọc chung quanh rất nguy hiểm. Đô thành
chu vi hơn 20 dặm. Không có người cai quản cho nên trực thuộc
Ca Tất Thí. Có nhiều lúa gạo và hoa quả. Khí hậu ôn hoà.
Phong tục thuần chất, mạnh mẽ kiên cường, xem nhẹ tiền
tài, ham học, sùng kính Phật Pháp. Ít có người theo Ngoại
Đạo. Chùa tuy nhiều nhưng tăng tín đồ thì ít. Các bảo
tháp bị hoang phế hư hoại. Những đền thờ của Đạo Giáo
khác có 5 sở và hơn 100 người theo.
Thành
phía Đông rộng 2 dặm, có bảo tháp cao hơn 300 thước do Vua
Asoka kiến thiết, trên đá đặc biệt điêu khắc công phu.
Lịch sử Phật Thích Ca, lúc còn là Bồ Tát gặp Phật Nhiên
Đăng, đã trải tóc và áo phủ trên bùn để Phật đi, và
được Phật thọ ký. Cho đến kiếp hoại, sự tích nầy vẫn
không mất. Hoặc cũng có chạm những ngày lễ, trời mưa hoa
cúng dường, người người quây quần tu phước cúng dường.
Ở
phía tây Già Lam nầy, tăng tín đồ cũng ít. Phía nam có bảo
tháp nhỏ. Ngày trước vùng nầy thuộc xứ Án Ni, Vua A Dục
tránh con đường lớn nên làm con đường nầy.
Giữa
thành có Bảo Tháp, nghe rằng đây có thờ Răng của Phật
cao rộng trang nghiêm tráng lệ. Bây giờ không còn Răng nữa,
chỉ còn Tháp thôi. Tháp cao hơn 30 thước. Tục lệ không cho
biết Tháp nầy có tự bao giờ, nên không rõ. Tháp đứng trơ
trọi chẳng còn ai ở đó nhưng rất linh thiêng.
Phía
Tây Nam cách thành hơn 10 dặm có Bảo Tháp nữa. Nơi đây,
đức Như Lai từ miền trung Ấn Độ đi du hoá đến nơi nầy.
Không xa phía đông mấy, lại có một Bảo Tháp cũng theo truyền
thuyết là nơi Bồ Tát ngày xưa gặp Phật Nhiên Đăng, mưa
hoa cúng dường
Phía
tây nam cách thành hơn 20 dặm, có một ngọn núi thấp. Ở
đó có chùa, viện và tháp miếu đều làm bằng đá. Nhưng
hiện tại vườn không nhà trống không có bóng dáng một người
tu. Giữa đó có một bảo tháp cao hơn 200 mét. Tháp nầy cũng
được Vua A Dục kiến tạo. Phía tây nam của Già Lam thật
tiêu sơ vắng vẻ, gió thổi trốc vách tường. Phía đông
tường đá ấy có một động lớn, nơi đây cũng là nơi ở
của con rồng Cù Ba La. Qua cửa hẹp thì có một động khác
tối hơn. Động đá nầy có nước ngọt nhiễu từng giọt.
Tự nó biến thành Chơn Dung của Phật, tướng hảo đầy đủ
trang nghiêm tự tại. Từ đó đến nay, ít có người thấy
được, nhưng kẻ nào thấy được mà chí thành cầu thỉnh
thì được cảm ứng; nhưng ánh sáng thấy được đó không
lâu. Ngày xưa, khi Phật còn tại thế, con rồng nầy là kẻ
chăn trâu muốn dâng sữa cho Vua, nhưng dâng không được, tâm
sân khởi lên. Sau đó mang một đồng tiền vàng mua hoa cúng
Phật, nên được thọ ký tại tháp nầy. Tái sanh làm con rồng
ác ấy đã phá hại nước của Vua, rồi bị đập đầu vào
đá mà chết. Chết rồi, đọa thành Đại Long Vương ở trong
Động Đá nầy. Tâm tánh thay đổi muốn ra khỏi động và
không dám làm ác. Tâm thiện khởi lên chiêu cảm đến Như
Lai. Thương con rồng, ngài vận thần thông từ miền trung Ấn
Độ đến nước nầy. Vừa thấy đức Như Lai, con rồng buông
xả tất cả tâm độc, liền thọ giới không sát sanh, nguyện
hộ trì Chánh Pháp và cung thỉnh đức Như Lai lưu lại Động
nầy, các vị Thánh Đệ Tử cũng lưu lại nơi đây mà thọ
nhận sự cúng dường của rồng. Nhân đó, đức Như Lai bảo
rằng:
Như
Lai sẽ vì người mà lưu lại hình ảnh, sau khi tịch diệt
ở nơi nầy. Và lúc nào cũng có năm vị A La Hán ở tại đây
để thọ nhận sự cúng dường của ngươi cho đến khi Chánh
Pháp hoại diệt. Như có khi nào, ngươi khởi tâm sân hận,
hãy xem ảnh của ta, với dáng từ bi, thì sân tâm của ngươi
sẽ ngưng lại ngay. Khoảng giữa hiền kiếp nầy, vị Phật
tương lai cũng có lòng bi mẫn thương ngươi mà lưu ảnh lại.
Ngoài
cửa động có hai trụ đá. Một trụ đá bên trên có khắc
dấu chân của đức Như Lai. Một trụ có hình luân xa và nơi
đây phát ra ánh quang minh. Hai bên cửa động cũng có hình
nầy, và có những phòng nhỏ làm bằng đá. Tất cả như những
tịnh thất mà chư vị Thánh đệ tử Như Lai dùng làm nơi
nhập định. Phía tây bắc của động có một ngọn tháp,
đây là nơi mà Như Lai đi kinh hành.
Ở
phía Nam tháp nầy có tháp thờ tóc và móng tay của đức Như
Lai. Gần đó không xa, cũng có một tháp nữa, nơi mà Như Lai
hiển dương Chân tông, nói về Uẩn, Xứ, Giới. Phía tây động
có ảnh, có một tảng đá lớn. Nơi đây Ca Sa của Như Lai
được giặt, hình ảnh ấy vẫn còn hiển hiện.
Cách
thành về phía Đông Nam hơn 30 dặm, đến nước Uẩn La Thành
chu vi 45 dặm, kiên cố hiểm trở. Có rất nhiều hoa, trái,
cây rừng, ao hồ. Người sống ở giữa thành, đều thuần
lương, chánh tín. Có nhiều bức hoạ rất đẹp trên lầu,
nhà. Có tháp nhỏ ở tầng hai làm bằng 7 báu, an trí xương
đầu của đức Như Lai, xương nầy dài 1.2 tấc cũng có thờ
mấy sợi tóc, phát ra ánh sáng. Ánh sáng nầy màu vàng và
trắng, rất linh thiêng. Ở giữa tháp nầy, chiếu sáng như
gương, nhìn vào đó thấy được sự tốt xấu của mỗi người.
Mùi hương xông lên thấu tận xương tủy, tùy theo phước
đức mà sự cảm ứng giao cảm với nhau. Trong tháp ấy, cũng
có một bộ xương đầu của Như Lai, phóng quang màu sắc vi
diệu, an trí chỗ thật là trang nghiêm.
Cũng
có một tháp nhỏ khác bằng bảy báu, an trí xá lợi mắt
của Như Lai. Tròng lớn như quả Nại, phát ra ánh sáng vi diệu,
được an trí nơi cao quý. Y hoại sắc của Như Lai cũng được
an trí một cách trang trọng ở nơi đây vẫn còn nguyên vẹn
chưa bị hư hoại. Có cây tích trượng của Như Lai bằng gỗ
Bạch Đàn, màu thiếc bạc nữa. Gần đây có một vị vua
được nghe những bảo vật nầy, muốn lấy dùng, đem quân
sang uy hiếp để mang về. Nhưng khi mang về đến nước, an
trí những bảo vật ấy trong cung điện chưa bao lâu thì đã
mất rồi. Khi biết ra, thì bảo vật đã quay trở về chỗ
cũ. Năm thánh vật ấy có những mầu nhiệm khác nhau, cho nên
Vua Ca Tất Thí cho năm người tịnh hạnh mang hương hoa đến
cúng dường và gìn giữ như là Như Lai vẫn còn tại thế,
chưa an nghỉ. Tuy nhiên, năm người tịnh hạnh nầy không chỉ
muốn như thế mà còn đem tiền mướn người trông nom, và
đặt ra một số điều lệ phức tạp khác đại để như
là:
Ai
muốn chiêm ngưỡng Xá Lợi của Như Lai, phải nộp một đồng
tiền vàng. như muốn chiêm nguỡng hình ảnh Như Lai, nộp năm
đồng.
Những
điều lệ nầy tự đưa ra và mọi người phải chấp thuận.
Tòa
lầu phía bắc cũng có Bảo Tháp cao lớn và linh thiêng vô
cùng. Ai chỉ cần dùng tay chỉ có thể chấn động ngay, làm
cho linh reo. Từ đây đi về phía đông nam hơn 500 dặm đến
nước Càn Đà La.
3)
Nước Càn Đà La, đông tây hơn ngàn dặm, nam bắc hơn 800
dặm. Phía đông giáp sông Tín Độ. Đô thành là Bố Lộ Sa
Bố La, chu vi hơn 40 dặm. Vương tộc bị tuyệt tự cho nên
lệ thuộc nước Ca Tất Thí. Làng mạc tiêu sơ, dân cư thưa
thớt. Trong cung thành chỉ hơn 1000 gia đình. Gạo thóc nhiều,
rau quả, cây trái cũng thế, có nhiều mía. Nơi đây người
ta sản xuất đường phèn. Khí hậu ôn hoà chẳng có sương
tuyết. Tánh người tiêu cực, rất thích nghệ thuật, tôn
kính ngoại Đạo, ít có tín tâm với Chánh Pháp. Dù là một
nơi nằm gần biên giới Ấn Độ, nhưng từ trước tới nay,
các vị luận sư Ấn Độ như Bồ Tát Vô Trước, Bồ Tát
Thế Thân, Pháp Cứu, Như Ý, Hiếp Tôn Giả v.v.. đều sanh
ra ở nơi nầy. Có khoảng 1000 Tăng Già Lam, nhưng nhiều ngôi
bị hoang phế điêu tàn. Các bảo tháp cũng bị đổ nát. Có
hơn 100 nơi thờ tự của các đạo khác, việc ăn ở rất
tạp nhạp.
Vương
thành phía đông bắc, một đài kỷ niệm được xây dựng
để thờ bình bát của đức Phật. Sau khi Như Lai nhập Niết
Bàn, bình bát của ngài trở về nước nầy. Hơn 500 năm nay,
các nước luân phiên nhau mượn để thực hiện nghi thức
cúng dường của đức Phật.
Ngoài
thành Ba Lợi Tu về phía đông nam cách 89 dặm. có cây Tất
Bát La cao hơn 100 thước cành lá sum sê, tàng cây rậm rạp.
Có bốn vị Phật trong quá khứ đã ngồi dưới cây nầy,
hiện tại cũng có bốn vị Phật ở đây, và trong Hiền kiếp
nầy sẽ còn có 996 vị Phật ngồi nơi đây, cho nên nơi đây
được gìn giữ cẩn mật và rất thiêng liêng.
Nơi
đây đức Như Lai ngồi quay về hướng Nam nói với ngài A
Nan rằng:
Sau
khi ta diệt độ 400 năm, có một vị Vua ra đời tên là Ca
Nị Sắc Ca, xây dựng một ngôi bảo tháp cách đây không xa
về phía Nam để thờ rất nhiều Xá Lợi của ta.
Phía
Nam gốc cây Bồ Đề, có một Bảo Tháp. Tháp nầy do Vua Ca
Nị Sắc Ca xây dựng vào khoảng 400 năm sau Phật diệt độ.
Nhà Vua đã là người thống nhất sơn hà nhưng không tin tội
phước, khinh thường Phật Pháp. Một hôm đi săn rượt theo
một con thỏ trắng, Vua gặp một cậu bé chăn trâu ngồi dưới
gốc cây đang chơi, xây một tháp nhỏ. Vua hỏi:
- Con
làm gì thế?
Cậu
bé đáp:
- Ngày
xưa, đức Thích Ca Mâu Ni là bậc Thánh trí có huyền ký rằng
sẽ có một vị vua ở xứ nầy xây tháp phụng thờ Xá Lợi
của ngài. Biết đâu chính ngài cũng có tên trong số những
người đức lớn ấy. Vì có nhờ phước đức lớn người
mới được làm Vua. Cho nên hôm nay con đã nhắc lại để
Ngài biết.
Nói
xong liền biến mất. Vua nghe rất vui mừng nghĩ rằng tên của
mình là Đại Thánh đã được huyền ký. Nhân việc nầy,
phát chánh tín, tôn trọng Phật Pháp.
Bên
cạnh tháp nhỏ đó, ngài dựng nhiều tháp đá và khắc ghi
tất cả những công đức trên tháp. Tuỳ theo số lượng mà
khắc từ tháp cao 3 tấc cho đến cao 400 tấc. Dấu vết nầy
còn trơ lại chu vi hơn một dặm rưỡi. Có tháp đến 5 tầng,
cao hơn 150 tấc. Trong đó cũng có nhiều tháp nhỏ.
Nhà
Vua nhân đó mà làm tháp chúc thọ. Trên đó, có khắc nhiều
bánh xe bằng vàng và bằng đồng ở tầng thứ 25. Nơi đây
cũng có an trí Xá Lợi của Như Lai, và là nơi thực hành nghi
thức cúng dường tu phước.
Khi
Vua xây xong tháp nầy, thấy phía đông nam có nhiều tháp nhỏ
không vừa ý mọc lên, ra lệnh đập cho thấp xuống chỉ còn
phân nửa, hai tầng mà thôi. Bỗng nhiên xuất hiện một tháp
nhỏ nữa, nhà Vua than rằng:
- Ô!
Có phải do vô minh mà khó khăn như vầy. Hay là Thánh Linh không
đồng ý.
Vua
tạ lễ ra về. Cái bảo tháp thứ hai nầy cho đến bây giờ
vẫn còn. Ai có bệnh tật đau yếu, mang hương hoa đến cầu
nguyện, thì hết bệnh.
Về
hướng đông của Đại Tháp, có hai bảo tháp bằng đá nữa.
Một cái cao ba thước, một cái cao năm thước. Hình dáng hoàn
toàn giống như tháp kia. Cũng có hai tượng Phật, một tượng
cao bốn tấc, một tượng cao sáu tấc. Dưới cây Bồ Đề
có tượng Phật kiết già. Khi ánh sáng mặt trời chiếu, sắc
vàng hiện lên trên đá rồi chuyển sang màu xanh cam. Những
bậc kỳ cựu cho biết:
Hơn
100 năm trước, đá nầy có màu vàng óng ánh, có những đường
vân đá lớn cỡ như lóng tay, những đường vân đá nhỏ
cỡ hạt lúa mạch. Tất cả đều hiện lên trên mặt đá,
có lúc hiện màu kim sa. Bức tượng bây giờ vẫn là tượng
ấy.
Phía
Nam Đại Tháp kia có một bức tượng Phật họa cao 1m6 gồm
có hai phần rõ rệt, từ ngực lên trên và từ ngực xuống
chân. Ngày xưa có một người nghèo sống bằng nghề làm thuê,
có được một đồng tiền vàng, nguyện hoạ tượng Phật,
đến Tháp nầy nói với người họa sĩ rằng:
Tôi
muốn có một bức hình đức Như Lai đầy đủ diệu tướng,
nhưng tôi chỉ có một đồng thôi. Tâm tôi muốn vậy có được
không?
Người
họa sĩ biết tâm người ấy chí thành nên chẳng nói giá
cả chỉ hứa họa cho mà thôi. Trước đó cũng có một người
khác đưa ông cũng chỉ có một đồng tiền vàng, nhưng yêu
cầu họa một bức tượng Phật. Người họa sĩ nhận cả
hai đồng tiền mà chỉ họa có một tượng Phật thôi. Khi
bức tượng họa xong, cả hai người nghèo cùng đến lễ bái.
Người họa sĩ chỉ vào bức tượng nói với hai người cùng
một câu nói:
- Đây
là bức tượng Phật mà tôi họa cho ông.
Hai
người rất ngạc nhiên nhưng không nói ra. Người họa sĩ
hiểu được tâm của hai người nói rằng:
- Sao
mà tư lự vậy? Phàm tôi nhận của ai một việc gì, tôi không
bao giờ thiếu một hào một ly. Nếu lời nói của tôi không
dối trá, thì bức tượng sẽ biến hoá.
Nói
chưa dứt, bức tượng đã hiện ra nhiều điều linh dị, phân
thân qua lại, ánh sáng rực rỡ. Hai người cảm phục sinh
tâm hoan hỷ.
Phía
Tây Nam Đại Tháp, hơn 100 dặm đi bộ, có một tượng Phật
bằng đá trắng cao một thước tám, mặt hướng về phía
Bắc, linh thiêng vô cùng, thường phóng hào quang. Có khi người
ta thấy tượng đi kinh hành nhiễu tháp vào ban đêm. Gần đây,
bọn cướp muốn vào ăn trộm bức tượng, nhưng bức tượng
đứng lên nghinh tiếp chúng, làm cho chúng hoảng sợ rút lui.
Tượng bèn ngồi vào vị trí cũ. Nhờ vậy, bọn đạo tặc
cải tà qui chánh đi khắp xóm làng kể cho mọi người đều
biết chuyện nầy.
Hai
bên Đại Tháp, mỗi bên có một Bảo Tháp nhỏ, phát ra ánh
sáng màu, trăm loại óng ánh rất đẹp. Có tượng Phật trang
nghiêm, điêu khắc vô cùng công phu. Có hương thơm, có âm
thanh khác nhau thường nghe rất rõ. Có những vị tiên, những
bậc Thánh Hiền, cũng thấy họ đi nhiễu Tháp. Tháp nầy Như
Lai đã huyền ký sẽ có bảy lần hư hoại, bảy lần tái
tạo tu bổ thì Chánh Pháp mới diệt tận. nhưng người ta
cho biết tháp đã bị hoại đến ba lần rồi. Lần đầu bị
cháy, bây giờ tu sửa lại đẹp đẽ, sau nầy sẽ hoàn thành.
Phía
Tây của Đại Tháp, có Già Lam do vua Ca Nị Sắc Ca kiến lập.
Chùa có nhiều tầng làm nơi để cung thỉnh chư tăng về cúng
dường tạo phước. Nhưng Tăng tín đồ càng ngày càng giảm
thiểu. Phần nhiều tu theo Tiểu Thừa, tự xây dựng Chùa Viện;
nhưng đức độ của chư vị luận sư, hoặc bậc chứng Thánh
quả như những luồng gió mát thổi đến với họ không bao
giờ tận.
Trên
tầng ba có thờ ngài Hiếp Tôn Giả. Phòng ấy lâu nay bị
nghiêng nhưng vẫn còn đứng.
Ngài
Hiếp Tôn Giả thuộc dòng dõi Phạm Chí. Năm 80 tuổi mới
xả tục xuất gia. Lúc bấy giờ trong thành, trẻ mục đồng
hát nghêu ngao rằng:
- Ông
già ngu ơi, có biết không? Phàm người xuất gia có hai việc
làm, một là thực tập thiền định, hai là tụng kinh, nhưng
mà ông đã già rồi, làm được việc gì hay là chỉ biết
ăn thôi?
Nghe
nhạo báng như vậy, Hiếp Tôn Giả rất lấy làm cảm tạ
mà phát nguyện rằng:
Cho
đến khi nào còn chưa thông Tam Tạng, chưa ra khỏi ba cõi,
chưa chứng lục thông, chưa đủ tám giải thoát, thì chưa
ngồi.
Từ
đó về sau, suốt ngày đêm không ngủ, chỉ chuyên lo việc
nghiên cứu kinh sách, dù đi, đứng, ngài luôn luôn tư duy giáo
điển. Ban đêm tu thiền chỉ quán. Trải qua ba năm, Ngài thông
cả Tam Tạng, chứng được trí tam minh, ra khỏi ba cõi, người
người kính nguỡng. Do vậy ngài hiệu là Hiếp Tôn Giả.
Từ
chỗ Ngài Hiếp Tôn Giả đến phía đông, có một phòng thất,
nơi đây ngài Thế Thân đã lưu trú và sáng tác luận Câu
Xá, được người đời cung kính và nguỡng mộ.
Phòng
của ngài Thế Thân, ở phía Nam cách 50 dặm, ở tầng hai.
Cùng với luận sư Như Ý sáng lập ra Tỳ Bà Sa Luận ở nơi
nầy. Ngài sanh ra sau Phật nhập Niết Bàn 1000 năm, lúc nhỏ
ham học, có tài biện luận. Vì nghe Pháp Phật hay, nên bỏ
tục quy Tăng. Khi đó đến nước La Phiệt Tất Đệ, gặp
Vua Tỳ Ngật La Ma A Dật Đa, uy phong của Ngài ảnh hưởng
rất nhiều ở xứ Ấn Độ, mỗi ngày Vua cấp 5 ức tiền
vàng để thí cho những người nghèo khổ cô độc. Vì thiếu
hụt, nên vị đại thần giữ kho của nước đó rằng:
"Uy
thế của đại vương thật là cao cả, ảnh hưởng cho đến
côn trùng, nhưng tăng lên năm ức đồng tiền vàng thì thiếu
hết bốn. Trong kho không còn gì, chỉ còn đánh thuế vào đất
đai, vì sự nguy kịch đó cho nên hạ thần phải tâu lên và
xin bệ hạ dụng ân để chu cấp. Hạ thần thật là bất
kính" .
Nhà
vua nói:
- Những
gì còn trong kho để cho đủ không. Chẳng bằng nước "Cẩu
Vi Thân Đa Ma" tiêu dùng.
Bèn
thêm năm ức cho người nghèo. Sau đó đi thăm ruộng, tìm đuổi
dấu tích con heo bị mất, và ai tìm được thì thưởng một
ức đồng tiền vàng. Luận Sư Như Ý bảo người ta xuống
tóc và một ức tiền vàng kia, Sứ thần của nước kia y đó
mà niêm tải. Nhà Vua xấu hổ để thấy việc kia tâm thường
theo khoái lạc. Muốn họ nhẫn nhục như luận sư Như Ý cho
nên mới triệu tập hơn 100 người toàn là những bậc Cao
Đức Thạc Học rồi ra lệnh:
"Muốn
bắt được, họ phải đi ra khắp nơi để tìm tung tích. Ngoại
đạo thì phức tạp làm cho họ quy về. Nên khảo tra những
ưu khưyết để mà tôn thờ, cho nên tập trung lại để luận
nghị. Điểm trọng yếu như sau. Những luận sư ngoại đạo
và những anh tú. Sa Môn Pháp Chúng đều tôn việc lành và
tuân chỉ đó. Kẻ nào thắng tức được tôn sùng trong Phật
Pháp. Kẻ nào bại bị làm nhục nơi tăng đồ. Với ý nghĩa
nầy đã yết cáo lên với ngoại đạo. Có 99 người đã thối
lui. Còn một người không sợ khinh miệt như vậy, do vậy
việc đàm luận trở nên kịch liệt sôi nổi. Nhà Vua và ngoại
đạo đã ra tuyên ngôn:
"Lời
nói của luận sư không mất, như có lửa thì ắt có khói,
đó là lý sự bình thường thôi. Như Ý tuy là muốn như thế
nhưng mà khó có thể không nghe thấy được. Xấu hổ để
thấy rằng họ nhẫn nhục để bị cắt lưỡi cho đến sau
đó viết thư khuyến cáo ngài Thế Thân rằng đối với người
ngoại đạo đừng nên tranh luận ý nghĩa Đại Thừa, đối
với kẻ mê, không nên biện luận việc chánh tà. Nói xong
mà chết. Ở đó chưa lâu thì Vua bị mất nước. Cùng với
nhà vua vận động tìm kẻ hiền tài. Bồ Tát Thế Thân muốn
làm lạnh cái tâm xấu hổ cho nên mới đến thưa với vua
rằng:
"Đại
Vương là bậc Thánh Đức, quang giáng nơi đây làm bậc nhân
chủ của sự hiểu biết trong thiên hạ. Vị sư Như Ý trước
đây học hết nghĩa lý kinh điển, vị Vua trước đã giận
vì người ta đưa danh của sư lên cao. Tôi tiếp theo việc
làm nầy nghĩa là muốn nhắc lại oán xưa. Vị vua nầy vốn
biết luận sư Như Ý là một triết gia. Nay Ngài Thế Thân
muốn nói, hãy triệu những vị ngoại đạo như luận sư Như
Ý, để cho Ngài Thế Thân nhắc lại ý chỉ trước đây. Rồi
ngoại đạo cảm tạ lui ra.
Vua
Ca Nị Sắc Ca ở phía đông bắc cách năm mươi dặm hơn có
tạo dựng một ngôi Già Lam. Qua khỏi sông lớn thì đến thành
Bố Sắc Yết La Phiệt Đệ. Chu vi của thành nầy 14,5 dặm.
Những người ở đây đa phần ở trong động nối tiếp nhau.
Cửa thành phía tây có một đền thờ Phạm Thiên, tượng
Phạm Thiên uy nghiêm linh dị tương tục.
Phía
đông của thành có một Bảo Tháp, do Vua A Dục kiến tạo,
nhằm nơi Thuyết pháp của đức Phật quá khứ thứ tư. Thánh
Hiền ngày xưa đều xuất thân từ miền trung Ấn Độ giáng
sanh xuống nơi nầy không phải là ít. Tức "Phạt Tô Mật
Đản Đa" Luận Sư (Thế Hữu, cũng còn gọi là Hoà
Tu Mật Đa). Tại nơi đây, ngài đã vì chúng mà tạo nên bộ
A Tỳ Đạt Ma Luận.
Cách
thành phía bắc bốn dặm rưỡi thì có một Già Lam cũ vườn
tược hoang phế tăng đoàn ít ỏi. Họ là những người tu
theo Tiểu Thừa giáo. Tức Đạt Ma Đản La Đã Luân Sư (Pháp
Cứu, cũng còn gọi là Đạt Ma Đa La). Ở nơi nầy, Ngài đã
sáng tác ra Tạp A Tỳ Đàm Luận.
Ở
phía chùa kia, có Bảo Tháp cao hơn 100 mét. Tháp nầy do Vua
A Dục xây dựng. Chạm chữ trên gỗ và đá với những nhân
công khác nhau. Đó là sự tích làm Vua ngày trước của đức
Phật Thích Ca, tu khổ hạnh, từ sự mong muốn của chúng sanh
mà bố thí không ngừng nghỉ, dù bị mất thân cũng không
thay đổi. Nơi quốc thổ nầy, Vua đã sanh lại một ngàn lần,
tức là Thắng Địa. Cũng có một ngàn lần xả mắt.
Từ
nơi đây qua phía đông không xa, có hai bảo tháp bằng đá.
Mỗi cái cao hơn một trăm thước. Bên phải có tượng Phạm
Vương, bên tả có tượng Đế Thích. Đây là những trân bảo
được trang sức. Sau khi Như Lai tịch diệt đá quý nầy cũng
thay đổi. Nơi nầy càng ngày càng được tôn sùng.
Phía
tây bắc của tháp Phạm Thích, hơn 50 dặm có thêm một bảo
tháp nữa. Đây là nơi đức Thích Ca Như Lai vì hoá độ quỷ
Tử Mẫu đừng làm hại người. Đây cũng là nơi phong tục
của nước cúng tế cầu tự.
Từ
phía bắc của Tháp quỷ Tử Mẫu nầy hơn 50 dặm lại có
một tháp khác đó là Thương Một Ca Bồ Tát (Anh Ma Bồ Tát)
cũng phụng duỡng nuôi cha mẹ mù. Tại nơi đây trong khi hái
rau bị Vua đi tuần bắn lầm tên độc. Nhưng nhờ sự chí
thành cảm linh cho nên chư Thiên cho thưốc. Nhờ nhiều phước
đức mà không có việc gì xảy ra.
Từ
chỗ Đông Nam, nơi Bồ Tát bị hại đến thành Bạt Lô Xa.
Ở phía bắc thành cũng có một bảo tháp tên là Tu Đạt Noa
Thái Tử. Vì lấy voi quý của phụ thân cho Bà La Môn cho nên
bị đày qua nước Tẩn Cố Tạ. Khi ra đến cửa thành thì
cáo biệt. Ở nơi nầy, Chùa Viện hơn 50 cái, chư Tăng theo
phái Tiểu Thừa. Ngày xưa có luận sư Y Thất Phạt La (Tự
Tại) ở nơi nầy mà tạo ra Luận A Tỳ Đạt Ma Minh Chứng.
Bên
ngoài cửa phía đông của thành Bạt Lô Xa có một ngôi Già
Lam, Tăng tín đồ hơn 50 người. Họ tu học theo Đại Thừa
Giáo. Cũng có bảo tháp do Vua A Dục dựng. Nơi đây có tích
Thái Tử Tu Đạt Noa bị đày vào núi Đãn Đa Lạt Già. Nơi
đây đã được những người Bà La Môn cúng cháo.
Phía
Đông Bắc của thành Bạt Lô Xa hơn 20 dặm là đến núi Đãn
Đã Lạt Già. Ở trên đỉnh núi cũng có bảo tháp. Tháp nầy
do Vua A Dục kiến tạo. Thái Tử Tu Đạt Noa đã trốn nơi
nầy. Từ phía nầy chẳng xa cũng có một bảo tháp khác ghi
lại nơi Thái Tử đã cho con trai, con gái của mình cho Bà La
Môn. Người Bà La Môn đó đã đánh đập con trai con gái của
Thái Tử ra máu, cho nên bây giờ cây cỏ ở đây cũng mang
màu sắc ấy. Phía trên một hòn đá là nơi thực tập thiền
định của Thái Tử và Vương Phi. Bên trong hang có cây cối
rất là rậm rạp. Nơi nầy cũng là nơi Thái Tử đã ngừng
bước vân du. Từ đây không xa mấy có một tảng đá. Tức
là nơi cư trú của Tiên Nhân ngày xưa.
Phía
tây bắc của Tiên Lô, đi hơn 100 dặm vượt qua một núi nhỏ
thì đến núi lớn. Phía nam của núi nầy có một ngôi Già
Lam, Tăng Tín đồ tương đối ít. Họ tu học theo Đại Thừa.
Phía bên nầy cũng có một ngôi tháp do Vua A Dục dựng nên.
Chuyện xưa kể rằng nơi đây khi xưa có một vị Độc Giác
cư trú. Tiên nhân vì dâm nữ khưấy động cho nên mất thần
thông, bị dâm nữ cỡi cổ mà trở lại đời cũ.
Phía
đông bắc của thành Bạt Lô Xa, đi hơn 50 dặm thì đến núi
cao. Núi nầy có một tượng đá xanh hình đức Quán Tự Tại
với dáng người nữ. Cũng có Tỳ Ma Thiên Nữ. Nghe phong tục
địa phương kể lại rằng, tượng Tự Tại Thiên nầy tự
nhiên mà có, rất linh nghiệm do sự kỳ nguyện mà thành. Các
nước tại Ấn Độ đến đây cầu phước và thỉnh nguyện.
Giàu nghèo, xa gần tất cả đều đến đây để cầu nguyện
và thấy được hình của Thiên Thần, khi chí thành không có
hai niệm. Nhịn ăn bảy ngày thì sẽ được thấy. Sự cầu
nguyện sẽ được thành công, dưới chân núi có một đền
thờ đức Quán Tự Tại Thiên. Người Ngoại Đạo cũng có
đền thờ ở đây để cúng tế.
Đền
thờ Tỳ Ma Thiên từ phía đông nam đi đến 150 dặm đến
thành Ô Trạch Ca Hán Trà. Chu vi của thành là 20 dặm. Phía
Nam giáp với sông Tín Độ, người tại đây giàu có sung mãn,
thường hay tích chứa tài sản, đồ quí vật lạ các nơi
đều tập trung nơi nầy. Từ phía tây bắc của thành Ô Trạch
Ca Hán Trà đi hơn 20 dặm, đến làng Bà La Đổ La. Đây là
nơi sinh trưởng của Tiên Bà Nhi Ni, người đã chế ra Thanh
Minh Luận. Là một văn học cổ đại có ảnh hưởng rất
lớn. Trải qua kiếp hoại thế giới sẽ trở về Không. Các
vị chư thiên có tuổi thọ sẽ giáng sanh vào Đạo Sĩ và
Tục Nhơn. Do tích nầy mà có chuyện trên vậy. Từ đó về
sau chuyện nầy được lưu truyền mãi. Phạm Vương Thiên Đế
được thành hình là theo tục nầy. Các Đạo khác có các
chư tiên chế ra chữ nghĩa. Con người do việc trước đã
sắp đặt truyền lại, mà thành tập tục.
Các
người nghiên cứu khó mà dùng biểu tượng để biết rõ
ràng. Khi con người có tuổi thọ 100, có vị Tiên tên là Bà
Nhi Ni khi sanh ra đã biết mọi việc, rất mẫn cảm. Muốn
biết sự hư ngụy nổi trôi như thế nào liền ra đi đến
hỏi Đạo, thì gặp Tự Tại Thiên. Sau đó thưa thỉnh thuật
lại chí nguyện. Tự Tại Thiên bảo rằng: Tốt lắm ta đang
chờ ngươi đây. Tiên nhân thọ giáo rồi lui. Sau đó nghiên
cứu tinh chuyên tạo thành lời dạy, làm ra chữ nghĩa có trên
ngàn lời tụng. Tụng đến 32 lần. Từ xưa đến nay tổng
quát các văn tự vậy. Tánh cách cao cả cho nên vua chúa cũng
trân quý. Vì vậy cho nên vua ra lệnh cho cả nước hãy phổ
biến sử dụng lời thơ nầy. Có tụng đọc có lợi ích,
phải thưởng một ngàn tiền vàng. Cho nên các Thầy giáo lúc
bấy giờ rất thịnh hành. Cùng trong ấp nầy là những người
Bà La Môn, là những bậc Thạc Học tài cao, biết rộng hiểu
sâu, đã làm việc ấy. Ở giữa ấp Bà La Đổ La có một
bảo tháp. Nơi Hoá thân của La Hán và sau nầy là của Tiên
Nhơn Bà Nhi Ni. Sau khi Như Lai diệt độ năm trăm năm, có một
vị Đại A La Hán, từ nước Ca Thấp Di La (Karmira) du hoá đến
nơi nầy. Sau đó gặp một người Phạm Chí hỏi Đạo. Lúc
ấy ngài A La Hán vì Phạm Chí mà hỏi:
- Khổ
như thế nào?
Phạm
Chí đáp:
- Ta
học Thanh Văn luận nghiệp chẳng tiến bộ.
A La
Hán nghe qua cười. Lão Phạm Chí bảo:
-Phàm
là Sa môn, có tâm từ bi thương giúp tất cả muôn loài. Nay
hãy lấy lòng từ để nguyện, nghe được việc nầy ngài
nói cho.
A La
Hán nói:
- Việc
đàm luận không phải dễ dàng, sợ có nghi ngờ sâu. Ngươi
hãy nghe đây! Tiên Nhơn Bà Nhi Ni chế ra Thanh Minh Luận để
dạy cho đời phải không?
Bà
La Môn nói:
- Là
con của làng nầy đấy. Sau nầy vì lòng tin mà thiết lập
nên tôn tượng nơi đây.
A La
Hán nói:
- Nay
người ở làng nầy tức là vị Tiên kia, phải dụ cho trí
thức cao cả làm mô phạm cho đời. Tuy nhiên khi đàm luận
với những luận khác thì không nghiên cứu chân lý. Cho nên
thần
trí bị hao tổn, lưu chuyển vậy. Phải biết việc thiện
mà làm, nên ngươi phải yêu thương nó vậy. Từ đó, văn
chương chữ nghĩa trong cuộc đời do công việc nầy mà tích
chứa lại. Chẳng bằng với Thánh Giáo của đức Như Lai phước
trí vô lượng. Như ngày xưa ở bờ biển Nam Hải, có một
cây khô, có con rùa biển sống trong đó hơn 500 năm. Có các
thương nhân dừng lại dưới cây nầy thời gặp gió rét,
người người đói lạnh, mọi người họp lại đốt lửa
cho ấm. Khói lửa nung lên dưới cây khô nầy. Trong những
thương nhân đó, có một người ban đêm tụng A Tỳ Đạt
Ma tạng, con rùa vì bị ngộp lửa rất đau đớn khi nghe được
lời tụng đó rất thích nhưng không chịu ra khỏi, khi bị
mệnh chung theo nghiệp thọ sanh, liền được thân người bỏ
nhà đi tu. Nghe được pháp nầy thông minh lợi trí. Chứng
được Thánh Quả, vì đời mà tạo phước điền. Gần đây
là vua Ca Nị Sắc Ca và Hiếp Tôn Giả đã triệu tập năm
trăm Hiền Thánh tại nước Ca Thấp Di La để tạo nên Tỳ
Bà Sa Luận. Trong số đó cũng có vị tái sanh từ con rùa đã
sống 500 năm trong bộng cây khô đó.
Đây
là một điều hy hữu, mà tốt xấu khó nói hết được. Nay
vì nhà ngươi nhân vì thương con mà hứa cho đi tu. Công đức
của việc xuất gia không thể tường thuật hết. Lúc ấy
A La Hán nói lời nầy xong liền hiện các loại thần thông.
Vị Bà La Môn phát sanh cung kính thâm hậu hoan hỷ lâu dài
cho nên mới bảo những người chung quanh bỏ cả con cái xuất
gia tu học. Từ đó sùng tín ba ngôi Tam Bảo. Người làng từ
việc biến hoá đó cho đến nay vẫn còn truyền lại. Từ
thành Ô Trạch Ca Hán Trà đi đến phía bắc, có núi và sông.
Đi hơn 600 dặm, đến nước Ô Trượng Na.
Đại
Đường Tây Vức Ký hết quyển hai