IV.
Triết học Duy thức tông
Ðó
là một trường phái chính của triết học Ðại thừa được
hai anh em đại sư Vô Trước (Asanga) và Thế Thân (Vasubandhu)
sáng lập. Hai vị đại luận sư ấy sống khoảng thế kỷ
thứ 4 hoặc thứ 5 sau CN. Giống như Trung quán tông, Du già
hành tông, tên gọi tại Ấn Ðộ của Duy thức tông hay Thức
học, triển khai từ một hệ thống thông giải các kinh điển
Ðại thừa. Sư Vô Trước sử dụng danh xưng Du già hành tông
trong các tác phẩm của mình có lẽ do đặc biệt chú trọng
tới việc thực hành yoga. Danh xưng Thức tông hoặc Thức học
thường được sư Thế Thân sử dụng, và cũng thường được
dùng tại Ấn Ðộ cùng Tây Tạng. Tại Á đông, thường gọi
là Duy thức tông hoặc Duy thức học, và đó cũng là danh xưng
được chúng tôi dùng trong phần này.
Cả
Duy thức tông lẫn Trung quán tông đều đồng thuận rằng
các sự vật lập thành thế giới đều thiếu tự tính. Nói
cách khác, chúng không hiện hữu do tự chính cá thể của
chúng mà hoàn toàn tuỳ thuộc vào các điều kiện làm xảy
ra chúng. Ðiểm giống nhau ấy không gây ngạc nhiên chút nào
vì đó là nền tảng của toàn bộ ý tưởng Phật giáo về
trạng thái tương liên nối kết của mọi sự mọi vật.
Trong
khi nhấn mạnh Không tính, Trung quán tông tuyên bố rằng các
sự vật “trống rỗng” sự hiện hữu cố hữu thì người
Duy thức tông cho rằng lời tuyên bố ấy đã đi quá xa, hướng
tới hư vô chủ nghĩa, và họ tự cho tông phái của mình có
nỗ lực khôi phục sự quân bình với cách tiếp cận chủ
đề bản tính nhất thời của trải nghiệm từ một góc độ
khác hẳn. Duy thức tông lập luận rằng các sự vật được
chúng ta trải nghiệm như đang hiện hữu trong thế giới này,
trong thực tế đều chỉ là các cấu trúc tâm thần hoặc
tâm thức, và rằng cái được chúng ta trải nghiệm ấy cũng
chỉ là sự thông giải do tâm trí của chúng ta đặt ra.
Duy
tâm chủ nghĩa?
Theo
Thế Thân truyện, sư Vô Trước xuất thân từ một gia đình
đẳng cấp Bà-la-môn. Ngoài người em ruột thứ hai là sư
Thế Thân, sư còn người em thứ ba. Ban đầu, cả ba anh em
đều tu học giáo pháp Nhất thiết hữu bộ nên Duy thức tông
được thiết lập dưới ảnh hưởng của bộ phái ấy. Sư
Vô Trước có thời dốc lòng cố sức tu tập, nhưng không
đạt chứng ngộ lí Không tính của Long Thọ. Có thể vì thế
sư khước từ quan điểm của Long Thọ về Không tính tuyệt
đối. Các tác phẩm của sư Vô Trước gồm Du già sư địa
luận; Ðại thừa kinh trang nghiêm luận; Ðại thừa a tì đạt
ma tập luận; và Nhiếp Ðại thừa luận, v.v…
Sư
Thế Thân vừa là em vừa là đệ tử và được sư Vô Trước
khuyến dụ theo Ðại thừa. Sư là nhà biện luận xuất sắc,
tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Ðộ. Công trình chính của
sư là hệ thống hoá tư tưởng Du già hành tông của sư huynh
Vô Trước thành Duy thức tông và là tác giả các cuốn Duy
thức tam thập tụng và nhiều bài luận về các tác phẩm
của Vô Trước và của triết học Ðại thừa như Thập địa,
kinh Kim Cương, kinh Diệu pháp Liên hoa, Ðại thừa vô lượng
thọ trang nhgiêm, v.v…
Như
đã viết ở trên, có thể tìm hiểu triết học Du già hành
tông (Duy thức tông) bằng ba danh xưng; mỗi danh xưng đều
tự nó hàm chứa nội dung của tông phái ấy:
Duy
tâm thần (cittamantra);
Thức
học (vijnanavada);
Duy
thức (vijnatimatra).
Theo
những danh xưng đó, Du già hành tông hay Duy thức tông, dưới
mắt các học giả Tây phương, là một triết học mang tính
duy tâm chủ nghĩa (idealism) vì nó lấy sự thông giải tâm
thần các kinh nghiệm của con người làm điểm xuất phát.
Các
luận cứ Duy thức tông
Có
thể trình bày một cách hoàn toàn giản dị lập luận nằm
đằng sau lối tiếp cận của Duy thức tông như sau:
Bạn
có thể bị lầm lẫn về cái bạn đang tri giác. Thí dụ năm
1995, tại Toronto, tôi bị tai nạn xe hơi gây chấn thương sọ
não. Từ đó tai tôi bị ù, nghe như có tiếng máy tủ lạnh
chạy trong đầu suốt ngày đêm. Khiến nhiều khi tủ lạnh
bị mất điện mà tôi cứ tưởng máy đang chạy. Thí dụ
thứ hai là người Tây phương sang Việt Nam du lịch thường
không nghe quen tiếng pháo nổ nên dễ lầm tưởng âm thanh
pháo cưới là tiếng súng liên thanh bắn. Hoặc bạn có thể
trông lầm một khúc dây thừng ở giữa đường là một con
rắn, hoặc cuộc tranh luận của năm người mù sờ voi.
Bạn
có thể đang mơ. Trong cuốn Nhiếp đại thừa luận, sư Vô
Trước lập luận rằng khi ngủ mơ, bạn đang nhận biết một
thế giới toàn các sinh vật tưởng tượng nhưng chúng chỉ
ở trong tâm trí của bạn. Bạn có thể thấy một ảo tượng
trong khi nghe một tiếng vang, và bạn tưởng lầm nó là nguồn
của âm thanh ấy. Do đó, có khả năng bạn có những trải
nghiệm “thật” nhưng chúng không nhất thiết phải tương
ứng với bất cứ cái gì ở thế giới bên ngoài.
Bạn
có thể thiếu một khả năng đặc biệt nào đó. Thí dụ
chẳng may bạn bị mù màu sắc, nhưng như thế không có nghĩa
các sự vật bạn nhìn đang thật sự thiếu màu sắc.
Do
đó, tất cả những gì bạn có thể biết tới chỉ là những
gì bạn trải nghiệm; bạn không thể có tri thức trực tiếp
về bất cứ cái gì nằm ngoài trải nghiệm đó.
Thử
lập luận phản bác
Bạn
có thể lập luận ngược lại rằng chính sự cố kết và
không chủ tâm là những gì gợi cho ta thấy một thực tại
bên ngoài. Thí dụ, dù sao tôi cũng không chọn lựa khi nhìn
cái bảng đen ấy, và tôi biết rằng hễ mỗi lần vào lớp
học này là tôi thấy nó sờ sờ trước mắt mình. Người
Duy thức tông phản bác lập luận đó bằng cách gợi ý rằng
trong giấc mơ, bạn không chủ động cái bạn trải nghiệm,
thế nhưng vóc dáng mặt mày con người bạn thấy trong giấc
mơ ấy trước sau vẫn như một.
Nhưng
nếu bạn thắc mắc rằng còn tính chất thường xuyên trong
trải nghiệm của chúng ta thì sao? Có phải nó không chứng
minh cho nguồn gốc ngoại tại của nó? Một lần nữa sư Thế
Thân lập luận rằng, toàn bộ kinh nghiệm là sự tiếp nối
của các biến cố, và những gì chúng ta gọi là các “tri
giác chân chính” đơn giản chỉ là những cố kết nhất
quán với sự nối tiếp đó, những cái “giả tạo” là
những cái không ăn khớp với sự nối tiếp đó. Vì thế,
sư Thế Thân vạch cho thấy khi bạn tuyên bố rằng cái gì
đó là chân chính hay giả tạo, hoặc hiện hữu hay không hiện
hữu, lời tuyên bố ấy không tuỳ thuộc vào tri thức về
bất cứ thực tại ngoại tại nào, nó chỉ tuỳ thuộc vào
sự cảm nhận rằng cái đó có tương hợp hay không với phần
còn lại của kinh nghiệm của bạn.
So
với triết học Tây phương
Trong
“chủ nghĩa duy tâm” của triết học Tây phương có những
điểm tương đồng với các lập luận trên dù thời gian phổ
biến của nó xuất hiện sau Duy thức tông cả ngàn rưỡi
năm!
Điểm
cụ thể nhất để có thể bắt đầu đối chiếu là nhìn
vào Kant, người gây ra hiệu ứng “Cuộc cách mạng mang bản
sắc Corpenicus” trong triết học Tây phương bằng việc gợi
ý rằng không gian thời gian và quan hệ nhân quả – cộng
thêm vào các phẩm tính bậc hai hiển nhiên hơn của màu sắc
và vân vân – quả thật là kết quả của cách thức tâm
trí xử lý các dữ liệu, chứ không phải là nội dung chúng
ta có thể tri giác được từ thế giới ngoại tại. Những
gì chúng ta thấy là các sự vật theo cách chúng ta trải nghiệm
chúng, bị chi phối bởi khả năng tâm thức của chúng ta,
chứ không phải là các sự vật như chúng tự thân hiện hữu.
Ba
bản tính
Ba
bản tính hoặc thuật ngữ người học Phật dùng là Tam tính,
Tam tự tính (trisvabhava) là cách phân chia đặc điểm của
thực tại theo Duy thức tông. Trong khi nhìn vào triết học
Ðại thừa, chúng ta đã nói tới khái niệm Tự tính (svabhava),
nghĩa là tính tự hiện hữu hoặc cố hữu và do đó được
xem như tồn tại một cách độc lập và thường trực. Chúng
ta cũng đã đơn giản hoá khái niệm Không tính (sunyana) của
Trung quán tông bằng cách tóm tắt rằng vạn vật không tính
nghĩa là vạn vật thiếu tự tính.
Duy
thức tông cũng dùng thuật ngữ ấy để mô tả ba bản tính,
hoặc ba cách am hiểu thực tại.
Biến
kế chấp sở tính (parikalpita-svabhava). Còn gọi là huyễn giác
hay thác giác, mang tính biểu tượng. Thông thường, người
ta tin rằng trong thế giới này, các sự vật đều có thật,
độc lập và tách biệt nhau. Ðó chỉ là ảo giác. Ðó chỉ
là cách qui ước để nhìn thế giới. Tất cả những gì hiện
hữu đều là kết quả của tưởng tượng (huyễn giác) hoặc
ta cố ý bám chặt vào, không chịu lìa bỏ (chấp trước).
Y tha
khởi tính (paratantra-svabhava). Tính tương thuộc của các sự
vật. Sự vật này nương dựa vào sự vật kia mà sinh ra. Tất
cả các hiện tượng vật chất, tâm lý của thế giới và
của con người đều do Nhân duyên phát sinh, lệ thuộc vào
nhau, không cái nào có tự tính. Các tri giác và các trải nghiệm
chúng ta có đều kế tiếp nhau, nối liền nhau như một dòng
chảy, không cái nào xuất hiện độc lập và đứng riêng
rẻ. Người Phật giáo khuyến khích bạn nhận biết y tha khởi
tính trong mọi lúc và nhận ra rằng các sự vật đều phát
sinh tuỳ thuộc vào các điều kiện liên quan và có khả năng
biến đổi liên tục.
Viên
thành thật tính (paranispana-svabhava). Bằng tâm thần (hay tâm
thức) mà nhận biết sự hoàn hảo trong bản tính thật của
các hiện tượng. Ðây là cách tốt nhất để am hiểu trọn
vẹn thực tại. Ðây là sự nhận biết rằng không có các
sự kiện hiện hữu tách biệt nhau. Thế nhưng, không thể
trình bày nhiều về vấn đề này vì đây là phương cách
của người giác ngộ nhìn thế giới, và không thể diễn
tả bằng ngôn từ sự thân chứng – nếm trải trực tiếp
– của người giác ngộ. Nếu có thể diễn đạt nó bằng
ngôn từ thì bản thân người chưa giác ngộ cũng chẳng thể
nào hiểu nổi.
Thử
trình bày cách khác
Nói
cách khác, các hiện tượng được tâm thần nhận biết đều
mang bản chất ba mặt:
(1)
Biểu tượng hay tưởng tượng;
(2)
Lệ thuộc vào nhau;
(3)
Hoàn hảo trong bản tính thật.
Các
hiện tượng gọi là “biểu tượng” là những sản phẩm
tưởng tượng thuần tuý, những ý tưởng sai lạc. Chúng có
tính “lệ thuộc” vì chúng tồn tại trong trạng thái tương
thuộc vào những nhân tố khác. Cuối cùng, chúng là “hoàn
hảo” trong bản tính thật của chúng, mà bản tính này là
Không tính (sunyata) hoặc Chân như (tagatha).
Tóm
lại, theo Duy thức tông, mọi người đều quả thật trải
nghiệm cái (2) nhưng hầu hết lại thông giải một cách sai
lạc ra cái (1). Tuy nhiên, nhận biết bản tính bị điều kiện
hoá của sự vật tối hậu sẽ dẫn tới thông giải thành
cái (3).
Thử
nêu vài câu hỏi
Một
cách tự nhiên, ta cứ thử đặt ra cho Duy thức tông vài câu
hỏi như thế này:
Nếu
không có các sự vật ngoại tại thì cái gì gây ra cảm xúc?
Quả thật trong nhiều dịp, chúng ta có thể hiểu sai lạc
mà cho rằng giấc mơ là một thực tại ngoại tại nào đó,
nhưng sở dĩ xảy ra chuyện đó chỉ vì chúng ta có thói quen
trải nghiệm những gì chúng ta cho là thực tại ngoại tại.
Nhưng các giác quan của chúng ta dùng để làm gì nếu không
phải để phát hiện cái gì đó hiện hữu bên ngoài bản
thân ta?
Nói
chung, người Phật giáo hẳn đưa ra câu trả lời rằng bạn
ạ, bạn sai lầm nếu dùng quan điểm “ta và chúng” khi nhìn
các sự vật như thể có hàm ý thế giới này bao gồm các
hữu thể riêng biệt, mỗi cái hiện hữu do tự chính cá thể
của chúng. Lối nhìn ấy có thể tạm ổn xét theo quan điểm
qui ước, và chủ yếu nó có tính tương đối trong liên quan
tới thực tiễn cuộc sống hằng ngày. Nhưng thật ra, thực
tại thì tương liên nối kết, và mọi sự vật trong thực
tại, từng khoảnh khắc, đều tuỳ thuộc vào các điều kiện
đang duy trì chúng.
Giản
kết
Có
lẽ chúng ta có thể rút gọn những gì được Duy thức tông
rán sức diễn tả bằng ngôn từ, theo cách này:
Trải
nghiệm của bạn về người ấy chỉ đơn giản là trải nghiệm;
Bạn
không thể lùi trở lại “đằng sau” trải nghiệm đó;
Bạn
không thể nói rằng: cái con người tôi biết ở đó hoàn
toàn nằm ngoài các trải nghiệm của bạn;
Cái
bạn trải nghiệm là cái đang ở đó. Bạn có thể chấp nhận
nó như một dòng chảy kinh nghiệm đang liên tục biến đổi,
hoặc bạn ra sức cắt rời nó thành các thực thể tách biệt
nhưng làm như thế tức là chính bạn tạo ra ảo giác về
sự tách biệt.
Bảy
và tám thức
Thức
(vijnana) là một thuật ngữ quan trọng trong Phật pháp, chỉ
sự “nhận biết”. Thức là hoạt động tâm lý, sinh ra sau
khi giác quan (căn) tiếp xúc với đối tượng (trần). Vai trò
của thức cực kỳ quan trọng; nó là một trong năm yếu tố
trong Ngũ uẩn và là yếu tố thứ ba trong Thập nhị nhân duyên.
Duy
thức tông đưa ra bảy dạng của thức. Pháp tướng tông,
một hình thức khác của Duy thức tông, đưa thêm một dạng
nữa, làm thành tám dạng. Ðó là:
Nhãn
thức. Thức của mắt: thấy;
Nhĩ
thức. Thức của tai: nghe;
Tỷ
thức. Thức của mũi: ngửi;
Thiệt
thức. Thức của lưỡi: nếm;
Thân
thức. Thức của thân thể: toàn thân, đụng chạm, sờ mó;
Ý
thức. Thức của ý: nhận thức;
Mạt-na
thức. Thức ô nhiễm;
A-lại-da
thức. Thức lưu trữ; chân thức hoặc căn bản thức.
Năm
thức đầu tương ứng với năm giác quan của ta. Thức thứ
sáu tổng hợp năm thức trên, sản sinh ấn tượng tâm thần.
Thức thứ bảy là thức tự nhận biết về chính mình; gọi
là thức ô nhiễm vì nghĩ rằng mình có một “cái tôi”.
Thức thứ tám tồn trữ hết thảy những trải nghiệm của
các kiếp sống vô tận.
Tuy
nhiên, cái thao tác mạnh mẽ nhất là Mạt na thức: thức ô
nhiễm. Nó đưa tới những hoang mang về bản ngã, tới cảm
giác bị thương tổn hoặc kiêu hãnh. Chính xác, nó đúng là
cái dạng của thức mà người Phật giáo nỗ lực tìm cách
khuất phục cho bằng được vì Phật giáo xem Mạt na thức
đặt cơ sở trên cái nhìn mê lầm giả tạo về bản ngã
và về thực tại.
Nghiệp
báo và thức lưu trữ
Nếu
chỉ có dòng chảy của ý thức, không có sự tiếp nối dưới
dạng một “bản ngã”, làm thế nào chúng ta nhận ra và
nhớ lại các sự vật và sự kiện theo cách người khác nhận
thấy, là có thể cảm nhận và dự báo được? Tương tự,
nếu mọi sự vật đều có tính tâm thức, làm thế nào nghiệp
báo (karma) có thể thao tác? Ðối với cả hai nan đề ấy,
sư Thế Thân đưa ra câu trả lời bằng ý tưởng về thức
lưu trữ, hay gọi theo thuật ngữ Phật giáo là A-lại-da thức
(alaya-vijnana).
Có
một mẹo để dễ nhớ thuật ngữ mà người Phật giáo dùng
nguyên lối phiên âm từ Phạn ngữ này, là bạn hãy liên tưởng
tới dãy núi Himalaya. Hima là “tuyết”, alaya là “lưu trữ”
Himalaya phiên âm ra Hán Việt là Hi mã lạp sơn: nơi lưu trữ
tuyết. Như thế, A-lại-da thức hiểu ngược lại theo cấu
trúc ngôn ngữ Hán Việt là thức lưu trữ.
Khi
hạt mầm chín muồi
Dòng
chảy của các biến cố tâm thần mà bạn trải nghiệm, để
lại hạt mầm – chủng tử (bija) – của nghiệp trong thức
lưu trữ, gọi là Tạng thức, Hàm tàng thức: A-lại-da thức.
Các hạt mầm được tồn trữ trong nhà kho đó cho tới sau
cùng, khi hội đủ các điều kiện thích đáng, chúng chín
muồi và rồi ảnh hưởng lên các biến cố về sau. Lý thuyết
ấy của sư Thế Thân đã giải thích không chỉ riêng về
sự tiếp nối của kinh nghiệm mà còn cả về bản tính tự
khởi tự hành của nghiệp báo.
A-lại-da
thức chứa đựng mọi kinh nghiệm trong kiếp sống của mỗi
con người và nguồn gốc của tất cả các quan niệm tinh thần.
Theo quan điểm của Pháp tướng tông thì A-lại-da thức là
nơi tập hợp mọi nghiệp quá khứ rồi tới một thời điểm
nhất định, tác động lên kiếp tái sinh. Và cá thể thật
ra chỉ là dòng sinh diệt tiếp nối của vô số chủng tử
của nghiệp, do đó, không có một bản ngã cố định.
Lúc
này, bạn đang trải nghiệm các kết quả hành động của
bạn trong quá khứ, vì những hành động ấy ảnh hưởng lên
thức lưu trữ của bạn – và hết thảy những gì bạn từng
làm trong quá khứ được bảo tồn chất chồng, đang ảnh
hưởng lên hiện tại của bạn. Do thế, có thể có một lỗ
trống giữa một sự cố có tính nghiệp báo với các kết
quả của nó, mà không cần giả thiết phải có một bản
ngã hay một linh hồn đang tiếp tục thường tại.
Vì
tàng trữ và tác động nên A-lại-da thức còn được gọi
là Căn thức, thức căn bản của mọi hiện tượng. A-lại-da
thức gồm chứa 7 thức kia, từ đó phóng chiếu thành bóng
ảnh khiến con người có cảm giác như thật về những cái
là hình hài, sắc tướng, âm thanh, mùi vị, ý tứ,... - tức
là cuộc đời. Như thế, cuộc đời vốn chỉ là bóng ảnh,
ở trong nhận thức, phát sanh từ nhận thức và tắt mất
vào đó. Cuộc đời dứt tuyệt vào thời điểm A-lại-da thức
và 7 thức kia không còn nhận ra nó.
Theo
kinh Lăng già, A-lại-da thức còn được gọi là Chân thức.
Trong A-lại-da có một bộ phận gọi là Chân, là Tịnh; cũng
gọi là Như Lai tạng. Nó thường được xem là “chân lý
tối hậu”, và có khi được gọi là Chân như (tathata). Do
đó, một khi hành giả chỉ giữ lại A-lại-da thức để tâm
không còn vô minh thì dễ giác ngộ, nhập cảnh giới niết
bàn.
Mạt-na
tác động lên A-lại-da
Chân
Nguyên & Nguyễn Tường Bách trình bày rất xuất sắc về
tương quan giữa hai thức (7) và (8) như sau:
“A-lại-da
thức được xem mênh mông như biển cả, bản thân nó không
chủ động tạo tác. Nhưng một khi Mạt-na tác động lên A-lại-da
thức thì những chủng tử nằm sẵn trong A-lại-da thức được
khởi động và thao tác những sự vật tưởng chừng như khách
quan. Mạt-na là thức phân biệt tức thời khách thể chủ
thể, tạo nên ý thức nhị nguyên, ý thức về cái ‘ta’
và cái ‘không phải ta’
Sáu
giác quan (kể cả ý thức) là những kẻ báo cho Mạt-na các
thông tin từ bên ngoài, không hề đánh giá tốt xấu. Và chính
Mạt-na là kẻ đánh giá phải trái hay dở, ra lệnh cho sáu
ý thức kia hoạt động và phản ứng. Ðồng thời Mạt-na
thức lại đưa các cảm giác hay chủng tử (bija) đó vào A-lại-da
thức. Chủng tử này lại là kẻ ảnh hưởng và tạo tác
lên thế giới bên ngoài và vòng tròn ấy tiếp tục vô cùng
tận.
Mạt-na
được xem là gạch nối giữa sáu ý thức kia và A-lại-da
thức. Nó là kẻ tưởng mình có một cái ta, là kẻ gây ‘ô
nhiễm’ lên A-lại-da thức. Muốn tránh vòng tròn ô nhiễm
vô tận đó, hành giả phải chấm dứt hoạt động đầy phân
biệt của Mạt-na, biến thức này thành ‘Bình đẳng tính
trí’, là thức đứng trên mọi tính chất nhị nguyên. Nhờ
đó hành giả đạt được tri kiến về tính chất huyễn hoặc
của vạn sự.”
(Từ
điển Phật học, Nxb Thuận Hoá, Huế, năm 1999, t. 319)
So
với triết học Tây phương
Có
thể thăm dò khoa Phân tâm học và toàn bộ ý tưởng về tâm
trí vô thức của triết học Tây phương để tìm ra những
điểm tương đồng với các ý tưởng của sư Thế Thân về
vấn đề thức lưu trữ và tác động về sau của nó.
Theo
tâm lý học hiện đại, các sự cố để lại dấu ấn của
chúng trong tâm trí vô thức. Chúng tồn tại ở đó mà không
bị phát hiện cho tới một giai đoạn nào đó về sau trong
đời người, chúng sẽ biểu thị dưới dạng các vấn đề
tâm lý, mang tính máy móc chủ nghĩa, đúng y như sư Thế Thân
đã vạch ra.
A-lại-da
thức của vị đại luận sư tập thành Duy thức tông ấy
có lẽ là nỗ lực sớm nhất nhằm giải thích thao tác của
tâm trí vô thức. Tuy thế, giữa phân tâm học Tây phương
và Phật giáo có điểm khác biệt chủ chốt. Ðó là đối
với Phật giáo, nghiệp báo liên quan chủ yếu tới hành động
có ý thức của chủ thể, do bản thân chúng ta tự nguyện
chọn lựa. Trong khi với Freud, các kinh nghiệm tồn trữ trong
vô thức thường liên quan tới những gì do tha nhân (khách
thể) gây ra cho chúng ta chứ không phải do chúng ta (chủ thể)
thể hiện một cách có chọn lựa.
Cái
gì tái sinh?
Luân
hồi, như chúng ta từng xem xét, có nghĩa là trở đi trở lại
mãi trong vòng sinh tử cho tới khi giác ngộ. Ðại thừa xem
luân hồi là thế giới của hiện tượng và thể tính của
nó chính là thể tính của niết bàn. Vì Phật giáo không thừa
nhận có một linh hồn bất biến tồn tại độc lập với
thể xác và vì chữ “luân hồi” có thể gây ảo tưởng
có một linh hồn chuyển từ kiếp này sang kiếp khác, nên
ngày nay, người Phật giáo thích dùng chữ tái sinh. Thế nhưng,
nếu không có linh hồn thì cái gì tái sinh?
Nhiều
người toan tính giải quyết vấn nạn đó bằng cách đặt
ra cho Ðức Phật câu hỏi từ đâu mà có luân hồi, hoặc
giống hữu tình – loài động vật nói chung – có từ bao
giờ… Ðức Phật không bao giờ trả lời loại thắc mắc
đó vì ngài cho rằng kiến thức về chúng chẳng giúp ích
được gì trên con đường tu tập. Bạn chỉ có thể chứng
ngộ niết bàn, tức là giải thoát khỏi luân hồi, trong kiếp
làm người bằng cách dứt bỏ được tham sân si.
Con
người, toàn bộ thân tâm được tạo thành bởi ngũ uẩn
với các đặc tính tổng quát là vô thường, vô ngã và đau
khổ. Ngũ uẩn không hề tạo thành một cái được gọi là
cái ta. Và con người cũng không có linh hồn như một thực
thể đơn thuần không biến đổi. Ðối với Phật giáo, tái
sinh không phải là chuyển linh hồn, hiểu như có sự di chuyển
của một linh hồn từ thể xác kiếp này sang thể xác kiếp
kia. Vậy thì cái gì tái sinh?
Nghiệp
lực tái sinh
Câu
trả lời theo lối nói thông thường là xác thân chết và
nghiệp lực tái sinh trong một thể xác khác. Nghiệp là hành
động của bạn. Nghiệp tạo nghiệp quả. Nghiệp lực là
sức mạnh của nghiệp quả, lôi cuốn bản thân người tạo
nghiệp phải chịu quả báo thiện hay ác ở một thời điểm
chín muồi nào đó vào một kiếp nào đó. Nghiệp của bạn
ghi dấu trong tâm thức bạn và tâm thức ấy sẽ hướng theo
những tạo tác của chính bạn. Thời gian chín muồi của nghiệp
có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái
sinh, và nó làm cho loài hữu tình – trong đó có con người
– cứ quanh quẩn mãi trong vòng sinh tử (luân hồi). Một sinh
linh chào đời không giống hoàn toàn cũng không khác tuyệt
đối với sinh linh vừa qua đời, bởi vì cả hai cùng nằm
trong một luồng nghiệp, cùng chịu tác động của một nghiệp
lực.
Ananda
Coomaraswami đưa ra thí dụ minh hoạ sự tái sinh của nghiệp
lực từ kiếp này sang kiếp khác như trái bi-da A đụng vào
trái bi-da B. Không phải A tiếp tục lăn mà là A đứng lại,
và lực tác động của nó khiến B bắt đầu lăn. “Nó [A]
vẫn nằm lại phía sau, nó chết. Nhưng ta không thể phủ nhận
rằng chính sự di chuyển của nó, sức xung kích của nó, cái
kết quả dĩ nhiên, hay cái nghiệp lực của quả banh trước
phát xuất trong quả banh kế [B], chớ không phải một chuyển
động mới nào khác được tạo ra”. (Trích theo Nàrada Thera,
Ðức Phật và Phật pháp, Phạm Kim Khánh dịch, Nxb TP. Hồ
Chí Minh, 1998, tt. 432-433)
Vạn
pháp và tự tính
Nhân
đây, hẳn cũng nên đề cập đôi chút quan điểm của Duy
thức tông về sự hiện hữu của vạn pháp và tự tính. Có
lẽ bắt nguồn từ chiêm nghiệm của sư Vô Trước về Không
tính nên quan điểm của Duy thức tông đối với chủ đề
này được trình bày một cách hơi khác với Trung quán tông.
Ta có thể thăm dò điều đó qua cách diễn giải dung hợp
của Kimura Taiken, học giả người Nhật trong cuốn Ðại thừa
Phật giáo Tư tưởng luận, bản dịch của Thích Quảng Ðộ,
Sài Gòn, không ghi nhà xuất bản, t. 238-239, khi ông dùng cụm
từ “Chân-không Diệu-hữu” rằng:
“Tuy
nhiên, nếu nói một cách đại khái, thì theo tôi tất cả
đều qui nạp về bốn chữ ‘Chân-không Diệu-hữu’. Chân-không
[hư không] nghĩa là hết thảy hiện tượng đều không có
tự tính, còn Diệu-hữu là chỉ sự tồn tại của vạn pháp
[pháp, dharma] mặc dầu vạn pháp đó không có tự tính. Hai
quan niệm này không bao giờ xa lìa nhau, đó là đặc sắc của
triết học Ðại thừa. Về phía Tiểu thừa, có những nhà
quan niệm luận cho rằng hết thảy các pháp đều là giả
danh, không có thực thể. Nhưng trái lại, cũng có những người
chủ trương ba đời thật có, pháp thể hằng có, đó là bộ
phái Thực tại luận cực đoan. Ðại thừa chỉ thống hợp
cả hai quan niệm đó mà chủ trương Chân-không tức Diệu-hữu.
Ðó là chỗ lập cước căn bản của Ðại thừa. Dĩ nhiên
về triết học Ðại thừa, cũng có người chỉ thiên về
phương diện Chân-không mà lập thành thế giới quan nhưng
cũng có người phản đối chủ trương ấy mà nghiêng về
diện Diệu-hữu để khảo sát các hiện tượng.
Tuy
có những chủ trương tương phản đó, nhưng bất luận chủ
trương nào cũng đều thừa nhận rằng: Chân-không không ngoài
Diệu-hữu và ngược lại. Nghĩa là khi đã đạt đến tuyệt
đối thi Chân-không là Diệu-hữu, Diệu-hữu tức Chân-không.
Ðó là điểm cộng thông của tất các các bộ phái Ðại
thừa”.
V.
Học thuyết Như Lai tạng
Như
Lai tạng theo tiếng sanskrit là tathagatagarbha, gồm hai chữ.
Một là tathagata nghĩa là Như Lai: người đã đến như thế,
danh hiệu của vị đạt giác ngộ ở bậc cao nhất, và cũng
là một trong mười danh hiệu của một vị Phật. Trong Phật
giáo thời kỳ đầu, Như Lai không phải là một danh hiệu.
Phật Thích Ca thường tự gọi mình là “như lai” với dụng
ý khiêm nhượng và vô ngã, để tránh sử dụng tiếng ‘ta’
hoặc ‘tôi’ trong lúc ngài giảng dạy. Garbha nghĩa đen là
cung lòng người nữ, nghĩa bóng là mầm, được dịch sang
chữ Tây Tạng có nghĩa là nơi chứa đựng, ẩn giấu và khả
năng nuôi dưỡng.
Như
Lai và chúng sinh
Tathagatagarbha
là mầm Như Lai hay là người chứa đựng Như Lai trong bản
thân mình. Hiểu theo Ðại thừa, Như Lai tạng đồng nghĩa
với Phật tính. Học thuyết Như Lai tạng hay Phật tính hàm
chứa ý tưởng rằng sinh linh nào cũng ẩn chứa trong lòng
nó một vị Phật, một mầm Phật, nghĩa là mọi sinh linh đều
có Phật tính. Sinh linh nào cũng có tiềm năng tăng trưởng
đạt quả vị Phật. Mọi loài đều có khả năng đạt giác
ngộ và trở thành Phật mà không bị hạn chế bởi kiếp
sống hiện tại.
Ở
đây, quan điểm của Ðại thừa có khác với của Tiểu thừa
về vấn đề mọi loài có sở hữu Phật tính thường trực
hay không. Hầu như không nhắc tới Phật tính, Tiểu thừa
cho rằng không phải sinh linh nào cũng có thể thành Phật.
Ðại thừa vốn đặt quả vị Phật làm mục đích cao nhất
nên cho rằng việc thể hiện Phật tính nằm sẵn trong hết
thảy chúng sinh, thông qua phép tu học nhất định.
Kinh
Phạm Võng ghi: “Tất cả chúng sinh đều có Phật tính”.
Trong kinh Pháp Bảo đàn, phẩm thứ hai: Bát nhã, vị tổ thứ
sáu của Thiền tông Trung Hoa là Huệ Năng viết rằng: “Phải
biết người ngu, người trí Phật tánh vốn không có khác,
chỉ [vì] duyên mê ngộ không đồng, nên [mới] có ngu có trí.”
(Bản dịch của Thích Thanh Từ, Nxb Thành hội Phật giáo TP.
Hồ Chí Minh, 1992, tr. 64).
Phật
tính và Chân như
Như
thế, Phật tính là tính giác ngộ, bản tính tốt lành, mầm
lương thiện trong lòng của hết thảy các loài, bất kể con
người hay thú vật. Còn nữa, Phật tính cũng tức là Chân
như (tathata). Chân như là bản tính thường còn, bất diệt,
chân thật, sáng suốt trong lòng của mọi sinh linh.
Cư
sĩ Ðoàn Trung Còn trong Phật học từ điển, tr. 1239, viết
rằng:
“Phật
tánh cũng tức là Chơn như, cái tánh chơn thật như thường,
không biến cải, chẳng sanh chẳng diệt. Song với kẻ ngu vì
bị nhiều sở dục, vì bị nghiệp chướng ngăn bít, nên cái
Phật tánh, cái Chơn như phải lu lờ. Còn đối với người
trí ít tham, ít dục, mộ việc tu hành, nên cái Phật tánh,
cái Chơn như tỏ rõ ra, biết lẽ quấy mà tránh, biết lẽ
phải mà theo.”
Chân
như được Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách trình bày một
cách hàn lâm hơn, rằng:
“Chân
như chỉ thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi
lý luận, nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại
của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến
được Chân như tức là giác ngộ, vượt ra khỏi thế giới
nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và
chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính,
Pháp thân”. (Sách đã dẫn, tr. 87)
Bảy
Phật tính
Theo
Ðại bát niết bàn kinh, (mahaparinirvana-sutra) viết bằng tiếng
sanskrit, một bộ kinh nói tới Phật tính và luận về các
đề tài quan trọng khác của Phật giáo Ðại thừa, Phật
tính gồm bảy đức tính:
Thường.
Thường còn, không mất không biến đổi;
Tịnh.
Trong sạch;
Thật.
Thành thật;
Thiện.
Lành, chẳng ác;
Ðương
kiến. Thấy hết những cái xảy ra;
Chân.
Ðúng thật, không giả.
Khả
chứng. Có khả năng trải nghiệm chứng đắc thành chánh quả.
Ðối
chiếu với thời kỳ đầu
Với
quan điểm Ðại thừa, chúng ta vừa đề cập khá nhiều tới
Phật tính, cũng chính là Chân như, và nhấn mạnh khả năng
thành Phật của mọi sinh linh. Theo ý nghĩa nhất định, trên
thực tế, những phát biểu ấy không có chút nào khác với
lời giảng của Phật Thích Ca. Vì từ đầu chí cuối, ngài
dạy bảo chúng sinh con đường dẫn tới giác ngộ, và các
kinh điển Phật giáo thời kỳ đầu ghi lại nhiều ví dụ
đắc quả giác ngộ của các môn đệ đi theo ngài.
Kết
hợp với ý tưởng tái viên thành, rõ ràng Phật giáo xem mọi
sinh linh đều tiềm ẩn khả năng đi tới điểm tột cùng
ở đó bản thân mình đạt giác ngộ. Do đó, Phật giáo quả
quyết rằng mỗi người là một vị Phật sẽ thành. Ðặc
điểm cá biệt của học thuyết Như Lai tạng – Phật tính
và Chân như – này là “chúng ta đang là Phật, chúng ta là
Phật rồi” nhưng chúng ta không thể thấy ra điều ấy vì
chúng ta hiểu thế giới này theo cách hão huyền, viển vông,
không đúng với thực tế ấy.
Ðiều
ấy tự nó mang nội hàm đặc thù trong việc thực hành Phật
giáo. Thí dụ người Phật giáo Tây Tạng có thể tự hình
dung mình theo dạng thức của một vị Phật hay một vị Bồ
tát. Việc hình dung như thế không bị đánh giá là tự đề
cao hoặc hoang tưởng. Ðó là một nỗ lực đi tới quá bên
kia ảo giác về sự tách biệt để thấy bản tính chân chính
của ta: Phật tính. Cũng một cách y như thế, truyền thống
Thiền tông Tào Ðộng có thể lập luận rằng trong thời gian
bạn ngồi thiền, bạn là một vị Phật. Sư Ðạo Nguyên Hi
Huyền (1200-1253) nói: “Toạ thiền tự nó là giác ngộ. Ngồi
một phút là làm Phật một phút”. (Xem Cẩm nang sống Thiền,
Nguyễn Ước, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2007).
Phật
tính và tiểu ngã
Nhưng
– và đây là điểm quan trọng đối với bất cứ diễn giải
nào về Phật giáo Ðại thừa – điều ấy không có nghĩa
rằng có một bản ngã bên trong ta, tự hiện hữu thường
tại và được gọi là Phật tính, đang chờ thời điểm giác
ngộ để nhập làm một với Phật tính phổ quát nào đó.
Nghĩ như thế thì, một cách chính xác, hoàn toàn giống hệt
với ý tưởng của Ấn giáo về một tiểu ngã (atman) đang
vươn lên, chờ tới lúc hoà nhập, trở nên làm một với
Brahman (Ðại ngã).
Ðúng
hơn, Phật tính chứa đựng hàm ý rằng giác ngộ là trạng
thái tự nhiên, và ảo giác mê lầm là trạng thái phi tự
nhiên. Chúng ta đều có tiềm năng thấy sự vật như nó đang
là, để sống với cái nhìn thấu suốt đó thay vì sống với
ảo giác mê lầm.
Còn
nữa, nếu bị thông giải sai lạc mà hiểu Phật tính theo
nội dung “bản ngã chân chính” như một số nhà tư tưởng
thuộc phong trào New Age (Thời đại mới), lúc đó Phật tính
hoá ra cái gì đó cho bạn khao khát bám víu và vì thế, nó
trở thành một nguồn gốc khổ não của bạn. Và đối với
người Phật giáo, thông giải và khao khát như thế tức là
đang tự mình làm cho mình cho mình thất bại.
VI.
Học thuyết Ba Thân
Phật
là tước hiệu, mang ý nghĩa “Ðấng giác ngộ”. Trong cách
gọi trực tiếp và rành mạch nhất, danh hiệu Ðức Phật
nếu dùng riêng là chỉ có ý đề cập tới ngài Tất-đạt-đa
Cồ-đàm. Nhưng về mặt học thuyết, Phật giáo nới khá rộng
ý nghĩa của từ ngữ Phật ra ba cách:
Phật
giáo tin rằng đã đang và sẽ có thêm nhiều đấng giác ngộ
khác. Trong khi xem xét những truyền thống Phật giáo sớm sủa
nhất, chúng ta đã tìm thấy ý tưởng về một vị Phật tương
lai, đấng sẽ đến để phục hồi Phật pháp khi những lời
giảng ấy gặp thời suy mạt ở chốn thế gian. Và đấng
ấy là Phật Di Lặc.
Trong
truyền thống Ðại thừa, ý niệm ấy được dàn trải sâu
rộng hơn để gồm vào nhiều vị Phật, mỗi vị có phẩm
tính cá biệt hoặc phô bày một dạng thức trí huệ đặc
thù. Quan điểm đó làm nổi bật ý tưởng rằng quả vị
được Phật Thích Ca thành tựu mang ý nghĩa trọng đại và
phổ quát, và đó cũng là khả năng thành tựu của hết thảy
chúng sinh, như chúng ta đã thấy ở phần trên về ý tưởng
“Phật tính” và “Như Lai”.
Theo
lời ghi lại trong kinh điển, Ðức Phật từng nói “Người
nào thấy Pháp (Dharma: lời Phật giảng dạy và cũng là
chân lý) tức là thấy Ta”. Như thế, tiếng Phật
trở thành một thuật ngữ không chỉ dùng để nói tới những
ai đã giác ngộ mà còn nói tới chân lý được vén lộ trong
sự giác ngộ ấy.
Còn
nữa, trong khi chiêm nghiệm và quán tưởng như ứng dụng phương
pháp tự hình dung hoá – cách riêng theo truyền thống Tây
Tạng – có triển khai một cấp độ phong phú, bao gồm toàn
bộ các hình dung về chư Phật và chư Bồ tát với những
hình ảnh và màu sắc đa dạng, mỗi ảnh sắc phô diễn một
khía cạnh của giác ngộ.
Chi
tiết Ba Thân
Ba
cách thức vừa kể đã dẫn đưa Ðại thừa tới các lời
giảng được gọi là Ba Thân (trikaya). Học thuyết ấy tuyên
bố rằng có ba thân của Phật:
Pháp
thân (dharmakaya). Tự tính của Phật vốn sáng suốt, trung lương,
chiếu rọi khắp nơi mọi lối. Ðây thực là chân thân của
Phật. Pháp thân cũng được hiểu là thể tính thật sự của
Phật, đồng nghĩa với Chân như là thể tính của vũ trụ.
Ðây cũng là Phật tính mà mọi sinh linh đều có chung, và
cũng là Pháp hiểu theo hai nghĩa: một là qui luật vận hành
trong vũ trụ, hai là những lời giảng của Ðức Phật Thích
Ca.
Báo
thân (sambhogakaya). Thân do công đức và giác ngộ của các
Bồ tát hoá hiện cho chúng sinh thấy. Cũng vì thế được
gọi là Thụ dụng thân, thân hưởng thụ được qua những
công đức thiện nghiệp đã tạo. Các thân Phật này – ba
mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp – được mô tả
trong kinh điển Ðại thừa và được hình dung trong tu tập
sùng kính, phô bày một cách hình tượng các phẩm tính của
giác ngộ.
Hoá
thân (nirmanakaya). Còn gọi là Ứng thân. Thân xuất hiện của
Phật trên thế gian này trong nhân dáng loài người để tuỳ
vào từng loại chúng sinh khác nhau mà giao tiếp và cứu độ.
Hoá thân này cũng bị chi phối bởi quá trình sinh lão bệnh
tử như con người bình thường.
Lai
lịch và ý nghĩa thực dụng
Học
thuyết Ba Thân xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ tư sau
CN. Người diễn giải rõ nhất về nó là Vô Trước, vị đại
luận sư sáng lập Du già hành tông, tiền thân của Duy thức
tông. Học thuyết này có điểm xuất phát từ các quan niệm
của Ðại chúng bộ trong đó nhấn mạnh tính chất tuyệt
đối và siêu nhiên của các vị Phật. Dần dần, nhân vật
Phật lịch sử – Ðức Thích Ca Mâu Ni – lùi vào phía sau.
Các quan niệm này về sau được Ðại thừa chấp nhận, triển
khai và để lại những dấu ấn sâu sắc.
Nội
dung của Ba Thân cho thấy chư Phật đều tinh khiết cả thể
chất lẫn tinh thần với cuộc sống vĩnh cửu và quyền năng
vô hạn. Ý tưởng về một không gian vô hạn chứa vô số
vũ trụ cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển
của học thuyết này. Ðể cứu độ mọi sinh linh sống trong
không gian vũ trụ mênh mông ấy, phải có vô lượng Bồ tát
mới đáp ứng kịp thời và thoả đáng.
Quan
điểm ấy chú trọng tới Hoá thân, và nhất là Pháp thân.
Các vị Phật xuất hiện trong vũ trụ mênh mông ấy là hiện
thân của Pháp thân. Vì lòng từ bi của mình, và vì lợi ích
của chúng sinh, chư vị ấy đến với thế gian để cứu độ.
Cùng
đích là giác ngộ
Phần
trình bày về Ba Thân ở trên chỉ giới hạn trong triết học
Ðại thừa, chưa bước sang phạm vi Thiền tông và Kim Cương
thừa. Ngang đây, chúng ta dừng lại một chút để đưa ra
vài nhận xét.
Hoá
thân và Báo thân tuỳ thuộc vào Pháp thân. Thái tử và tu
sĩ Tất-đạt-đa chỉ được gọi là Phật kể từ thời điểm
ngài giác ngộ. Cũng thế, những ảnh sắc muôn hình muôn vẻ
của Báo thân chỉ mang ý nghĩa các khía cạnh của một tâm
trí đã giác ngộ; chúng không có thực tại, cũng chẳng có
quyền năng nào ngoài tầm mức chúng khiến cho người tu tập
có khả năng chạm tới các phẩm tính đặc thù và nhờ thế,
bản thân người ấy tự chuyển động hướng tới giác ngộ.
Như
thế, với điều kiện người ta không hiểu sai lạc theo nghĩa
đen nào đó về Ba Thân của các vị Phật, học thuyết Ba
Thân được sử dụng đơn thuần cho những gì mang hàm ý nguyên
thuỷ trong lối dùng để gọi Ðức Thích Ca – bởi vì chính
ngài là đấng nhận biết bản tính chân chính của vạn sự;
ngài phô bày và giảng dạy các phẩm tính được hàm chứa
trong sự thức ngộ.
Thử
đối chiếu với Kitô giáo
Ba
Thân nêu trên không phải là ba trạng thái độc lập, mà biểu
hiện cho một đơn vị duy nhất. Từ ngữ Ba Thân (trikaya) cũng
được dịch sang tiếng Anh là Trinity và tiếng Pháp là Trinité,
cũng là từ ngữ Anh/Pháp được dùng cho Thiên Chúa Ba ngôi:
Cha, Con và Thánh thần (hoặc Thánh linh). Có lẽ cũng khá hấp
dẫn nếu ta thử thăm dò, tìm kiếm những tương đồng giữa
quan điểm của Kitô giáo về Thiên Chúa Ba ngôi và của Phật
giáo về Ba Thân Phật.
Trước
hết, ở cấp bậc cụ thể, cả hai quan điểm ấy hoàn toàn
khác nhau vì Phật giáo mang tính vô thần chủ nghĩa, và do
đó, dù gì đi nữa, Ba Thân cũng không thể dùng để nói tới
các hữu thể thiêng liêng.
Thế
nhưng, từ điểm nhìn của triết học về tôn giáo, có điểm
tương đồng nhất định liên quan tới cách triển khai quan
điểm ấy:
Trong
truyền thống Kitô giáo, “Cha”, qua hành động sáng thế,
có thể được dùng để nói tới ý nghĩa nền tảng của
cấu trúc và cứu cánh trong vũ trụ – cái thực tại tối
hậu, hiện hữu tự thân nó. “Con” là tước hiệu dùng
để gọi Ðức Giêsu, như cách thế phô bày niềm tin rằng
ngài là sự mạc khải độc nhất của Thượng đế trong hình
dạng con người. Và thế thì “Thánh thần” hẳn có ý nói
tới nguồn cội các phẩm tính tâm linh được nếm trải trong
cộng đồng Kitô giáo.
Do
đó, bạn có thể lập luận rằng có điểm tương đồng giữa
Báo thân với Thánh thần, giữa Hoá thân với Con, liên quan
tới chức năng của hai cặp ấy trong khung triết học / tôn
giáo tổng thể.
Ngược
lại, cần phải thừa nhận rõ rệt rằng trong Phật giáo,
Ba Thân Phật có ý nói tới một quá trình phát triển tâm
linh, trái lại, trong Kitô giáo, Thiên Chúa Ba ngôi được dùng
để nói tới các thực tại thiêng liêng độc lập chứ không
phải là các khía cạnh trải nghiệm tôn giáo của con người.
Thế
nhưng đối chiếu như vậy e có vẻ sẽ tạo thành một cuộc
thảo luận với nhiệt tình càng lúc càng mạnh, tăng thêm
phần sôi nổi náo nhiệt chứ không rọi đôi chút ánh sáng
nhằm làm sáng tỏ vấn đề, vì từ các tiền giả định
triết học khác nhau, cả Ba Thân lẫn Ba ngôi đều nhấn mạnh
tính tôn giáo, đặt trên niềm tin, và đều đi tới những
cấu trúc có vẻ ngoài na ná chứ không thật sự giống nhau.
VII.
Vũ trụ luận
Ở
tâm điểm của kinh Diệu pháp Liên hoa, có một hình ảnh cực
kỳ thú vị về nhiều hệ thống khác nhau, trải rộng khắp
mười hướng không gian; trong mỗi hệ thống thế giới ấy
có một vị Phật. Vũ trụ quan ấy mênh mông và phức tạp.
Cõi
Ta-bà của chúng ta
Thế
giới hiện tại này được gọi là Ta-bà thế giới – hoặc
Sa-bà thế giới (sahalokadhatu) – là cõi con người chịu nhiều
khổ não nên cần chịu đựng và nhẫn nại để tu tập hầu
đạt chánh quả. Do đó, thế giới Ta-bà, hoặc cõi Sa-bà này,
cũng được định nghĩa là Nhẫn độ, hoặc Kham nhẫn thế
giới, một thế giới đòi hỏi con người phải nhẫn nhục,
khéo chịu đựng.
Theo
một phạm vi ý nghĩa nhất định, cõi Ta-bà này tầm thường,
rẻ rúng, hoàn toàn trái ngược với bức phông vĩ đại vẽ
nên hậu cảnh vũ trụ bao la. Nhưng đồng thời hình ảnh Ta-bà
cũng gợi cho thấy hết thảy các hệ thống thế giới khác
với các vị Phật của chúng đều hiệp cùng nhau công nhận
rằng Ðức Phật Thích Ca đã và đang truyền giảng Pháp chân
chính, và đó cũng chính là loại Pháp được các vị Phật
khác truyền giảng trong mỗi hệ thống thế giới của mình.
Toàn
bộ hình ảnh bao la và gợi cảm ấy có thể khiến người
ta có khuynh hướng tô vẽ và triển khai theo kiểu mà chúng
ta tìm thấy khắp nơi trong các tác phẩm văn học của Phật
giáo cũng như của Ấn giáo. Thế nhưng thật sai lầm khi thông
giải nó một cách giản dị để đi tới kết luận rằng
đó là một loại suy tưởng mang tính vũ trụ luận của Phật
giáo.
Có
truyền thuyết rằng Ðức Phật không thảo luận về vấn
đề thế giới này có một khởi thuỷ hay không, vì đó hẳn
là vấn đề không thể nào có câu trả lời. Và trong điều
kiện tốt nhất, nó cũng chỉ làm xao lãng nỗ lực chuyên
chú diệt khổ. Như thế, trong học thuyết Phật giáo, hẳn
không có thành phần được gọi là suy tưởng mang tính vũ
trụ luận. Ðúng hơn, chúng ta nên tìm kiếm cứu cánh chủ
yếu mà người đưa ra hình ảnh vũ trụ ấy muốn nó tác
động lên người nghe hoặc người đọc. Tính xuyên sâu của
toàn bộ hình ảnh ấy cho thấy rằng Ðức Phật hiện tại
và hệ thống thế giới này được đặt trong một bối cảnh
có ý nghĩa trọng đại, hằng cửu và phổ quát, bất chấp
vẻ ngoài của nó trong cõi thế vô thường.
Ði
tìm lý do khác
Nói
cách khác, có thể xem cái có vẻ là “suy tưởng mang tính
vũ trụ luận” trong Phật giáo Ðại thừa chỉ là lời giải
thích xuất phát từ nhu cầu phải:
Thể
hiện tính thích đáng, phổ quát của Phật pháp;
Bộc
lộ tính tầm thường vô nghĩa và tương đối của hệ thống
thế giới hiện tại.
Do
đó, nó không có nghĩa đòi hỏi chúng ta phải tin – như một
đức tin – vào các hệ thống thế giới khác theo kiểu cách
đã trình bày. Một đức tin như thế hẳn hoàn toàn xa lạ
với lối tiếp cận mang bản sắc Phật giáo.
Tính
tương sinh, tương nhập của mọi sự
Cùng
với vô lượng hệ thống thế giới, vũ trụ luận Ðại thừa
còn một đặc điểm quan trọng khác. Ðó là khái niệm Hoa
nghiêm. Khởi đi từ bộ kinh cơ bản của Ðại thừa có tên
là Ðại phương quảng phật hoa nghiêm kinh, thường được
gọi tắt là Kinh Hoa nghiêm (Avatamsaka-sutra) mà ngày nay chỉ
còn tìm thấy trong dạng chữ Hán và chữ Tây Tạng; phần
chữ Hán được dịch vào thế kỷ thứ 5.
Ðược
gọi là học thuyết về tính toàn thể, Hoa nghiêm chỉ chuyên
nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng mà thôi. Ý
tưởng Hoa nghiêm là tính nhân quả phổ biến của Pháp giới
(Dharmadhatu), theo đó mọi sự vật trong vũ trụ đều phát
sinh lẫn nhau – tương sinh tương xâm nhập – một cách tự
phát và đồng thời. Mỗi Dharma có sáu đặc trưng căn bản:
tính phổ biến, tính riêng biệt, tính giống nhau, tính đặc
thù, tính hợp nhất và tính phân hoá.
Hết
thảy các Dharma của vũ trụ đều:
Phụ
thuộc lẫn nhau;
Qui
định lẫn nhau;
Không
thể tồn tại trong tách biệt;
Cùng
tồn tại trong hoà hợp với nhau;
Ðều
nằm trong trạng thái Chân như, gồm hai mặt:
Mặt
tĩnh là không tính, lãnh vực hoạt động của “Nguyên lý”
(Lý);
Mặt
động biểu hiện ở thế giới của các hiện tượng đồng
nhất và xâm nhập lẫn nhau (Sự).
Lý
và Sự tương tác mà sinh ra toàn thể vạn vật.
Trạng
thái tương sinh tương xâm nhập của các hiện tượng khiến
cho mỗi hiện tượng đều bao gồm tất cả các hiện tượng
khác và tất cả các hiện tượng đều là biểu hiện của
Nguyên lý thống nhất. Do đó, nó khiến cho mọi thế giới
và mọi hiện tượng trong mỗi thế giới là hiện thân của
một thực thể tối thượng và đồng một thể với Phật
tính.
Như
thế, khái niệm Hoa nghiêm có liên quan phần lớn tới học
thuyết Như Lai tạng và phần nào tới ý tưởng căn bản của
Phật giáo về sự “tương sinh bị điều kiện hoá”. Ðó
cũng là quan điểm căn bản của Phật giáo về thực tại,
nhưng Hoa nghiêm bao gồm các nội hàm nhằm am hiểu Phật tính
của mỗi cá thể vì nó cho rằng mỗi cá thể là biểu thị
của Nguyên lý Phật phổ quát và do đó, cá thể nào cũng
có giá trị cố hữu.
Văn,
triết và đạo đức học
Ở
đây, thêm một lần nữa, cần để ý rằng cái có thể xem
là suy tưởng mang tính vũ trụ luận của Phật giáo ấy, trong
thực tế, chỉ là phương cách trình bày – hẳn có tính văn
học và triết lý – cái nhìn căn bản của Phật giáo về
mọi sự vật đều phát sinh lệ thuộc vào các điều kiện;
chúng không có sự tồn tại thường trực, cố hữu và độc
lập. Mặt khác, việc nhìn vũ trụ dưới dạng tương sinh
tương xâm nhập của mọi sự vật có nội hàm mênh mông.
Nó liên quan tới việc ta tự mình am hiểu, đánh giá và thưởng
ngoạn cái có tính nhất thời, và cũng liên quan tới định
hướng đạo đức của ta. Thế nên không lạ chút nào khi
đoạn cuối của phẩm dài nhất và quan trọng nhất của bộ
kinh Hoa nghiêm lại trình bày mười đại nguyện, dùng làm
cơ sở cho cuộc sống Bồ tát. Và hai bài kệ quan trọng của
kinh ấy là:
1.
Nếu
người muốn biết,
Tất
cả Phật tam thế
Phải
quán tính Pháp giới
Tất
cả do tâm tạo.
2.
Nếu
người muốn biết cảnh giới Phật
Ý
căn thanh tịnh như hư không
Xa
lìa vọng tưởng và chấp thủ
Khiến
tâm khắp nơi đều vô ngại.
(Thích
Duy Lực dịch, trích theo Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách,
sách đã dẫn, tt. 123-124).
So
với triết học Tây phương
Nếu
đem khái niệm Hoa nghiêm vừa kể đối chiếu với triết học
Tây phương, có lẽ nơi gần gũi nhất là chủ nghĩa thần
bí hay huyền học (mysticism), hoặc qua các sách báo của những
người có liên quan tới sinh thái học. Vì chính trong sự đánh
giá bản tính tương liên nối kết của sự sống trong các
hệ thống sinh thái khiến chúng ta chạm tới ý nghĩa trọng
đại của học thuyết Hoa nghiêm.
Ba
thế giới
Chúng
ta có thể thăm dò quan điểm căn bản của Ðại thừa về
vũ trụ quan của đạo Phật theo những cách thức được trình
bày trong các tác phẩm lớn lao về số lượng và tầm cỡ
của Ðại thừa. Một trong những cách thức ấy liên quan tới
khái niệm về ba thế giới (triloka) của thực tại, hoặc
của vòng sinh tử, nơi các loài hữu tình tái sinh theo sáu
dạng đời sống gọi là Lục đạo – sáu con đường sống
chết của chúng sinh, gồm 3 cõi lành: trời, A-tu-la và người,
và 3 cõi ác: súc sinh, ngạ quỷ, địa ngục.
Sáu
cõi ấy nằm trong ba thế giới gồm:
Dục
giới. Thế giới trong đó có trái đất của chúng ta, gồm
chúng sinh vừa có sắc thân – cái thân vật chất do bốn
yếu tố đất nước lửa gió tạo thành – vừa có lòng tham
dục.
Sắc
giới. Thế giới trong đó chúng sinh đã gột bỏ hết lòng
tham dục nhưng vẫn còn sắc thân.
Vô
sắc giới. Thế giới gồm chúng sinh không những không còn
lòng dục mà cũng chẳng còn sắc thân, chỉ còn tâm linh thuần
tuý.
Năm
vị Phật
Có
một lối tiếp cận khác, đặc biệt liên quan tới thực hành
tôn giáo và chiêm nghiệm: quan điểm của Ðại thừa về “năm
vị Phật”. Ðó là năm dạng xuất hiện cơ bản của Báo
thân, thể hiện phẩm tính năm mặt khác nhau của Trí huệ
(Bát nhã), nhưng cũng biểu hiện cho những năng lượng khi
còn xấu thì tạo ra thái độ tinh thần tiêu cực, và sau khi
đã chuyển hoá thì trở thành trí năng tích cực.
Mỗi
hiện tượng ấy mang một trong năm phẩm tính đó, nên có
thể xếp chung thành năm loại, hoặc năm gia đình lớn, được
dàn dựng theo Man-đa-la – bức tranh vẽ biểu tượng của
vũ trụ và sức mạnh trong vũ trụ. Mỗi vị Phật liên quan
tới một uẩn trong ngũ uẩn; diễn tả của Man-đa-la, mà nguyên
nghĩa là vòng tròn vòng cung, còn mang tính đồ hình về sự
tương liên nối kết của bản ngã với các đặc điểm nền
tảng của toàn bộ thực tại.
Năm
vị Phật của năm gia đình – Phật gia – ấy gồm:
Ðại
Nhật Như Lai. Màu trắng, ở trung tâm của Man-đa-la. Năng lượng
này khi xấu thì vô minh, căn nguyên của luân hồi, được
chuyển hoá thì thành trí huệ hoàn hảo;
Bất
Ðộng Như Lai. Màu xanh thẫm, đặt ở phía đông. Năng lượng
này khi xấu thì sân hận, được chuyển hoá thì thành trí
viên mãn như gương tròn sáng;
Bảo
Sinh Như Lai. Màu vàng, đặt ở phía nam. Năng lượng này khi
xấu thì kiêu mạn, được chuyển hoá thì thành Bình đẳng
tín trí, trí năng bình thản;
A-di-đà
Như Lai. Màu ráng đỏ, đặt ở phía đông. Năng lượng này
khi xấu thì tham dục, cùng hung cực ác, được chuyển hoá
thì thành Diệu quan sát trí, trí năng phân tích để phân biệt;
Bất
Không Thành Tựu Như Lai. Màu xanh lục, đặt ở phía bắc.
Năng lượng này khi xấu thì ganh ghét, được chuyển hoá thì
thành Thành sở tác trí, trí năng sung mãn;
VIII.
Cuộc suy tàn của Phật giáo tại Ấn Ðộ
Sau
một thời gian dài rất rực rỡ, tới thế kỷ thứ 3 hoặc
thứ 4 sau CN, Phật giáo bắt đầu mờ nhạt dần. Cuộc suy
vi tại Ấn Ðộ kéo dài chầm chậm trong một ngàn năm tiếp
sau đó được các học giả phân tích với các nguyên nhân
đa dạng. Tuy thế, trong đó có bốn lý do quan trọng nhất.
Tầm
cao kinh tế xã hội
Lý
do thứ nhất liên quan tới quá trình tiến triển của Phật
giáo về mặt xã hội. Vào thời kỳ đầu, Phật giáo có sức
lôi cuốn cực kỳ những người thuộc cấp bậc cao trong hệ
thống phẩm trật kinh tế, chính trị và xã hội. Thậm chí
trong thời cực thịnh, Phật giáo với truyền thống văn hóa
và triết học rất cao, đã nhận được sự hỗ trợ mạnh
mẽ của giới ưu tuyển chính trị và kinh tế. Ðiều ấy
không có nghĩa Phật giáo tự mình đoạn lìa với các giai
tầng xã hội thấp hoặc không thiết lập được cơ sở tại
vùng nông thôn nơi sinh sống đa số dân chúng Ấn Ðộ. Tuy
thế, nó có nghĩa rằng Phật giáo không trải rộng và thấu
sâu vào người dân thường trong xã hội cho bằng Ấn giáo.
Do đó, Phật giáo dễ bị tổn thương trước các sức mạnh
đang làm thay đổi tình trạng kinh tế và chính trị.
Tình
trạng cô lập của tu viện
Lý
do thứ hai liên quan mật thiết tới sự suy tàn của Phật
giáo tại Ấn Ðộ là hố ngăn cách ngày càng rộng giữa các
cộng đoàn tu viện và quần chúng Phật tử tại gia, mà cả
hai vốn được giả định là cùng kết hiệp chặt chẽ.
Theo
lý tưởng Phật giáo, giới tu sĩ và giới cư sĩ tương thuộc:
tu sĩ cung ứng lý tưởng tôn giáo và những lời giảng về
Phật pháp, còn cộng đồng cư sĩ cung cấp những hỗ trợ
vật chất như thực phẩm, y phục và nơi ở, nói theo kiểu
ngày nay là “hộ trì tam bảo”. Tuy nhiên, khi các tu viện
ngày càng trở thành những định chế tự túc dồi dào và
làm chủ đất đai, giới tu sĩ cảm thấy không nhất thiết
phải chăm lo vận động sự hỗ trợ của giới cư sĩ. Hậu
quả là mối liên hệ hỗ tương giữa họ và dân chúng dần
dần biến mất.
Sức
sống của truyền thống Bà-la-môn
Khoảng
năm 186 trước CN, triều đại Sunga nắm quyền ở bắc Ấn,
khước từ Phật giáo và khích lệ các truyền thống “chính
thống” của Ấn giáo. Từ thời điểm đó, Phật giáo phải
đối mặt với sự hồi sinh của Ấn giáo. Tăng lữ Bà-la-môn
sáng tạo các dạng thức mới mẻ để triển khai tư tưởng
triết học của mình, thí dụ hệ thống Phi nhị nguyên chính
thống của Sankara trong đó kết hợp nhiều cái nhìn thấu
suốt của Phật giáo, để từ đó thiết lập các hình thức
mới của đời sống thảo am và tu viện. Giới tu sĩ Bà-la-môn
tìm cách chính thống hoá Ðức Phật, xem ngài là một hóa
thân của Vishnu, vị thượng đế có rất nhiều hóa thân,
như Rama và Krishna, v.v…, và đưa ngài vào đền thờ các thần
linh Ấn giáo.
Người
Ấn giáo cũng đặt ra một hệ thống nghi lễ tôn giáo có
tính tổng hợp, trực tiếp đáp ứng thoả đáng các nhu cầu
tôn giáo và xã hội đa dạng của dân chúng. Cụ thể là sự
hỗ tương ảnh hưởng giữa Mật tông Phật giáo và Mật giáo
Ấn độ đã góp phần hóa giải ảnh hưởng đặc thù của
Phật giáo. Trong khi đó, giới Bà-la-môn bắt đầu phát động
các phong trào tận hiến, ra sức lôi cuốn sự yểm trợ rộng
rãi của người dân Ấn, và Ấn giáo có thể thu hút và bảo
lưu được ngày càng nhiều lòng trung thành của tầng lớp
thượng lưu cũng như dân thường.
Các
cuộc ngoại xâm
Trong
thế kỷ 6, các đạo quân Bạch Hung càn quét qua nhiều khu
vực Trung Á và tây bắc Ấn Ðộ. Sau người Bạch Hung, tới
lượt các bộ lạc Trung Á tới và định cư giữa vùng bình
nguyên sông Indus và Hằng Hà. Kế đó, qua thế kỷ 8, người
Ả-rập Hồi giáo tới ở tại cửa sông Indus. Dần dà, các
đạo quân Hồi giáo chiếm đóng luôn cả Đông Ấn. Khoảng
thế kỷ 13, người Hồi giáo dựng lên một đế quốc bao
gồm toàn bộ vùng Bắc Ấn. Trong dòng tiến quân của họ,
các nhóm binh sĩ Ả-rập khác nhau phá huỷ nhiều trung tâm
Phật giáo lớn, thiêu huỷ kinh sách và làm tiêu hao nhiều
cộng đoàn tăng ni. Thêm nữa, một khi nắm quyền lực, người
Hồi giáo xâm lăng đạt được những thành quả lớn lao trong
việc cải đạo những tín đồ Phật giáo sang Hồi giáo.
Tới
đầu thế kỷ 13, Phật giáo gần như bị triệt tiêu tại
Bắc Ấn ngoại trừ một số ít nhóm sống rải rác. Tuy vậy,
đạo Phật vẫn được thực hành tại Nam Ấn cho tới thế
kỷ 15, rồi biến mất. Từ lúc ấy cho tới thế kỷ 20, tại
Ấn Ðộ, Phật giáo được thể hiện chủ yếu trong những
di tích đền đài cùng ảnh hưởng thẩm thấu và trường
tồn trong Ấn độ giáo, Hồi giáo, đạo Sikh, và các truyền
thống dân dã khác, làm thành văn minh Ấn độ. Ngay trong tâm
thức của người Ấn giáo, kể cả các bậc đạo sư lẫn
giới trí thức, Ðức Phật vẫn là niềm hứng khởi và hình
ảnh của một đấng cứu độ, đại tôn sư về tâm linh và
giác ngộ.
Ở
bên ngoài Ấn Ðộ, công cuộc hoằng pháp ngày càng thịnh
đạt với những triển khai muôn hình muôn vẻ. Ngay từ đầu
công nguyên, nhờ con đường truyền giáo Nam tông và Bắc tông,
Phật giáo không biến mất mà càng lúc càng được kiến thiết
và duy trì sống động trong cuộc sống hằng ngày trên các
miền đất mới. Sang tới đầu thế kỷ 21, với tinh thần
từ bi, phá chấp, phi cơ chế và chứng nghiệm của mình, Phật
giáo ngày càng được đón nhận rộng rãi, đầy nhiệt tình
trong giới trí thức phương Tây, và đang phát huy nền triết
học thâm sâu cùng thể hiện tính cách bao dung và tự lực
trên đường trở thành một tôn giáo thế giới.
IX.
Triển khai về sau của Ðại thừa
Chúng
ta đã nhìn vào một số đặc điểm căn bản của triết học
Phật giáo. Trong khi từ Ấn Ðộ, Tiểu thừa truyền qua ngả
Tích Lan tới Miến Ðiện, vương quốc Khmer, Indonesia, và vùng
đất về sau là Thái Lan, Ðại thừa bắt đầu truyền sang
Trung Á, Tây Tạng và đặc biệt các nước Á đông đồng
văn như Việt Nam, Trung Hoa, qua Triều Tiên tới Nhật Bản.
Bánh xe hoằng pháp càng lăn trên những vùng đất văn hoá
xa lạ thì càng cuộn vào nó vô số dấu vết mới mẻ và
những hình thức chuyển động thích nghi. Sự kiện ấy được
phản ánh trung thực trong sinh hoạt nghi lễ và nét vẽ, chạm
khuôn mặt Phật cá biệt, tương ứng với hình ảnh người
dân bản địa, cùng lối kiến trúc bên ngoài và trang trí
bên trong các đền chùa.
Phật
giáo là một tôn giáo và cũng là một triết học, trong cuộc
vận hành trên những vùng đất mới ấy, nảy sinh những triển
khai tư duy và thực hành đáp ứng yếu tính và nhu cầu đặc
thù mỗi dân tộc, nhưng tựu chung, vẫn dựa trên nền tảng
Phật pháp truyền thống. Tuy thế, có một số tông phái Phật
giáo cho thấy các lý thuyết triết học mờ nhạt hơn các
biểu hiện tôn giáo. Dưới đây, ta sẽ đề cập đôi nét
về Phật giáo Trung Hoa, Tây Tạng và Nhật Bản, nhìn thoáng
qua Phật giáo Việt Nam, là những nơi có các triển khai đặc
thù, mang ý nghĩa triết học.
1.
Tại Trung Hoa
Theo
ngả Bắc tông, Phật giáo truyền sang Trung Hoa rồi mang một
hình thức cá biệt; nói theo một số học giả, Phật giáo
đã được phần nào Trung Hoa hoá.
Các
giai đoạn thăng trầm
Có
thể chia quá trình phát triển Phật giáo tại Trung Hoa làm
4 thời kỳ.
Thời
sơ khai, khi mới du nhập Trung Hoa – thế kỷ 2 sau CN, Phật
giáo bị xem như một loại phương thuật thần tiên, phần
vì phải dùng ngôn ngữ Ðạo giáo để diễn tả giáo thuyết
và dịch kinh sách Phật, phần vì những người Hán đầu tiên
theo đạo Phật là người từng theo Ðạo giáo. Dấu vết này,
cả về học thuyết lẫn nghi lễ, còn được ghi sâu đậm
và lâu dài, tiêu biểu trong trong một số tác phẩm văn học
như Tây du ký của Ngô Thừa Ân và Hồng lâu mộng của Tào
Tuyết Cần, v.v…
Sang
thời phát triển, từ thế kỉ 3 tới thế kỉ 5, kinh Phật
tìm thấy ngôn ngữ tương đối thích hợp và được dịch
rất nhiều. Trung Hoa có cộng đoàn Tăng già từ năm 355. Thời
này nổi bật cao tăng Chi Ðộn (314-366) sáng lập trường phái
Bát nhã, một trong Lục gia thất tông. Năm 399, sư Pháp Hiển
là người đầu tiên thật sự đi Ấn Ðộ học hỏi và thu
thập kinh sách. Sư Cưu Ma La Thập (344-413) có công lớn dịch
kinh điển Ðại Thừa và truyền bá rộng rãi giáo pháp của
Trung quán tông. Không thể không kể tới đại công của sư
Chân Ðế (499- 569), người dịch 64 cuốn kinh, đưa Duy thức
tông vào. Ðóng vai trò quan trọng trong thời kỳ này là các
kinh Nhập Lăng già, Ðại bát niết bàn và Thành thật luận.
Từ đó đưa tới sự ra đời của các phái Tam luận tông,
Thành thật tông, Niết bàn tông. Ðây là thời Phật giáo phát
triển rộng rãi, được sự ủng hộ của triều đình, xây
nhiều chùa và cho ra đời nhiều tác phẩm.
Kế
đó, tới thời cực thịnh từ thế kỷ 6 tới thế kỷ
10. Nhân vật kiệt xuất là cao tăng Huyền Trang Tam Tạng (600-664),
người sáng lập Pháp tướng tông, một dạng của Duy thức
tông. Sư du hành Ấn Ðộ trong 16 năm, giảng học tại Viện
Phật học Nalanda rồi mang về và dịch hàng trăm bộ kinh.
Thời này xuất hiện các tông như Hoa nghiêm, Thiên thai, Tịnh
độ, v.v… và đặc biệt Thiền tông mà ta sẽ đề cập chi
tiết trong chương 9. Cùng với thời kỳ trước, Phật giáo
Trung Hoa tàng trữ được rất nhiều kinh sách dịch từ Phạn
ngữ,
và tới lượt kho tàng này được nghiên cứu trở lại sau
khi tại Ấn Ðộ, rất nhiều kinh sách nguyên ngữ bị thất
lạc.
Tiếp
đến là thời suy yếu hoặc hoà đồng. Từ thế kỷ 13,
dưới triều đại Tống, Phật giáo Trung Hoa không bao giờ
trở lại được thời huy hoàng ngày trước. Phật giáo hoà
nhập với Nho giáo và Ðạo giáo và để lại dấu ấn quan
trọng của Tam giáo trong nền văn hoá; chỉ còn Thiền tông
và Tịnh độ tông là quan trọng. Sang tới thời Nguyên, Minh,
Thanh, Phật giáo càng sa sút. Các tông phái dung hợp nhau và
vấn đề Tâm tính trở thành trọng tâm của triết học. Có
khuynh hướng Thiền Tịnh hợp nhất, gây được ảnh hưởng
đáng kể, với cao tăng Vân Thê Châu Hoằng (1535-1615). Sau đó,
từ thế kỷ 17 tới 20, Phật giáo Tây tạng bắt đầu lan
sang và có tác động, nhưng tới thời Cách mạng Văn hoá (1966-1976)
Phật giáo Trung Hoa lại gặp cơn khốn đốn.
Lục
gia thất tông
“Sáu
nhà bảy phái” hình thành trong giai đoạn phát triển của
Phật giáo, khoảng thế kỷ thứ 4. Thời Nguỵ Tấn, vì mới
khởi sự dịch kinh nên có rất nhiều điểm mơ hồ về kinh
nghĩa và dùng từ ngữ của Lão Trang nên sinh ra nhiều cách
hiểu khác nhau. Dưới ảnh hưởng của Ðạo giáo và vì thiếu
ngôn từ thích đáng, các nhà Phật học thời đó liền liên
tưởng tới khái niệm Vô, dùng nó để tiếp cận chữ Không.
Còn nữa, những tranh luận về Huyền học đương thời cũng
được đưa vào nội dung nghiên cứu kinh Bát nhã ba la mật,
dẫn tới sự ra đời Bát nhã học làm nảy sinh “sáu nhà”:
Bản vô tông, Tức sắc tông, Thức hàm tông, Huyễn hoá tông,
Tâm vô tông và Duyên hội tông. Sau có thêm Bản vô dị tông
từ Bản vô tông phân ra, nên được gọi là Lục gia thất
tông.
Khuôn
mặt nổi bật trong Lục gia thất tông là cao tăng và nhà thơ
Chi Ðộn (314-366), còn gọi là Chi Ðạo Lâm. Sư vốn họ Quan,
người đất Trần Lưu (nay ở phía đông Khai Phong, tỉnh Hà
Nam). Ðọc kinh từ nhỏ, năm 25 tuổi xuất gia, có tài viết
chữ Thảo, chữ Lệ và thích nuôi ngựa. Có người nói nuôi
ngựa không phải là việc người tu hành nên làm, sư cười
đáp: “Bần đạo ưa cái vẻ thần tuấn của nó”. Hay thơ,
thích đàm luận huyền học và là bạn của nhà thư pháp Vương
Hi Chi (303-361). Ðược người đời gọi là “nhà huyền học
hoá”, sư viết nhiều sách, trong đó có Tức sắc huyền luận,
mở đầu lập thuyết và thành lập tông phái “Bát nhã học
tức sắc” trong Lục gia. Theo sư Chi Ðộn, “Tính của sắc
là không tự có sắc. Sắc không tự có nên tuy có sắc mà
là không, cho nên bảo sắc tức là không, sắc lại khác không”.
Quan điểm ấy về sau bị phê phán là chưa triệt để, chỉ
nhìn sắc không như do nhân duyên tạo thành, mà không nắm
vững tính chất thống nhất vừa Thể vừa Dụng của tinh
thần “sắc tức là không, không tức là sắc”.
Tuy
thế, sư Chi Ðạo Lâm là người đầu tiên luận giải danh
từ Lý dưới ánh sáng Phật giáo. Theo quan niệm truyền thống
từ Trung Hoa cổ đại, Lý là qui luật của vũ trụ, nhưng
đối với sư Chi Ðộn, Lý tức là Chân lý cùng tột, Tuyệt
đối, Chân như. Quan niệm Lý ấy về sau được các tông phái
khác tiếp thu và phát triển thêm, trong đó có Hoa nghiêm tông.
Tam
luận tông
Trong
lịch sử Phật giáo Trung Hoa, đây là tông phái đầu tiên
lập một hệ thống triết học, tuy trong mắt giới học thuật,
nó là một học phái hơn là một tông phái. Sở dĩ có tên
Tam luận tông vì đặt cơ sở lý luận trên hai bộ luận của
Long Thọ là Trung quán luận tụng, và Thập nhị môn luận
cộng với một bộ luận của Thánh Thiên là Bách luận.
Các
bộ luận ấy ở trong số 35 bộ 294 quyển kinh Phật, được
cao tăng Cưu-ma-la-thập (344-413) dịch và chú giải vào thế
kỷ 5, trở thành kinh điển cơ bản cho các học phái và tông
phái Phật giáo Trung Hoa. Sư chào đời ở Tây Vực, nay là
vùng Tân Cương, cùng mẹ gia nhập Tăng già từ năm 7 tuổi,
trước học Tiểu thừa sau qua Ðại thừa.
Năm
401, Cưu-ma-la-thập đến Trường An và bắt đầu công trình
dịch thuật trong hơn 10 năm, với sự góp sức của cả ngàn
nhà sư và được triều đình hỗ trợ tích cực. Năm 402,
sư được phong danh hiệu Quốc sư. Dưới sự chỉ đạo và
biên tập của sư, các bản dịch kinh sách Ðại thừa từ
Phạn ngữ (sanskrit) ra Hán văn đã mang một phong cách mới
và tìm được ngôn từ thích hợp. Sư chủ trương dịch theo
ý, dám cắt bỏ một vài đoạn không hợp và chuyển văn từ
cho hợp với người Hán. Với những bản dịch tác phẩm quan
trọng nhất của Long Thọ và Thánh Thiên, sư là người truyền
bá triết học Trung quán tông rộng rãi tại Trung Hoa.
Tam
luận tông khởi đi từ Cưu-ma-la-thập tới Tăng Triệu (374-
414), vị sư xuất sắc, được coi là “người hiểu Không
tính hàng đầu”. Kế đó qua các sư Tăng Lãng, qua Tăng Thuyên,
đến Pháp Lãng rồi tới đại sư Cát Tạng (549-623), người
được tôn xưng là “thuỷ tổ của Huyền tông” và cũng
được xem là người chính thức sáng lập Tam luận tông. Suốt
đời, sư Cát Tạng giảng Tam luận hơn 100 lần và giảng kinh
Pháp hoa hơn 300 lần. Tác phẩm Tam luận huyền nghĩa của sư
được lưu hành rộng rãi, cả ở Triều Tiên lẫn Nhật Bản.
Bắt
nguồn từ Trung quán tông nhưng có những nét đặc thù của
Trung Hoa, Tam luận tông cho rằng Ðức Phật chỉ dạy hai phép
tu là:
Thanh
văn thừa: Tu theo Tiểu thừa, nhờ nghe giảng pháp Tứ diệu
đế mà giác ngộ. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt
Vô dư Niết bàn mà thành A-la-hán.
Bồ
tát thừa: Tu theo Ðại thừa, chứng tri kiến Không tính của
thế giới hiện tượng mà đạt giác ngộ, đạt quả vị
Bồ tát. Và đây là phép tu của Tam luận tông.
Theo
Tam luận tông, có 3 thời giáo thuyết giảng của Ðức Phật:
Thời
giáo thứ nhất, kinh Hoa nghiêm. Kinh này chứa những lời khai
thị cho Bồ tát nhưng các đệ tử thời đó chưa đủ trình
độ lãnh hội;
Thời
giáo thứ hai, Phật giảng theo trình độ của đệ tử; kéo
dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và thời kinh Diệu pháp liên
hoa, trong đó toàn bộ giáo pháp bao gồm Tiểu thừa lẫn Ðại
thừa, có giá trị cả cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa
và Bồ tát thừa;
Thời
giáo thứ ba, là lúc mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh
Diệu pháp liên hoa. Ðây là thời Phật thừa, chỉ có một
pháp duy nhất.
Về
học thuyết, Tam luận tông không chấp hữu – tức là có
– cũng không chấp vô – tức là không; sự vật khách quan
tuy tồn tại nhưng không như chúng ta thấy, chúng do nhân duyên
sinh, nhưng tự chúng không có bản thể, không có thực thể.
Sư Cát Tạng chia mỗi chân lý trong Nhị đế thành ba cấp:
Chân
lý tương đối:
Chấp
hữu, cho rằng tất cả đều có;
Chấp
hữu hoặc chấp vô;
Chấp
hoặc không chấp cả hữu lẫn vô.
Chân
lý tuyệt đối:
Chấp
vô, cho rằng tất cả đều không;
Không
chấp cả hữu lẫn vô;
Không
chấp và cũng không không chấp cả hữu lẫn vô.
Từ
lý thuyết ấy, sư Cát Tạng đạt tới, qua nhiều lần phủ
định, một cấp độ ở đó cả hữu lẫn vô đều có ý
nghĩa. Và đây chính là mức độ cao nhất của Trung đạo.
Người đời sau xếp sư vào mười vị Ðại sư đời Hậu
Tuỳ (618-626).
Học
thuyết Tam luận tông thịnh hành đầu đời Ðường. Tới
khi các tông phái Duy thức và Pháp tướng, Hoa nghiêm, Thiền
lưu hành rộng rãi, Tam luận tông suy yếu dần.
Thiên
thai tông
Kính
ngưỡng đại luận sư Long Thọ là sơ tổ, lấy Diệu pháp
liên hoa kinh làm căn bản, Trí độ luận làm kim chỉ nam, Ðại
bát-niết-bàn kinh (cuốn sanskrit – Ðại thừa) hỗ trợ và
Bát-nhã Ba-la-mật làm cơ sở của các phép quán, Thiên thai
tông được thành lập đời Trần-Tuỳ do cao tăng Trí Khải
(538-597) tại núi Thiên Thai, nay thuộc tỉnh Triết Giang. Ðược
xem là một phái bao quát, Thiên thai tông chứa đựng một cách
tổng hợp nhiều quan điểm của các phái khác. Từ thế kỷ
9, tông này truyền qua Nhật Bản và đóng vai trò rất quan
trọng tại đó.
Dựa
trên học thuyết Long Thọ về Không tính và Chân như, Thiên
thai tông phân tích thành ba chân lý là:
Không.
Trống rỗng. Mọi pháp đều hư không, không có tự tính;
Giả.
Có hình tướng. Tuy thế, mỗi pháp có dạng hiện hữu tạm
thời với thời gian nên con người có thể biết nó bằng
giác quan;
Trung.
Ở giữa. Tổng hợp Không và Giả. Thể của sự vật không
nằm ngoài hình tướng nên không thể bỏ hiện tượng mà
đi tìm bản chất. Thể và tướng là một.
Như
thế, học thuyết này khẳng định ý tưởng về tính toàn
bộ và sự xâm nhập lẫn nhau của vạn pháp. Toàn bộ và
các thành phần đều đan lồng vào nhau; mỗi cái chứa đựng
mọi cái khác. Không, Giả và Trung chỉ là một và từ một
mà ra. “Toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải”
và “Một ý nghĩ chứa đựng ba ngàn thế giới”. Từ đó,
phương pháp của Thiên thai tông tuy bao hàm các yếu tố Mật
tông như Mantra (thần chú) và Man-đa-la, nhưng căn bản vẫn
là Chỉ quán. Chỉ là sự tập trung và tĩnh tâm, để nhận
ra rằng vạn pháp đều là hư không, nên ngăn cản được
việc hình thành các ảo ảnh mới. Quán để thấy tận tường
rằng mỗi pháp tuy hư không nhưng vẫn hiện hữu theo vẻ ngoài,
tạm thời và mang chức năng ước lệ.
Thiên
thai tông chia giáo pháp Phật Thích Ca thành năm thời kỳ thuyết
giảng:
Thời
giáo Hoa nghiêm. Chỉ vỏn vẹn trong 3 tuần lễ. Sau khi đại
giác, Ðức Phật thuyết giảng kinh Hoa nghiêm, có ý dạy toàn
bộ chân lý với ý tưởng cho rằng vũ trụ là biểu hiện
của cái Tuyệt đối, nhưng rồi ngài nhận thấy chẳng người
nghe nào hiểu.
Thời
giáo Tiểu thừa. Kéo dài 13 năm, còn gọi là thời A hàm. Ðức
Phật dạy những gì các môn đồ có thể hiểu. Nội dung chứa
đựng trong các kinh A hàm như Tứ điệu đế, Bát chính đạo,
Thập nhị nhân duyên.
Thời
giáo thứ nhất của Ðại thừa. Kéo dài 8 năm, còn gọi là
thời Phương đẳng. Ngài nhấn mạnh tính ưu việt của Bồ
tát so với A-la-hán, và làm sáng tỏ sự thống nhất giữa
Phật và người, giữa cái tương đối và cái Tuyệt đối.
Thời
giáo đích thực Ðại thừa. Kéo dài 20 năm, còn gọi là thời
Bát nhã. Phật giảng về kinh Bát-nhã Ba-la-mật, trong đó nhấn
mạnh Không tính và sự tồn tại của các mặt đối lập.
Thời
đốn giáo. Tương ứng với 8 năm tại thế cuối cùng của
Ðức Phật, còn gọi là thời Pháp hoa và Niết bàn. Ngài đặc
biệt nhấn mạnh tính đồng nhất tuyệt đối của các mặt
đối lập, giảng về kinh Pháp hoa và kinh Ðại bát niết bàn.
Ba cỗ xe (triyana) của các Thanh văn, Duyên giác và Bồ tát
đều có giá trị giới hạn về thời gian, và cuối cùng hoà
lẫn nhau thành một cỗ xe duy nhất: Phật thừa (ekayana: nhất
thừa). Trong thời kỳ này, Ðức Phật trình bày học thuyết
hoàn hảo, theo quan niệm của Thiên thai tông.
Hoa
nghiêm tông
Lấy
Ðại phương quảng Phật Hoa nghiêm kinh làm giáo lý căn bản,
Hoa nghiêm tông do Pháp sư Hiền Thủ Pháp Tạng (643-712) thành
lập từ đời nhà Đường. Nhưng trước đó, tông có sơ tổ
là sư Ðỗ Thuận (557-640) và nhị tổ là sư Vân Hoa Trí Nghiễm
(602-668). Hiện nay, Hoa nghiêm tông vẫn thịnh hành ở Trung
Hoa và Nhật Bản.
Mọi
vật đều bình đẳng – hiểu như đồng nghĩa với Tuyệt
đối, tức là Bất nhị: không có hai – và đều liên hệ
lẫn nhau, không cái nào tồn tại độc lập. Khái niệm này
được gọi là “nhất thể” vì Hoa nghiêm tông quan niệm
rằng tất cả đều từ Một mà ra và mọi hiện tượng chẳng
qua chỉ là vẻ xuất hiện bên ngoài của cái Một đó. Các
hiện tượng của Pháp giới cùng xuất hiện đồng thời và
mỗi Pháp đều có sáu đặc trưng căn bản (xem phần Vũ trụ
luận nói tới Hoa nghiêm).
So
với các trường phái Ðại thừa khác, Hoa nghiêm tông có điểm
khác biệt là chuyên nghiên cứu mối liên hệ giữa hiện tượng
với nhau chứ không phải mối liên hệ giữ hiện tượng và
bản thể – cái Tuyệt đối. Các thực thể hiện hữu trong
trạng thái hoàn toàn hoà hợp vì đều là những biểu hiện
của Nguyên lý thống nhất. Tuy chúng cực kỳ khác nhau như
những làn sóng biển, nhưng đều bắt nguồn từ một Nguyên
lý cao nhất và do đó, chỉ là Một với Tinh thần Phật.
Hoa
nghiêm tông chia vũ trụ thành 4 thế giới (Tứ pháp giới):
Thế
giới hiện thực của các hiện tượng, gọi là Sự;
Thế
giới của Nguyên lý, của cái Tuyệt đối, gọi là Lý;
Thế
giới trong đó các hiện tượng và các nguyên lý xâm nhập
lẫn nhau, gọi là Lý sự vô ngại;
Thế
giới “lý tưởng”, trong đó các hiện tượng đều có thể
cùng hiện hữu hài hoà, không cản trở nhau, gọi là Sự sự
vô ngại.
Dùng
hình ảnh toàn thân con sư tử và các cơ quan hay bộ phận
thân thể của nó, sư Pháp Tạng giải thích sáu bản tính
của các Pháp (dharmas) thành Lục tướng như sau:
Tính
phổ biến, tương ứng với toàn bộ con sư tử;
Tính
riêng biệt, như mỗi bộ phận của con sư tử, có chức năng
riêng, phân biệt với toàn thân của nó;
Tính
giống nhau, vì mọi cơ quan đều là các bộ phận của con
sư tử;
Tính
đặc thù thể hiện ở chức năng khác nhau của mỗi cơ quan;
Tính
hợp nhất ở chỗ mọi cơ quan hiệp thành con sư tử;
Tính
phân hoá vì mỗi cơ quan chiếm một vị trí riêng biệt trong
toàn bộ con sư tử.
Về
sự phân chia các thời giáo thuyết giảng của Ðức Phật,
quan điểm của Hoa nghiêm tông có phần hơi khác với của
Thiên thai tông, tuy cũng chia làm năm thời kỳ.
Thời
đầu tiên, Ðức Phật giảng giáo lý Tiểu thừa;
Thời
thứ hai, Ðức Phật giảng Ðại thừa thuỷ giáo tức giáo
lý sơ bộ của Ðại thừa. Theo sư Pháp Tạng, Tam luận tông
thuộc thời kỳ này vì chỉ nói về Không tính, chưa đề
cập tới Phật tính có sẵn trong mọi chúng sinh;
Thời
kỳ thứ ba, Ðức Phật giảng về Ðại thừa chung giáo, là
giáo pháp Ðại thừa hoàn hảo. Theo Hoa nghiêm tông, giáo lý
Thiên thai tông thuộc thời kỳ này vì nói về Không tính mà
không bác bỏ sự hiện hữu của hiện tượng, cái vốn giả;
Thời
kỳ thứ tư, Ðức Phật giảng về Ðốn giáo, tức giáo lý
chứng ngộ trực tiếp, tức thời, không theo cấp bậc nào.
Giáo lý Thiền tông thuộc thời kỳ này;
Thời
kỳ thứ năm, Ðức Phật giảng Viên giáo, giáo pháp trọn
vẹn, đó là giáo pháp Hoa nghiêm tông.
Tịnh
độ tông
Tịnh
độ (buddhaksetra), theo Ðại thừa, có thể hiểu theo hai cách:
Về
ý nghĩa, có ý chỉ cảnh giới tâm linh thanh tịnh, được
sở đắc trọn vẹn bởi bậc giác ngộ, và là một dạng
ưu việt của tâm thức.
Về
hình tượng, là cõi trời tinh sạch nơi Phật ở, không bị
uế nhiễm bởi ngũ trọc, và đối lập với trần thế nhơ
nhớp là nơi chúng sinh phàm tục sinh sống.
Cũng
theo Ðại thừa, mỗi cõi Tịnh độ thuộc về một vị Phật;
vì có vô số chư Phật nên có vô số Tịnh độ. Cõi Tịnh
độ được nhắc nhở nhiều nhất có tên là Cực lạc mà
giáo chủ là vị Phật quan trọng, được tôn thờ nhiều nhất
trong Ðại thừa là A-di-đà. Cõi ấy nằm ở phương Tây –
phía đông là cõi Ta-bà của chúng ta. (Xem tiểu đề Năm vị
Phật và bức tranh Man-đa-la ở phần trên).
Theo
kinh sách, cõi Cực lạc (sukhavati) cũng được gọi là An lạc
quốc, An dưỡng quốc, Thanh thái quốc hay Hảo ý quốc. Ðó
là nơi chan hoà ánh sáng của Phật A-di-đà, đầy nhạc, hoa
và châu ngọc, không có súc sinh, địa ngục cùng A-tu-la. Chúng
sinh thác vào đây hết cảnh già chết bệnh tật, sống an
nhàn hạnh phúc, được nghe Phật A-di-đà giảng pháp, và tu
mãi cho tới khi thành Phật. Cũng sẽ được như ý nếu muốn
tái sinh qua các cõi thế giới khác để tu thêm công đức
hoặc vào các nhà tôn quí, căn cơ đầy đủ, đáng kính đáng
yêu; sau khi mệnh chung cũng sẽ quay về cõi Cực lạc tu học
thêm nữa cho đến khi viên thành, nhập Niết bàn.
Từ
khoảng thế kỷ thứ nhất sau CN, đã có tục tôn thờ Phật
A-di-đà, biểu tượng cho Từ bi và Trí huệ. Hình tượng của
ngài thường được vẽ với màu đỏ ráng chiều trời tây,
tay bắt Ấn thiền định hay Ấn giáo hoá, giữ Bát đựng
trái cây. Ngài ngồi trên toà sen tượng trưng cho thanh tịnh
và hai con công biểu hiệu cho thoát hiểm, thoát khổ. Cùng
được thờ với A-di-đà có hai vị Ðại Bồ tát Quán Thế
Âm và Ðại Thế Chí. Phật A-di-đà cũng được kính danh theo
nghĩa Vô-lượng-thọ Phật, Vô-lượng-quang Phật hoặc Tây
Phật. Người Mật tông gọi Phật A-di-đà là Cam-lộ Vương.
Tương
truyền A-di-đà từng là một vị vua, xuất gia làm Tì kheo
Pháp Tạng; đây là một dạng tiền kiếp của ngài, không
phải là Hiền Thủ Pháp Tạng của Hoa nghiêm tông. Ngài quyết
tâm tu thành Phật và nguyện giúp chúng sinh sống trong cõi
Cực lạc của mình cũng thành Phật. Ngài đưa ra 48 đại nguyện
nhằm cứu độ chúng sinh giải thoát, trong đó có việc chúng
sinh chỉ cần nghe đến danh ngài sẽ được:
Khi
sống mà khởi niệm thì cầu đạt chánh quả vô thượng;
Khi
lâm chung sẽ có ngài hiện đến để tiếp dẫn và giúp cho
quyến thuộc chung quanh khỏi sợ hãi;
Khi
lìa đời, muốn thác sinh vào cõi Tịnh độ (Cực lạc quốc)
của ngài để trau dồi thiện nghiệp thì được toại nguyện.
Tịnh
độ tông được sáng lập bởi cao tăng Huệ Viễn (334-416).
Thiếu thời theo học Nho của Khổng Mạnh và Ðạo của Lão
Trang, năm 21 tuổi, sư xuất gia theo thầy là cao tăng Ðạo
An (312-385) và gia nhập Tăng già, bắt đầu học kinh Bát nhã
Ba-la-mật. Sư là một trong những cao tăng Trung Hoa đầu tiên
nhấn mạnh tầm quan trọng của phép Thiền trong việc tu học.
Tại Lư Sơn, một trung tâm Phật giáo quan trọng thuộc tỉnh
Giang Tây ngày nay, sư Huệ Viễn cổ động dịch kinh sách và
thường liên hệ với s