BÀI
THỨ MƯỜI SÁU
I.
Mười món ma về hành ấm.
1.
Chấp không nguyên nhân sanh.
-A
Nan, người tu thiền định khi tưởng ấm hết rồi, thì tâm
được minh chánh, không còn khởi các vọng tưởng tham muốn
như trên, nên các Thiên ma không gặp dịp thuận tiện để
nhiễu hại nữa. Lúc bấy giờ hành giả tự nghiên cứu nguồn
gốc của muôn loài, rồi sanh ra hai lối chấp :
a)
Vì chỉ thấy biết được chúng sanh từ tám vạn kiếp trở
lại, ngoài tám bạn kiếp thì mù mịt không thấy biết, nên
sanh ra chấp : “Chúng sanh từ tám vạn kiếp trở lại tự
nhiên có, không có nguyên nhân sanh”.
b)
Hành giả nghiên cứu chỉ thấy người sanh ra người, chim
sanh ra chim, quạ từ hồi nào đến giờ vẫn đen, không phải
do nhuộm mà được, cò từ hồi nào đến giờ vẫn trắng,
không phải do rửa mới trắng v. v . từ tám vạn kiếp
đến nay vẫn vậy, thì từ đây về sau cũng thế. Hành giả
tự nghĩ ta từ hồi nào đến giờ không thành Bồ Đề, thì
về sau đâu lại có thành Phật, rồi khởi ra tà chấp : “Các
vật tượng ngày nay đều không có nguyên nhân”. Bởi mê
mờ tánh Bồ Đề, mất chánh tri kiến, sanh ra lối chấp trên,
nên đều đọa về ngoại đạo.
2.
Bốn món chấp thường.
-A
Nan, người tu thiền định, khi tưởng ấm hết rồi, tâm được
minh chánh, nên ngoại ma không còn thuận tiện để nhiễu hại
được. Khi đó hành giả tham cứu cùng tột cội gốc của
muôn loài, khởi ra 4 món chấp thường :
a)
Chấp 2 vạn kiếp thường.
Vì
hành giả nghiên cứu cùng tột cả tâm và cảnh đều vô nhân,
vì sức tu chỉ biết được chúng sanh sanh diệt xoay vần từ
2 vạn kiếp trở lại không mất, nên chấp cho là thường.
b)
Chấp 4 vạn kiếp thường.
Hành
giả tham cứu cùng tột tánh của tứ đại thường còn, do
sức tu tập chỉ biết được chúng sanh từ 4 vạn kiếp trở
lại tuy có sanh diệt, mà bản thể nó vẫn thường còn không
mất, nên chấp là thường.
c)
Chấp 8 vạn kiếp là thường.
Hành
giả tham cứu cùng tận tám thức, thấy nó thường hằng.
Vì thấy từ 8 vạn kiếp trở lại chúng sanh xoay vần không
mất, nên chấp là thường.
d)
Chấp cái không sanh diệt là thường.
Người
tu thiền định khi các tưởng ấm sanh diệt đã hết, nhân
đó khởi tâm chấp cái không sanh diệt là thường.
A Nan,
người tu thiền định, do mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ
Đề, khởi ra bốn món chấp thường trên, nên đều đọa
về ngoại đạo.
3.
Chấp một phần thường, một phần vô thường.
-Người
tu thiền định, khi tưởng ấm hết, nghiên cứu cùng tột
cội gốc của sanh loại, rồi khởi ra 4 lối chấp điên đảo
:
a)
Chấp tâm là thường, chúng sanh vô thường.
Hành
giả khi quán tâm mình yên lặng khắp cả 10 phương, các chúng
sanh từ trong tâm mình tự sanh và tự chết, rồi chấp tâm
ta là thường, chúng sanh vô thường.
b)
Chấp thế giới, những chỗ bị hoại là vô thườpng, những
chỗ không hoại là thường.
-Người
tu thiền định quán sát cả 10 phương thế giới, chỗ kiếp
hoại (như từ tam thiền trở xuống bị tam tai làm hoại) thì
chấp là vô thường; những chỗ không hoại thì chấp là thường
(từ Tứ thiền trở lên, tam tai không làm hoại được, chấp
cho là cứu cánh Niết Bàn).
c)
Chấp cái tâm là thường, còn sanh tử vô thường.
Người
tu thiền định, quán sát tâm mình không biến đổi, nó nhỏ
nhiệm tinh vi như hạt bụi và lưu chuyển cả 10 phương; lại
khiến cho thân này sanh và diết mà nó không biến đổi; nên
chấp cho : “Tâm là thường; tất cả các vật đều từ tâm
sanh ra, có sanh tử nên vô thường”.
d)
Chấp hành ấm thường,sắc, thọ, tưởng là vô thường.
Người
tu thiền định, khi thấy sắc, thọ, tưởng 3 ấm trước đã
diệt, nên chấp là vô thường. Thấy hành ấm lưu chuyển
thường còn nên chấp là thường.
Bốn
lối chấp trên, đều sai lầm cả, do mê muội tánh Bồ Đề,
mất chánh kiến, nên đọa về ngoại đạo.
4.
Chấp có 4 món biên giới.
-Người
tu thiền định, khi tưởng ấm hết rồi, thấy được cùng
tột cội gốc của sanh loại, lúc bấy giờ khởi ra 4 lối
chấp có biên giới :
a)
Chấp 3 đời.
Người
tu thiền định, lúc bấy giờ chấp tâm niệm hiện tại tương
tục (hành ấm) là vô biên, còn quá khứ và vị lai là hữu
biên.
b)
Chấp chúng sanh.
Người
tu thiền định vì chỉ thấy được chúng sanh trong 8 vạn
kiếp, nên chấp là hữu biên; còn trước 8 vạn kiếp thì
tịch mịch không thấy và cũng không nghe, nên chấp là vô
biên.
c)
Chấp tâm tánh.
Người
tu thiền định khi thấy tâm mình biến khắp và biến ra tất
cả người, nên khởi lên chấp tâm ta vô biên. Còn tất cả
người đều ở trong tâm ta, là hữu biên.
d)
Chấp sanh diệt.
Người
tu thiền định, khi cùng tột hành ấm, thấy được tâm mình,
sanh tâm chấp tất cả chúng sanh và thế giới đều có phân
nửa sanh và phân nửa diệt; sanh là hữu biên, diệt là vô
biên.
Các
lối tà chấp trên, đều do trong khi tu thiền mất chánh kiến,
mê mờ tánh Bồ Đề, nên đều đọa vào ngoại đạo cả.
5.
Bốn món luận nghị rối loạn không có nhất định.
-người
tu thiền định, khi tưởng ấm hết, liền khởi ra 4 lối chấp
điên đảo không nhất định :
a)
Chấp tám món cũng.
Người
tu thiền định, khi quán sát nguồn gốc biến hóa của muôn
vật, thấy có chỗ thì biến đổi, có chỗ lại thường còn;
có cái sanh, có cái diệt; có pháp tăng, có vật giảm, có
cái có, có cái không. Bởi thế nên có ai đến hỏi đạo
thì nói rằng :”Cũng biến, cũng hằng, cũng sanh, cũng diệt,
cũng tăng, cũng giảm, cũng có, cũng không”. Lúc nào cũng
nói rối loạn như vậy, làm cho người không hiểu chi cả.
b)
Chấp duy cái “không”.
Người
tu thiền định, vì quán cả tâm và pháp đều không; rồi
cứ chấp ở nơi cái “không”. Có ai đến hỏi đạo thì
họ đáp một chữ “không”; ngoài cái “không” ra thì không
còn nói chi nữa cả.
c)
Chấp duy có cái “có”.
Người
tu thiền định, do quán sát tâm mình biến khắp tất cả,
chỗ nào cũng có, rồi cứ chấp ở nơi cái “có”. Có ai
đến hỏi đạo, thì họ chỉ nói một chữ “có”; ngoài
cái “có” ra thì không còn nói gì nữa cả.
d)
Chấp “cũng có” và “cũng không”.
Người
tu thiền định vì thấy ở nơi cảnh đã lăng xăng, còn tâm
thì rối loạn, nên có người đến hỏi đạo thì đáp rằng
:”Cái cũng có” cũng tức là “cái cũng không”; trong cái
“cũng không” cũng tức là cái “cũng có”. Lúc nào họ
cũng nói rối loạn như vậy, không ai gạn cùng được.
Người
tu thiền định vì mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ Đề,
khởi ra các lối chấp như vậy, nên đều đọa về ngoại
đạo.
6.
Chấp 16 tướng có.
-Người
tu thiền định khi tưởng ấm đã hết, chỉ còn hành ấm
diêu động, thấy một nguồn sống vô tận, nên sanh tâm chấp
cho “chết rồi còn có tướng”.
Chấp
về sắc uẩn có bốn :
a)
Chấp sắc uẩn là “ta”.
b)
Chấp “ta” có sắc uẩn.
c)
Chấp sắc uẩn thuộc nơi “ta”
d)
Chấp “ta” ở nơi sắc uẩn.
Còn
thọ, tưởng, hành mỗi uẩn cũng đều có 4 lối chấp như
vậy, cộng thành 16 tướng. Hoặc chấp phiền não và Bồ Đề
hai tánh thật có, hết phiền não mới được Bồ Đề; hai
tánh không chung gặp nhau.
Vì
hành giả trong lúc tu thiền, mất chánh tri kiến, mê mờ tánh
Bồ Đề, khởi ra các lối tà chấp trên, nên đều đọa về
ngoại đạo.
7.
Chấp 8 món vô tướng.
-Người
tu thiền định khi sắc, thọ, tưởng đã diệt rồi, lúc bấy
giờ thấy thân hình hiện tiền đây còn không thật có, thì
khi chết rồi làm gì lại có các hình tướng. Vì so sánh như
vậy, nên chấp chết rồi không có hình tướng.
Chấp
sắc ấm như vậy thì, thọ, tưởng, hành cũng vậy. (Chấp
hiện tại và vị lai đều không tướng), thành ra 8 món vô
tướng. Hoặc chấp Niết Bàn chỉ có cái tên suông, không
có nhân quả, rốt ráo đoạn diệt.
Vì
hành giả mê mờ tánh Bồ Đề, mất chánh tri kiến, khởi
ra các lối tà chấp như vậy, nên đều đọa về ngoại đạo.
8.
Chấp 8 món cu phi.
-Người
tu thiền định, đối với ba ấm : sắc, thọ, tưởng trước
kia thấy có mà nay lại không. Còn đối với hành ấm thiên
lưu hiện nay thì có mà về sau lại không. Vì chấp mỗi ấm
đều có hai tướng : Chết rồi phi hữu và phi vô, cả 4 ấm
thành ra 8 tướng. Bởi hành giả mê mờ tánh Bồ Đề, mất
chánh tri kiến nên đều đọa về ngoại đạo.
9.
Chấp 5 món đoạn diệt.
-Người
tu thiền định, khởi ra các chấp : Cõi dục thì “sắc thân”
diệt hết; cõi Sơ thiền các “dục diệt hết; cõi Nhị thiền
các “khổ” diệt hết; cõi Tam thiền các “vui” diệt hết;
cõi Tứ thiền các “xả” diệt hết.
Như
vậy xoay vần cùng tột cả năm nơi đều chấp hiện tiền
tiêu diệt, diệt rồi không sanh trở lại. Vì hành giả mê
mờ tánh Bồ Đề, mất chánh tri kiến, sanh các lối tà chấp
như vậy, nên đọa về ngoại đạo.
10.
Chấp 5 món Niết Bàn hiện tại.
-Người
tu thiền định, khi thọ ấm hết, xét cùng cội gốc của
sanh loại, khởi ra chấp năm chỗ Niết Bàn :
a)
Chấp Dục giới là cảnh Niết Bàn.
b)
Chấp cõi Sơ thiền là Niết Bàn.
c)
Chấp Nhị thiền là Niết Bàn.
d)
Chấp Tam thiền là Niết Bàn.
e)
Chấp cõi Tứ thiền là Niết bàn.
Vì
hành giả mê muội tánh Bồ Đề, chấp 5 cảnh vui cõi trời
hữu lậu mà cho là vô vi Niết Bàn, nên đọa về ngoại đạo.
Tóm
lại.
A
Nan, 10 cảnh ma về hành ấm này, là do hành giả dụng tâm
sai lầm nên mới sanh ra như vậy. Vì hành giả mê mờ không
biết, tự cho là chứng Thánh, sanh đại vọng ngữ, nên đọa
vào ngục vô gián. Vậy các ông nên đem các việc ma này, truyền
dạy cho chúng sanh đời sau, chớ để cho người tu thiền bị
tâm ma khởi lên làm hại đến thế. Các ông phải bảo hộ
người tu hành đi thẳng đến đạo Bồ Đề, chớ để cho
họ gặp con đường chia tẽ.
II.
Mười món ma về thức ấm.
1.
Chấp minh đế.
-Người
tu thiền định khi hành ấm hết, chỉ còn thức ấm, các tướng
sanh diệt đã hết, mà tâm thanh tịnh tịch diệt chưa hiện
bày. Lúc bấy giờ nếu hành giả mống tâm chấp là chân thường,
thì mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ Đề, thành bè bạn với
phái ngoại đạo Ta Tỳ Ca La, chấp minh đế (sơ tướng A Lại
Gia) là cái chỗ trở về của vạn vật, trái với thành Niết
Bàn, đọa về ngoại đạo.
2.
Chấp năng sanh.
-Người
tu thiền định khi hành ấm hết, các tướng sanh diệt đã
diệt, mà tâm thanh tịnh tịch diệt chưa hiện bày, khi đó
thấy thức tâm mình châu biến, rồi khởi ra chấp : “Tất
cả chúng sanh đều do ta sanh”. Vì sanh tâm chấp như thế,
nên mất chánh kiến, mê lầm tánh Bồ Đề, thành bà con của
trời Đại Ngã mạn (Ma hê thủ la thiên)
3.
Chấp chân thường.
-Người
tu thiền định khi hành ấm hết, thức ấm hiện ra, rồi sanh
tâm nghi : Thân mình và mười phương hư không đều từ thức
kia hiện ra, nên sanh tâm chấp cho “Thức là chân thường”,
mất chánh kiến, mê tánh Bồ Đề thành bè bạn của trời
Tự Tại.
4.
Chấp cỏ cây cũng đều có biết.
-Người
tu thiền định, khi hành ấm hết, tướng sanh diệt đã diệt,
chân tâm tịch diệt chưa hiện bày, lúc bấy giờ thấy thức
ấm biến khắp cả, rồi sanh tâm chấp : “Mười phương cỏ
cây cũng đều là hữu tình, cùng với người không khác. Cỏ
cây chết làm người, Người chết trở lại làm cỏ
cây”. Vì mê mờ tánh Bồ Đề, mất chánh kiến, nên sẽ
làm bè bạn với hai chúng ngoại đạo Bà Tra và Tán Ni, chấp
tất cả vạn vật đều có tri giác (biết).
5.
Chấp tứ đại hóa sanh.
-Người
tu thiền định khi hành ấm hết, chân tâm chưa hiện, lúc
bấy giờ thấy lửa sáng, nước trong, gió động, đất cứng,
do bốn món này sanh ra các vật. Rồi chấp cho là thường còn,
hết lòng cung kính phụng thờ. Như ông Ca Diếp Ba, và phái
Bà La Môn thờ lửa, thờ nước v . v . để cầu ra khỏi sanh
tử, mê mờ tánh Bồ Đề, mất chánh kiến, đọa làm ngoại
đạo.
6.
Chấp hư vô.
-Người
tu thiền định khi hành ấm hết, thấy thức ấm viên minh,
rồi sanh ra chấp cái thức ấm hư vô, là chỗ nương của
muôn vật, tất cả các vật đều về chỗ hư. Vì vậy mà
mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ Đề nên thành bè bạn với
trời Vô Tưởng, Tứ Không và thần Hư Không.
7.
Tham cầu sống lâu.
-Người
tu thiền định khởi tâm tham cầu thân này thường còn, cố
làm cho thân này được sống hoài không chết, nên thành bè
bạn của tiên A Tư Đà, cầu mạng sống lâu, mê mờ tánh
Bồ Đề, mất chánh kiến, đọa về ngoại đạo.
8.
Tham luyến cảnh tục.
-Người
tu thiền định, khi hành ấm hết, lúc bấy giờ thấy thân
thể và thức tâm tiêu diệt, cho nên sanh tâm lưu luyến lại
cảnh trần, tự biến hóa ra nhiều cảnh báu đẹp và nhiều
mỹ nữ, rồi mặc tình vui thú. Vì mất chánh kiến, mê mờ
tánh Bồ Đề, nên thành bè bạn của thiên ma ở cõi trời
Tự Tại (trên đảnh cõi Dục).
9.
Định tánh Thanh văn.
-Người
tu thiền định, khi hành ấm hết, các tướng sanh diệt đã
diệt, mà chân tâm tịch diệt chưa viên, lúc bấy giờ khởi
tâm tham luyến ở chỗ không tịch, chẳng muốn tăng tiến,
vì mất chánh kiến, mê mờ tánh Bồ Đề, đọa về hàng Định
tánh Thanh Văn, như ông Vô Văn Tỳ kheo, sanh tâm tăng thượng
mạn.
10.
Định tánh Duyên Giác.
-Người
tu thiền định, khi hành ấm hết, chỉ thấy một màu thanh
tịnh sáng suốt, lúc bấy giờ sanh tâm chấp cho đó là Niết
Bàn; rồi tham trước ở cảnh này, không cầu tăng tiến, mê
mờ tánh Bồ Đề, mất chánh kiến, nên đọa về hành Định
tánh Duyên Giác.
Tóm
lại.
-A
Nan, mười món ma này, do người tu thiền, khi dụng tâm phá
trừ thức ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như vậy. Vì
mất chánh tri kiến, mê lầm tánh Bồ Đề, khởi tâm chấp
trước, cho mình đặng thiền, đặng đạo, thành Phật, thành
Thánh v . v . có người sanh ra điên cuồng, nên đều đọa
về ngoại đạo cả.
Vậy
các ông phải gìn giữ nơi lòng, vâng lời ta dạy :Sau khi ta
diệt độ rồi, các ông phải đem lời ta dạy đây mà truyền
dạy cho chúng sanh đời sau, bảo hộ người tu hành chớ để
chúng ma làm hại. Trên đường tu hành họ được thẳng vào
chỗ tri kiến của Phật, chẳng gặp các đường tẽ.
Này
A Nan, người trong khi tu thiền, gặp ma nó biến hiện ra nhiều
cảnh rất là vi tế, nếu các ông hiểu biết, rửa sạch tâm
cấu nhiễm, chẳng khởi tà kiến, thì cảnh ma kia lần lần
tiêu diệt, các ông sẽ thẳng đến đạo Bồ Đề.
Còn
như đời sau có chúng sanh nào chẳng biết tu thiền, sợ bị
các ma nhiễu hại, thì ông nên khuyên họ nhất tâm trì chú
Lăng Nghiêm này, để các ma chướng kia không thể hại được,
rồi cũng thẳng đến được đạo Bồ Đề.
Khi
Phật nói kinh này rồi, toàn cả hội chúng, nào là : Tăng,
Ni, thiện nam, tín nữ, Trời, người, thần A Tu La, Thánh, Tiên,
quỉ thần, Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, tất cả đều hoan
hỷ lễ Phật rồi trở lui.
Lưu
Ý.
Quý
Phật tử đọc hết đoạn ngũ ấm ma này rồi, từ đây về
sau, trên đường tu hành cần phải thận trọng, chớ nên gặp
chi tin nấy, mà nguy hiểm cho mình về hiện tại cũng như tương
lai.
Chúng
tôi thấy trong giới Phật tử, phần đông là hàng phụ nữ
(xin lỗi quý bà) lòng tin tưởng dồi dào lắm ! Mỗi khi thấy
một việc gì lạ thường, có tính các thần kỳ huyễn hoặc,
không chịu bình tâm suy xét chân hay ngụy; cứ cho đó là Phật
thị hiện hay Bồ Tát giáng thế v . v . rồi rủ nhau tin tưởng
theo càn, say mê như người nghiện thuốc, rủ nhau theo rất
đông cho đến đỗi như cả phong trào. Như những việc trước
mắt mà quý vị đã thấy vừa qua . . . kết cuộc
rồi thế nào quý vị đã biết rõ. Thật nguy hại vô cùng
! nếu lỡ một phen bước vào đường tà rồi, thì trăm kiếp
ngàn đời khó trở lại.
Tôi
xin dẫn một vài bằng chứng trong kinh, để quý vị xem qua
đặng cẩn thận những điều nguy hiểm trong lúc tu hành.
“Thửa
xưa, tổ Ưu Bà Quật Tôn Giả đang nhập định, bị Thiên
ma Ba tuần khuấy nhiễu. Đến khi xuất định, Ngài dùng thần
thông hàng phục được Thiên ma. Sau khi chúng đã hối ngộ
qui y tam bảo rồi, vì cảm hồng ân tế độ của Tổ sư,
nên đến xin cúng dường Ngài một bữa cơm để tỏ lòng
tri ân.
Tổ
sư dạy : - Ta vì chuyên lo tu hành không giờ rảnh để thụ
trai. Ta chỉ muốn xem một việc, nếu ngươi bằng lòng, thế
là đền ơn cho ta rồi.
Thiên
ma : -Dạ, đệ tử xin vâng.
Tổ
sư dạy : -Khi Phật ra đời đã có ngươi; vậy trong lúc đó
Phật cùng với các vị Thánh chúng như thế nào? Hôm nay ngươi
hóa hiện lại cho ta xem thử.
Thiên
ma thưa : -Con xin vâng lời Tổ sư dạy. Nhưng khi con hoá hiện
ra Phật, xin Tổ sư nhớ đừng lạy, vì sẽ tổn phước cho
con nhiều.
Tổ
sư hứa lời.
Thiên
ma Ba tuần liền biến mất, trong giây phút hóa hiện ra đức
Phật, thân vàng rực rỡ, đủ 32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp,
hào quang sáng chiếu khắp một góc trời, trong rừng từ từ
đi ra. Nào là ngài Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên, A Nan, Ca
Diếp đứng hầu hai bên oai nghi tề chỉnh, đủ cả 1250 vị
đệ tử rần rộ đi theo sau . . .
Tổ
Ưu Bà Quật Tôn giả, thấy Phật đi đến phóng hào quang rực
rỡ, các vị Thánh chúng theo hầu, oai nghi tề chỉnh v . v .
nên hết sức vui mừng, liền đứng dậy kính lễ, mà quên
hẳn lời hứa trước kia. Lúc bấy giờ Thiên ma biến mất”.
Phật
tử chúng ta xem qua đoạn này nên xét nghĩ : Như Tổ Ưu Bà
Quật Tôn giả đã biết trước là ma sắp hiện và có hứa
hẹn trước “không lạy”, mà đến khi ma hiện ra còn quên,
không phân biệt là ma hay Phật. Nếu chúng ta tình cờ gặp
cảnh ngộ như thế thử nghĩ trong tâm chúng ta thế nào ?
Bởi
thế nên trên đường tu hành, lúc nào chúng ta cũng phải cẩn
thận cho lắm, chớ nên thấy cái gì lạ, không chịu suy xét
kỹ, cứ nhắm mắt theo càn, ùa nhau tin tưởng cho là Thần,
Thánh thật. Lỡ một phen sa vào đường tà rồi, thì trăm
kiếp ngàn đời khó lòng trở lại. Nên nhớ rằng : “Cái
gì thiệt thì nó vẫn thiệt, dù mình tin hay không tin nó cũng
không mất. Còn cái gì giả thì chỉ ồ ạt trong một thời
gian mà thôi, nếu người không tin thì nó sẽ mau tiêu diệt.
Phật
dạy Các đệ tử :”Không nên thấy Phật cứ theo, nghe lời
Phật nói cứ tin, mà phải luôn luôn suy nghĩ, nếu đúng chân
lý sẽ tin theo”. Phật dạy như thế, để cho các Phật tử
khỏi bị tà ma ngoại đạo dối gạt.
Trong
kinh Kim Cang Phật dạy :
“Nhược
dĩ sắc kiến ngã,
Dĩ
âm thinh cầu ngã,
Thị
nhân hành tà đạo,
Bất
năng kiến Như Lai”.
Dịch
nghĩa : Nếu dùng sắc để thấy Như Lai,
Dùng âm thanh để cầu Như Lai,
Đó là kẻ làm tà đạo,
Không thể thấy được Như Lai.
Đại
ý đoạn này Phật dạy : Nếu người nào cho rằng thấy sắc
thân Phật có 32 tướng tốt, là thấy được Phật, thì ông
Chuyển Luân Thánh vương cũng đủ 32 tướng tốt, hoặc ma
nó hóa hiện ra sắc thân Phật, vậy cũng đều là Phật hay
sao ? Hay nghe tiếng nói pháp thanh thao của Phật, mà cho là
nghe được tiếng Phật thì tiếng chim Ca Lăng Tần Già, kêu
rất thanh thao lảnh lót, vậy cũng là tiếng nói của Phật
hay sao ? Những người tin tưởng như vậy, là theo tà đạo,
không bao giờ thấy được Phật.
Phật
thường nhắc nhở dặn dò các đệ tử : Phải dùng giáo lý
chân chánh dạy người. Khi người hiểu được chân lý rồi
tin theo thì lòng tin đó mới được chân chánh. Phật cấm
các đệ tử không cho dùng thần thông hay phép lạ để cảm
hóa người. Chỉ trừ một vài trường hợp : hàng phục ngoại
đạo hoặc quỷ thần, vì sợ sau này Thiên ma, ngoại đạo
dùng thần thông hay phép lạ làm mê hoặc người.
Vì
thế nên Phật không từ trên không rớt xuống, hay tự nhiên
xuất hiện; mà Ngài lại thị hiện cũng như người, lớn
lên có vợ con, rồi đi tu và thành đạo v . v . để cho
chúng sanh sau này đừng có tin tưởng những điều huyễn hoặc
thần kỳ.
Khi
Phật còn trụ thế, có người đàn việt đem dâng bình bát
cho chư tăng, lại để trên đầu một cây cột phướn cao
và thưa rằng : “Nếu vị nào lấy được tôi sẽ cúng cho”.
Khi đó ông Tân Đầu Lô Phả La Đọa Xà Tôn giả, dùng thần
thông lấy cái bình bát ấy, ông bị Phật quở trách rất
nghiêm khắc, và phạt ông phải ở lại thế gian ứng cúng,
làm phước điền cho chúng sanh, không được nhập diệt. Và
Phật còn chế ra giới luật cấm các đệ tử không được
dùng thần thông hay phép lạ trước người phàm phu.
Trong
kinh cũng có chỗ nói, các đức Phật và Bồ Tát thỉnh thoảng
thị hiện ra đời để hóa độ chúng sanh như đức Di Lặc
hay ngài Quán Thế Âm v . v . Nhưng khi các ngài hiện ra không
ai biết được, chỉ trừ đến khi thị tịch, các Ngài mới
để lại một vài di tích. Chừng đó người đời mới biết
Phật hay Bồ Tát thị hiện, khi biết thì không còn thấy các
Ngài nữa.
Như
đức Di Lặc Bồ Tát hiện thân làm vị Bố Đại Hòa thượng.
Ngài thường xách cái bị lớn bằng vải, đi khắp đó đây
để hóa độ chúng sanh, mà người đời không ai biết, chỉ
gọi Ngài là vị Bố Đại Hòa thượng 1. Đến khi ngài thị
tịch, nói một bài kệ lúc bấy giờ người ta mới biết
là đức Di Lặc Bồ Tát hiện thân.
Bài
kệ :
Di
Lặc chân Di Lặc,
Hóa
thân thiên bách ức.
Thời
thời thị thời nhân,
Thời
nhân giai bất thức.
Nghĩa
là : Di Lặc thật là Di Lặc. Biến hóa trăm ngàn muôn ức
thân hình. Thường thường thị hiện độ người đời mà
người đời chẳng ai biết.
1 Bố
Đại Hòa thượng là vị Hòa thượng tay cầm cái đãy lớn
bằng vải. Người mập bụng to, sắc mặt thường hoan hỷ.
Hiện nay ở các chùa phần nhiều có thờ, người thường
gọi là đức Di Lặc.
C
. KẾT LUẬN.
Đại
ý toàn cả bộ kinh này Phật dạy chúng sanh phải trở về
với thể tánh chân tâm thường trụ, đồng với ý nghĩa như
trong kinh Pháp Hoa : “Khai thị ngộ nhập Phật tri kiến”.
Phật
đã dạy cho chúng ta biết rằng : Chư Phật và chúng sanh cũng
đồng một bản thể chân tâm không khác. Vì chúng sanh mê
muội thể tánh chân tâm này nên phải chịu sinh tử luân hồi;
còn chư Phật đã ngộ chân tâm nên được tự tại giải
thoát. Vì vậy mà Phật dạy : “Ta là Phật đã thành, còn
các chúng sanh là Phật sẽ thành “.
Nguyên
nhân Phật nói kinh này, là do ngài A Nan thị hiện mắc nạn,
bị nàng Ma Đăng Dà bắt. Sau khi nhờ Phật cứu độ được
thoát nạn rồi. Ngài mới cầu Phật chỉ dạy cho phương pháp
nào mà mười phương các đức Phật tu hành đều được thành
đạo chứng quả.
Nhân
đó Phật nói kinh Lăng Nghiêm để chỉ rõ chân tâm. Nếu ngộ
được chân tâm là được thành Phật. Đó là một con đường
duy nhất của chư Phật quá khứ, hiện tại cũng như vị lai.
Trước
khi chỉ chân tâm thì Phật gạn hỏi cái tâm theo thường tình
của chúng sanh vọng chấp. Bảy đoạn hỏi tâm làm cho ngài
A Nan cùng đường tột lối; lúc bấy giờ Phật mới từ
từ chỉ bày cái chân tâm đến sáu, bẩy lần. Ban đầu Phật
tạm chỉ cái cảm giác về phần trực giác như thấy, nghe
v . v . là tâm (Cũng như người kiếm trâu mới tìm được
dấu). Khi A Nan và đại chúng đều hiểu rồi, Phật lại
chỉ lên một tầng nữa là : “các cảm giác tuy không phải
vọng, nhưng chưa phải là chân tâm, nó cũng như mặt trăng
thứ hai v .v . Phật lại chỉ cái bản thể sanh ra các cảm
giác (hiện tượng) mới thật là chân tâm. (Dụ như người
mới tìm gặp được trâu). Tức là ở đoạn trong văn kinh
chữ tầu nói “kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến,
kiến du ly kiến, kiến bất năng cập v . v .”.
Phật
dạy cho biết rằng : “Vì các ông còn ở trong vòng mê, nên
chỉ gọi là các cảm giác :thấy, nghe, hay, biết của chúng
sanh. Đến khi ngộ rồi thì gọi là bốn đức Niết Bàn của
Phật : thường, lạc, ngã, tịnh.” Và Phật dạy : “Tất
cả các pháp đều từ tâm biến hiện, như năm ấm, sáu nhập,
mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại đều do tâm sanh
ra, rồi cũng trở về thể tánh chân tâm. Thế là Ngài dẫn
các tướng quỷ về chân tánh.
Đến
đoạn này ngài A Nan mới ngộ được chân tâm, nên Ngài đứng
dậy lạy Phật và xứng theo thể tánh chân tâm rộng lớn
này mà phát lời thệ nguyện rộng sâu vô tận.
Ngài
nguyện rằng : “Trong đời ngũ trược tội ác, con thề vào
trước để độ chúng sanh. Nếu còn có một chúng sanh nào
chưa thành Phật thì con thề chẳng lãnh quả vui Niết Bàn
. . .”Và câu : “Hư không kia có thể tiêu hết, chớ
chí nguyện của con đây không hề lay chuyển”. Cũng vì Ngài
ngộ được đồng thể chân tâm, nên mới phát lời thệ nguyện
rộng lớn như thế.
Mình
đã được độ, muốn cho chúng sanh cũng đều được độ,
nên ngài A Nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp tu hành cho chúng
sanh đời sau.
Phật
dạy có 3 việc :
1-
Khi đối cảnh không khởi vọng niệm phân biệt theo vọng
trần, tức là câu “bất tùy phân biệt”. nghĩa là : Xoay
các cảm giác như thấy, nghe, hay, biết đều trở về thể
tánh chân tâm. Nếu vọng niệm không khởi thì chân tâm hiện
bày, đây là một pháp tu trực chỉ của bực thượng căn.
2.-
Phật dạy trì giới. Nhân trì giới tâm được thanh tịnh.
Vô minh hết, thì chân tâm tự hiện bày. Nhưng trong kinh này
nói trì giới là chỉ cho tâm giới. Nghĩa là thân đã không
sát, đạo, dâm, vọng, cho đến cái “biết mình đã đoạn
trừ” cũng không còn. Thật là cao siêu vô cùng và cũng khó
khăn tột bực. Vì nếu tâm còn móng một vọng niệm gì, thế
là tâm chưa tịnh. Nếu tâm chưa tịnh thì giới thể chưa
viên.
3.-
Phật dạy, nếu người nào nghiệp chướng nặng nề, thì
nên chí tâm trì tụng chú Lăng Nghiêm, dù nghiệp chướng nặng
đến đâu cũng lần lần tiêu hết, phước lành tăng trưởng,
sẽ thành đạo Bồ Đề. Như thuận gió tung bụi chẳng có
khó khăn gì.
Trên
đường tu hành, Phật dạy phải trải qua các địa vị như
: Thập tín, Thập trụ, Thập hạnh, Thập hồi hướng, Tứ
gia hạnh, Thập địa và Đẳng giác là năm mươi lăm vị,
rồi mới đến Phật.
Trong
khi tu Thiền định lại gặp năm chục thứ ma (sắc, thọ,
tưởng, hành, thức mỗi ấm có mười) nó biến hiện
đủ điều, nào là ma nội tâm, ma ngoại cảnh, đủ cách nhiễu
hại hành giả. Cho đến khi gần thành Phật mà nó cũng còn
theo phá. Như Thái tử Sĩ Đạt Ta, ngay trước khi đại ngộ
dưới cây Bồ đề vẫn còn bị ba nàng con của Ma vương tận
lực khuấy nhiễu. Đến sao mai sắp mọc Ngài được thành
Phật mới hết.
Sau
mỗi đoạn ma hiện, Phật đều dạy rằng : “Do hành giả
dụng công tu thiền, nên nó biến hiện ra như vậy, không phải
là đặng đạo hay chứng Thánh quả, nếu hành giả biết trước,
thì các cảnh ma kia lần lần tiêu diệt, không hại chi, còn
mê lầm không biết tự cho mình đặng đạo chứng Thánh, sanh
tâm chấp trước, thì bị ma nó cám dỗ, rồi phải đọa vào
đường tà, làm quyến thuộc của ma”.
Bởi
thế, nên người tu hành cần phải thận trọng, chớ nên gập
chi tin nấy mà bị ma cám dỗ, rất nguy hiểm cho đời mình
về hiện tại cũng như vị lai.
Phật
nhắc đi nhắc lại nhiều lần, bảo các đệ tử : “Nên
đem lời ta nói đây truyền dạy cho chúng sanh đời sau, khiến
mọi người đều biết rõ, để tránh khỏi các ma nhiễu hại,
trên đường tu hành thẳng đến đạo Bồ Đề”.
Phật
lại tha thiết kêu gọi các đệ tử :”Hôm nay các ông được
ta tế độ rồi, vậy các ông không nên nhập diệt sớm, phải
nguyện ở lại đời mạt pháp, để bảo hộ người tu hành
đời sau, thế mới là người biết ơn Phật”.
Lòng
từ của Phật thật là vô biên, tế độ chúng sanh không cùng
tận, thương chúng ta như cha mẹ thương con, dạy dỗ chúng
ta như mẹ hiền khuyên con dại; nhắc đi nhắc lại nhiều
lần không biết mỏi. Thật đúng câu : “Đại từ đại bi
mẫn chúng sanh. Đại hỷ, đại xả tế hàm thức .
. .”
Phật
tử chúng ta phải làm thế nào để khỏi phụ lòng thương
yêu của đấng Từ Phụ, cho xứng với danh từ “Phật tử”.
Hết