BÀI
THỨ MƯỜI LĂM
I.
Mười món ma về thọ ấm.
1.
Thấy loài vật, thương khóc.
-Này
A Nan, người tu thiền định khi phá trừ sắc ấm rồi, tâm
trí sáng suốt; do hành giả dụng công dằn ép các vọng tưởng
thái quá, nên phát sanh lòng thương sót các loài vật vô cùng,
cho đến thấy loài mòng muỗi, thương cũng như con ruột, thương
cho đến nỗi sa nước mắt khóc ròng. Nếu hành giả giác
ngộ thì cảnh ấy lần lần tiêu hết không có hại chi; còn
mê lầm không biết, thì bị ma sầu bi ám ảnh vào tâm, rồi
thấy người tự khóc ròng, tâm mất chánh định, sau khi chết
rồi đọa vào cảnh ma.
2.
Chỉ dõng mãnh bằng Phật.
Này
A Nan, người tu thiền định khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện
bày, thấy có nhiều điều linh ứng và những cảnh tốt đẹp
hiện ta. Vì trong lòng cảm khích thái quá, nên hành giả phát
tâm đại dõng mãnh, lập chí đồng với chư Phật, quyết
tu một đời cho thành Phật, không chịu trải qua ba vô số
kiếp. Nếu hành giả giác ngộ thì cảnh ấy lần lần tiêu
diệt; còn mê lầm không biết, cho mình chứng Thánh thì bị
ma nhập tâm, thấy người hay khoe khoang hống hách, ngã mạn
không ai bằng, cho đến trên thấy không có Phật, dưới thấy
không có người, mất chánh định, sau khi chết rồi bị đọa
vào ác đạo.
3.
Tâm nghĩ tưởng khô khan.
Lại
nữa người tu thiền định, khi địa vị cũ đã qua khỏi,
địa vị mới chưa chứng, lúc ấy bơ vơ giữa chừng, vì
trí lực suy kém, nên trong tâm sanh ra rất khô khan, tất cả
thời nhớ nghĩ vẩn vơ, rồi tự cho đó là tinh tấn. Đây
vì trong lúc tu thiền, không cò trí tuệ sáng suốt để phán
đoán. Nếu hành giả hiểu biết thì không có hại; còn mê
lầm không biết, cho mình chứng Thánh thì bị ma ám ảnh vào
tâm, sớm chiều bốc quăng trái tim của mình, mất chánh định,
chết rồi đọa vào ác đạo.
4.
Đặng chút ít cho là đầy đủ.
Người
tu thiền định khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, vì dùng
huệ nhiều hơn định mất sự thăng bằng, nên gập những
cảnh thù thắng hiện ra, sanh lòng nghi ngờ cho là đức Tỳ
Lô Giá Na Phật, mới đặng chút ít cho là đầy đủ. Nếu
hành giả hiểu biết thì không có hại; còn mê lầm không
biết cho mình chứng Thánh, thì bị ma ám ảnh khi gặp người
tự xưng “Ta đặng đạo vô thượng Bồ Đề”, sẽ mất
chánh định, sau đọa vào đường ma.
5.
Tâm buồn rầu vô hạn.
Người
tu thiền định, khi cảnh cũ đã mất, địa vị mới chưa
chứng, tự thấy bơ vơ; gặp cảnh gian nan nguy hiểm, sanh tâm
buồn rầu vô hạn, như ngồi trên chông sắt, như uống thuốc
độc, tâm chẳng muốn sống, thường cầu xin người giết
giúp thân mạng mình, đặng sớm được giải thoát. Đây là
vì trong lúc tu hành thiếu phương tiện để bước qua những
cảnh ấy. nếu liễu ngộ thì không hại; còn mê lầm chẳng
biết, cho mình chứng Thánh, thời bị ma u sầu ám ảnh, rồi
tự cầm gươm dao lóc lấy thịt mình, ưa bỏ thân mạng, thường
hay lo rầu hoặc vào ở núi non rừng rú, không muốn thấy
người, mất tâm chánh định, sau chết rồi đọa vào đường
ma.
6.
Vui cười không thôi.
Người
tu thiền định khi tâm được thanh tịnh an ổn rồi, bỗng
nhiên sanh ra vui mừng vô hạn không thể ngăn được. Nếu
hiểu biết thời không hại; còn mê lầm cho mình chứng Thánh,
thì bị ma nhập vào tâm phủ, thấy người cười hoài, đi
trên đường sá một mình ca múa. Tự cho rằng : “Ta đã đặng
vô ngại giải thoát”, mất chánh định, sẽ đọa vào đường
tà.
7.
Sanh đại ngã mạn.
Người
tu thiền định, khi thấy sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày,
tự cho mình được như thế là đầy đủ rồi, sanh tâm đại
ngã mạn, đối với mười phương chư Phật còn khinh khi, huống
hồ là Thanh văn, Duyên giác. Nếu hiểu ngộ thì chẳng hại,
còn mê lầm không biết cho là chứng Thánh, thì bị ma đại
ngã mạn nó nhập tâm, không lạy Phật, Tổ, hủy hoại kinh
tượng. Hạng người ấy thường nói với tín đồ rằng :
“Phật bằng cây, đất, đồng, chì; còn kinh tượng là giấy
mực, có gì mà kính lạy; nhục thân này mới là chân thật
thường còn, sao chẳng cung kính, thất là điên đảo”. Tín
đồ nghe rồi tin theo, đốt kinh, chôn Phật. Người làm nghi
lầm cho chúng sanh như thế, sau khi chết rồi bị đọa vào
địa ngục vô gián
8.
Tâm sanh khinh an.
Người
tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, trong
tâm sanh ra vô lượng khinh an, rồi tự cho mình đã chứng Thánh,
đặng đại tự tại. Nếu hành giả hiểu biết thì không
hại; còn mê lầm không biết thì bị ma nhập tâm, rồi tự
cho mình đã đầy đủ, không cầu tu tấn, mất chánh định,
sau bị đọa vào đường tà.
9.
Chấp không.
Người
tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, trong
tâm rỗng sáng, rồi sanh ra chấp đoạn diệt, bác không nhân
quả, không tội phước, tất cả đều không. Nếu hành giả
hiểu biết thời không hại, còn mê lầm không biết chấp
mình chứng Thánh thì bị ma nhập tâm, rồi chê bai người
trì giới cho là tu hạnh Tiểu thừa, tự xưng mình là Bồ
tát ngộ lý chân không rồi, không còn trì giới và phạm giới
nữa, vẫn ăn thịt uống rượu làm những việc tà dục. Do
thần lực của ma, nó làm cho tín đồ say mê, thương yêu cung
phụng, luôn luôn trung thành, chẳng sanh lòng nghi ngờ hủy
báng. Vì ma nhập lâu ngày làm cho phải điên, đến đỗi ăn
uống những đồ nhơ uế, mà cho cũng như là uống rượu ăn
thịt, phá các giới cấm của Phật, hoàn toàn chấp không,
làm mất chánh kiến của mình, sau khi chết rồi đọa vào
đường ta.
10.
Vì quá tham ái nên sanh ra cuồng.
Người
tu thiền định, khi sắc ấm tiêu, thọ ấm hiện bày, sanh
ra vô cùng ái dục, đến đỗi phát cuồng. Nếu hành giả
giác ngộ thì cảnh đó hết dần, còn mê lầm không biết
cho là chứng Thánh, thì bị ma nhập tâm, rồi khuyến hóa người
đời bình đẳng hành dục; bảo họ rằng :”hành dục là
đạo Bồ Đề, người hành dâm dục là kẻ duy trì chánh pháp”.
Do thần lực của ma làm cho người cuồng kia chinh phục được
cả ngàn muôn người, đến chừng ma nhàm chán, bỏ người
tu thiền kia rồi, lúc bấy giờ hành giả không còn oai đức
gì nữa, bị luật nước giam cầm, đến khi lâm chung đọa
vào địa ngục vô gián.
Tóm
lại.
-A
Nan, mười cảnh ma này, đều do trong lúc tu thiền, hành giả
dụng tâm phá trừ thọ ấm, nên tự hiện ra các cảnh như
vậy. nếu hành giả mê lầm không biết, cho rằng chứng Thánh,
thì bị ma dựa vào làm nhiễu hại đến thế; chết rồi đọa
vào địa ngục vô gián.
Sau
khi ta nhập diệt, các ông nên đem lời ta dạy mà truyền dạy
cho chúng sanh đời sau bảo hộ người tu hành được thành
đạo Bồ Đề, chớ để cho họ gặp các loài ma chướng làm
hại, mà phải bị đọa vào ác đạo.
II.
Mười món ma về tưởng ấm.
1.Tham
cầu diệu dụng.
-A
Nan, người tu thiền định, khi phát minh được diệu định
rồi, lại khởi tâm tham cầu những việc diệu dụng và linh
nghiệm. Khi đó thiên ma được biết, gặp dịp thuận tiện,
nên xuất hồn nhập vào người, mà người bị nhập kia lại
không biết, tự cho mình đặng đạo vô thượng Niết Bàn,
cũng thường nói ra kinh pháp. Trong giây phút, thân hình người
bị nhập kia biến hiện ra ông thầy, cô ni, vị Đế Thích
hay người phụ nữ v . v . hoặc ở trong nhà tối, từ nơi
thân họ chiếu ra hào quang sáng ánh. Người đời lầm cho
là Bồ Tát thật, rồi tin theo lời ma giáo hóa, sanh tâm buông
lung, phá giới luật của Phật, lén làm việc tham dục. Người
này ưa nói những điềm tai biến lạ lùng, hoặc nói chỗ
kia có Phật ra đời, năm nào nổi đao binh giặc giã, năm nào
có hỏa hoạn v . v . khủng bố tinh thần dân chúng, khiến
cho người hao tài tốn của. Đến khi ma kia nhàm chán bỏ đi,
thì thầy trò bị ma nhập kia đều bị giam cầm. Các ông nếu
biết trước thời khỏi vào luân hồi; còn mê lầm không biết
thì đọa vào ác đạo.
2.
Tham cầu du ngoạn.
A
Nan, hành giả khi tu thiền, trong tâm muốn xuất thần dạo
chơi. Lúc bấy giờ Thiên ma Ba Tuần hiểu biết, được dịp
thuận tiện nhiễu hại, nên nó xuất hồn nhập vào người,
mà người bị nhập kia lại không biết, tự nói mình đặng
đạo vô thượng Niết Bàn, miệng cũng nói kinh pháp thông
suốt, làm cho những người nghe đều tự thấy thân mình hóa
ra sắc vàng sáng rỡ, ngồi trên tòa sen báu, đặng những
điều chưa từng có. Người đời lầm tưởng là Bồ Tát
thị hiện. người bị ma nhập kia lại khiến người phá giới
luật của Phật, âm thầm làm việc tham dục, miệng ưa nói
chuyện chư Phật giáng thế, như : ở xứ kia ông đó là đức
Phật nào thị hiện. người nọ là vị Bồ Tát nào thị hiện
v . v . làm cho người thấy, nghe sanh lòng khao khát,
tâm tà kiến thêm mạnh, giống trí tiêu mòn. Đến lúc ma kia
nhàm chán bỏ đi, thì thầy trò người bị ma nhập ấy đều
bị bắt cả.
Các
ông nếu sớm giác ngộ thì khỏi vào luân hồi; còn mê lầm
không biết thì bị đọa vào địa ngục.
3.
Cầu ngộ chân lý.
Lại
nữa, người tu thiền định, trong tâm tham cầu ngộ chân lý.
Lúc bấy giờ Thiên ma Ba tuần biết được ý muốn, nên xuất
hồn nhập cho người, mà người tự không biết, cho rằng
ta đặng đạo vô thượng Niết Bàn, miệng cũng nói kinh pháp,
làm cho thính giả tuy chưa nghe pháp, mà tâm tự khai ngộ, biết
được việc nhiều đời trước, hoặc biết rõ được tâm
tánh người, biết trước những họa phước ở nhân gian,
miệng tự đọc kinh hay nói kệ, mỗi người đều tự vui
mừng, cho là đặng những việc chưa từng có. Người đời
mê lầm cho là Bồ Tát thị hiện. Ma kia lại ưa nói : “Phật
có lớn nhỏ, Phật thiệt, phật giả, Phật nam, Phật nữ,
đức Phật kia là đức Phật trước, đức Phật nọ là đức
Phật sau; Bồ Tát cũng vậy”, làm cho người mất chánh tín
lại sanh tà kiến, tâm tánh buông lung, phá giới luật của
Phật, lén làm việc tham dục. Đến khi chúng ma kia sanh tâm
nhàm chán bỏ đi, thì thầy trò người bị ma nhập kia đều
bị bắt. Các ông biết trước thời khỏi bị luân hồi; còn
mê lầm tin theo thời đọa vào địa ngục.
4.
Móng tâm muốn biết nguồn gốc của muôn loài.
Lại
nữa người tu thiền định, khi ở trong định móng tâm muốn
biết cùng tột căn nguyên của muôn vật, thỉ chung sanh hóa
thế nào. Khi đó Thiên ma hiểu biết ý muốn, gặp dịp thuận
tiện để khuấy nhiễu, nên xuất hồn đến nhập cho người,
mà người bị nhập kia lại không biết, cho mình đặng đạo
vô thượng Niết Bàn, cũng thường nói kinh pháp. Chúng ma kia
dùng oai thần nhiếp phục quần chúng, làm cho thính giả tuy
chưa nghe pháp mà trong lòng đã tự kính phục. Chúng ma nói
: “Thân thịt hiện tiền đây là Bồ Đề Niết Bàn, là pháp
thân của Phật”. Chúng ma lại nói : “Cha cha con con tiếp
nối sanh nhau, đó là Pháp thân thường trụ bất diệt”.
và thường nói : “Mắt, tai, mũi lưỡi là cảnh tịnh độ,
nam căn và nữ căn tức là Bồ Đề Niết Bàn”. Những người
mê lầm không biết cho là Bồ tát thị hiện, tin tưởng quy
y theo, cho là một đấng hy hữu chưa từng có. Mất tâm chánh
tín, phá giới luật của Phật, âm thầm làm hạnh tham dục.
Đến lúc ma kia nhàm chán bỏ đi rồi, thì thầy trò người
bị ma nhập kia đều bị bắt cả. Các ông nếu biết trước
thì khỏi bị luân hồi, còn mê lầm tin theo thời đọa vào
địa ngục vô gián.
5.
Tham cầu cảm ứng linh nghiệm.
Người
tu thiền định vì móng tâm tham cầu sự cảm ứng linh nghiệm,
nên Thiên ma biết được ý muốn, nó xuất hồn đến gá vào
người, mà người kia không biết, tự cho mình đặng đạo
vô thượng Niết Bàn, cũng thường nói kinh pháp. Ma lại dùng
thần lực khiến cho những người nghe pháp đều thấy thân
thể người bị nó nhập kia già nua như người trăm ngàn tuổi,
sanh lòng thương mến, đêm ngày hầu hạ không biết mỏi mệt,
và tứ sự cúng dường. Nó lại làm cho người người kính
trọng là vị Tiên sư hay Thiện tri thức. Đối với người,
nó ưa nói việc huyền ảo như : “Đời trước ta tế
độ người kia, người nọ. Đời trước người kia là anh
em hay vợ con của ta, đời nay ta tế độ để cùng nhau sẽ
sanh về thế giới kia và cúng dường đức Phật nọ”. hoặc
nói : “Có cõi Trời Đại quang minh , tất cả các đức Phật
đều ở đó”. Những người mê muội không biết lầm cho
là Bồ Tát thị hiện, tin tưởng kính trọng vô cùng, mất
tâm chánh tín, phá giới luật của Phật, âm thầm làm việc
tham dục. Đến khi chúng ma kia sanh tâm nhàm bỏ, thì thầy
trò người bị ma nhập kia đều bị bắt. Các ông biết trước
thời khỏi vào luân hồi, còn tin tưởng nghe thep thì đọa
vào địa ngục vô gián.
6.
Tham cầu ở chỗ vắng vẻ u tịch.
Người
tu thiền định, khép mình nơi khổ hạnh tham cầu ở chỗ
vắng vẻ tịch mịch. Khi đó Thiên ma Ba tuần biết được
ý muốn, nên xuất hồn nhập vào người, mà người kia không
biết, cho mình chứng đạo vô thượng Niết Bàn, cũng thường
hay nói pháp. Ma dùng thần lực khiến cho các người nghe đều
biết được đời trước của mình. Hoặc trong chỗ đông
người, nó chỉ một người nào đó nói rằng : “người
này chưa chết, mà đã thành súc sanh”.Nói rồi bảo một
người khác đạp sau cái đuôi thì người kia biến thành súc
sanh, đứng dậy không được, làm cho đồ chúng hết sức
kính phục. Có ai vừa móng tâm niệm gì, thì ma nó liền biết
và nói ra ngay. Ngoài giới luật của Phật, chúng còn giữ
thêm những điều khổ hạnh, phỉ báng các thầy Tỳ kheo,
mắng nhiếc tín đồ, làm tiết lộ bí mật của người mà
không sợ người hiềm ghét, thường nói những việc họa
phước sắp đến, không sai một mảy. Đến lúc ma lia nhàm
bỏ rồi. thì thầy trò người bị ma nhập đều bị bắt.
Các ông biết trước thời không vào luân hồi, còn mê mờ
tin theo thì đọa vào địa ngục vô gián.
7.
Tham cầu biết kiếp trước..
Người
trong khi thiền định, móng tâm tham cầu biết kiếp trước
của mình. Khi đó Thiên ma hiểu biết, gặp dịp thuận tiện,
nên xuất hồn nhập vào người, mà người bị nhập kia không
biết, tự cho mình đặng đạo vô thượng Niết Bàn, cũng
thường nói kinh pháp, hoặc làm cho người tình cờ đặng
châu báu. Nó hóa ra một con vật ngậm hột châu hay những
vật kỳ quái đem đến đưa cho người. Nó chỉ ăn rau rác
đơn sơ không dùng đồ ngon quý, cò khi mỗi ngày chỉ ăn một
hột mè, hột bắp, mà thân hình vẫn mập tốt. Chúng thường
nói : “Xứ kia có kho báu, chỗ nọ có các vị Thánh Hiền
ẩn”. Chúng làm cho người thấy những điều kỳ dị, hoặc
nói những việc tham dục, phá giới luật của Phật, âm thầm
làm hạnh dâm dục. Đến khi ma kia nhàm bỏ rồi, thì thầy
trò người nhập đều bị bắt cả. Các ông biết trước
thì khỏi vào luân hồi, còn mê lầm tin theo, thì đọa vào
địa ngục.
8.
Tham cầu thần thông.
Người
khi tu thiền định, móng tâm muốn được thần thông biến
hóa. Khi đó Thiên ma liền biết, nên xuất hồn nhập cho người,
mà người không biết, tự cho rằng : “Đặng đạo vô thượng
Bồ Đề”. Miệng nói kinh pháp và một tay cầm lửa, rồi
một tay rứt ánh sáng phân phát để trên đầu của thính
giả. Mỗi người đều thấy trên đầu có ánh sáng dài đến
vài thước, mà chẳng biết nóng; hoặc đi trên nước hay ngồi
trên hư không vẫn tự tại; hoặc vào trong bình, vô trong đãy
(bọc), đi ngang qua vách tường, mà không bị chướng ngại.
Chỉ trừ khi đối với đao binh, thì họ không tự tại. Họ
tự xưng là Phật mà thân mặc đồ thế gian, thọ các thầy
Tỳ kheo lễ bái, chê bai người tham thiến và trì giới, mắng
nhiếc đồ chúng, làm tiết lộ việc nhà người mà không
sộ người hiềm giận. Họ thường nói với người : “Ta
đã đặng thần thông tự tại”; hoặc làm cho người thấy
được cõi Phật (ma hiện ra cõi Phật) đem những điều dở
hèn làm việc truyền đạo và khen ngợi việc hành dục. Đến
lúc ma kia nhàm bỏ, thì thầy trò người bị ma nhập kia đều
bị bắt cả. Các ông biết trước thời khỏi vào luân hồi;
còn mê lầm tin theo thời bị đọa vào địa ngục vô gián.
9.
Tham cầu không không.
Người
khi tu thiền định, tâm ưa nhập diệt, tham cầu không không.
Khi ấy Thiên ma liền biết, đặng dịp thuận tiện, nên xuất
hồn nhập cho người, mà người kia chẳng biết, tự cho mình
đặng đạo vô thượng Niết Bàn, miệng nói kinh pháp. Hoặc
ở trong chỗ đông người, người ấy tự biến mất, không
ai thấy được, rồi tình cờ từ trên hư không hiện ra, khi
ẩn khi hiện thần diệu vô cùng, hoặc hiện thân trong suốt
như ngọc lưu ly, khi duỗi tay chân ra thì thơm nực mùi hương
chiên đàn, chê bai giới luật, hủy báng người xuất gia,
bác không có nhân quả, cho rằng chết rồi mất hẳn, không
có đầu thai, âm thầm làm việc tham dục, khiến cho những
người thọ dục, cũng chấp không có nhân quả tội phước
v . v . Đến lúc ma nhàm bỏ, thì thầy trò người bị ma nhập
kia đều bị bắt cả. Các ông biết trước thời khỏi vào
luân hồi; còn mê lầm không biết thì đọa vào địa ngục
vô gián.
10.
Tham cầu sống lâu.
Người
tu thiền định, móng tâm tham cầu sống lâu. Lúc bấy giờ
Thiên ma hiểu biết, xuất hồn nhập cho người, mà người
tự không biết, nói mình đặng đạo vô thượng Niết Bàn,
miệng thường nói kinh pháp và đi qua lại các thế giới được
tự tại không ngăn ngại; mặc dù đường xa muôn dặm, nhưng
đi trong nháy mắt đã trở về đến chỗ, lại lấy những
vật ở phương xa kia đem về làm tin. Hoặc ở trong một căn
nhà nhỏ, nó bảo người đi thiệt mau, từ vách này qua vách
bên kia, đi mấy năm cũng không đến; hoặc thường nói :”Chúng
sanh trong mười phương đều là con của ta, ta sanh ra chư Phật,
ta sanh ra thế giới, ta là Phật đầu tiên tự nhiên có, chẳng
nhân tu hành mới được”; hoặc ngồi nói lầm thầm một
mình như người cuồng, khiến cho người đời tin tưởng là
Phật thiệt.
Các
ông biết trước thì khỏi bị luân hồi, còn mê lầm tin theo
thời đọa vào địa ngục vô gián.
Tóm
lại.
A
Nan, mười món ma tưởng ấm này, ở trong đời mạt pháp,
sẽ giả làm người xuất gia tu hành trong đạo của ta, hoặc
nhập cho người, hoặc tự hiện hình, đều tự xưng rằng
: “Đã chứng quả Phật”. Chúng khen ngợi việc dâm dục,
phá giới luật của Phật. Ma thầy, ma trò cùng nhau truyền
dạy, làm hại cho người đến nhiều đời lắm, khiến người
chân tu mất chánh kiến, bị đọa làm bà con quyến thuộc
của ma.
Các
ông ngày nay đã được độ ra khỏi sanh tử luân hồi rồi,
vậy các ông phải khởi lòng đại từ bi, không nên nhập
diệt sớm, phải nguyện ở lại đời mạt pháp để cứu
độ những người chân chánh tu hành đời sau, khỏi bị ma
nhiễu hại.
Các
ông tuân theo lời ta dạy đây, mới gọi là đền đáp ơn
Phật. Các ông gắng bảo hộ người tu hành, nên đem lời
nói của ta đây truyền dạy cho chúng sanh đời sau, khiến
cho họ hiểu rõ các việc ma, để khỏi bị Thiên ma nhiễu
hại và mau được thành đạo vô thượng Bồ Đề.