BÀI
THỨ MƯỜI BỐN
I.
Phật dạy trì chú Lăng Nghiêm.
-A
Nan, người tu hành phải gìn giữ 4 điều luật nghi cần yếu:
dâm, sát,đạo,vọng cho trong sạch, cũng như băng tuyết, nơi
tâm không khởi vọng niệm, duyên theo ngoại cảnh, thì các
chúng ma kia không làm sao sanh được (vì trong tâm vọng động,
nên ngoại ma mời ứng).
Nếu
người nào nghiệp chướng nặng nề không thể trừ được,
ông nên dạy họ chí tâm trì chú Lăng Nghiêm này, thì các
nghiệp chướng đều tiêu diệt. Bằng chứng là ông cùng với
nàng Ma Đăng Dà, tình ân ái làm chồng vợ đã khắn khít
nhau từ nhiều kiếp, đâu phải mới một đời này; nhờ thần
chú lăng Nghiêm mà nàng Ma Đăng Dà nguồn tình khô cạn và
được thành A La Hán.
Ma
Đăng Dà là kẻ dâm nữ, không có tâm tu hành còn được thành
quả Thánh, huống chi các ông là bậc Thanh văn, có chí cầu
đạo vô thượng, lại trì tụng chú này, thì quyết định
thành Phật rất dễ, cũng như thuận gió tung bụi, chẳng có
khó gì.
Chú
Giải.
Trong
đoạn kinh này Phật dạy phương pháp tu hành để thành Phật,
tóm lại có 3 điều :
1.Bất
tùy phân biệt. Nghĩa là : khi đối cảnh không khởi vọng
tâm phân biệt, thì tham, sân, si chẳng sanh. Tham, sân, si không
sanh thì các nghiệp sát, đạo, dâm chẳng tạo. Nghiệp nhân
không tạo thì quả báo chẳng có. Nói tóm lại là “xoay các
cảm giác trở về chân tâm”. Không duyên theo trần cảnh
thì vọng niệm không sanh, vọng không sanh thì chân tâm hiện
bày.
Tồ
sư có dạy : “Kiến sắc phi can sắc, văn thanh bất thị thanh”,
nghĩa là : Thấy sắc không can hệ gì đến sắc, nghe tiếng
cũng không dính líu gì đến tiếng. Hay như câu : “ngộ thanh
ngộ sắc, như thạch thượng tài hoa, kiến lợi kiến danh
như nhãn trung trước tiết” (gặp sắc đẹp hay nghe tiếng
hay, như hoa trồng trên đá – không dính líu gì -; thấy tài
lợi và danh vọng như bụi rớt trong con mắt. Nếu người
đến trình độ này rồi, thì dầu vào thanh lâu hay tửu điếm
cũng đều là đạo tràng thanh tịnh (dâm phòng tửu tứ vô
phi thanh tịnh đạo tràng).
2.Trì
giới. Phải giữ gìn giới luật, trong tâm ngoài thân đều
thanh tịnh như băng tuyết.
3.Trì
chú Lăng Nghiêm. Nếu người nào nghiệp chướng nặng nề,
thì phải trì tụng thần chú Lăng Nghiêm sẽ mang đặng thành
đạo quả. Trong 3 pháp tu này, bực thượng căn, trung căn và
hạ căn đều tu được cả. Thật là lòng từ bi của Phật
vô lượng, mưa pháp khắp trùm, cỏ cây lớn nhỏ đều được
thấm nhuần !
II.
A Nan cầu Phật nói lại thần chú.
Ông
A Nan đứng dậy đảnh lễ phật và kính cẩn bạch rằng :
-Con
từ khi xuất gia đến nay, vì ỷ lại lòng thương yêu của
Phật, chỉ lo học rộng nghe nhiều, chẳng chuyên tu tập, nên
chẳng chứng được đạo quả, thành thử phải bị tà thuật
của Phạm thiên bắt; trong tâm con tuy thông suốt mà năng lực
chưa được tự do, nên còn phải nhờ ngài Văn Thù đến cứu
độ. Con tuy nhờ thần chú Lăng Nghiêm của Phật mới được
giải thoát, nhưng chính con chưa được nghe, cúi xin đức Thế
Tôn từ bi nói lại; khiến cho những người tu hành hiện tại
và chúng sanh luân hồi đời sau, nhờ thần chú này mà thân
tâm được giải thoát.
III.
Phật phóng quang nói thần chú.
Khi
đó từ nơi nhục kế (đảnh) của Phật, phóng ra hào quang
trăm báy; trong hào quang xuất hiện ra hoa sen báu ngàn cành.
Trong hoa sen có đức hóa Phật ngồi, trên đảnh Ngài phóng
ra mười đạo hào quang đều có thị hiện vô số thần Kim
Cang : vị bưng núi, vị cầm bảo sử v . v . đứng khắp cả
hư không. Đại chúng trông thấy vừa mừng vừa sợ, đều
cầu Phật thương xót che chở và nhất tâm chờ nghe Phật
nói thần chú .
Phật
nói thần chú :
(Đệ nhất)
Nam
mô tát đát tha tô già đa da a la ha đế tam miệu tam bồ đà
tỏa. Tát đát tha Phật đà cu tri sác ni sam. Nam mô tát bà
bột đà bột địa, tát đa bệ tệ. Nam mô tát đa mẩm tam
miệu tam bồ đà cu tri nẩm. Ta xá ra bà ca tăng già nẩm. Nam
mô lô kê A la hán đa nẫm. Nam mô tô lô đa ba na nẫm. Nam mô
ta yết rị đà già di nẩm. Nam mô lô kê tam miệu già đa nẫm.
Tam miệu già ba ra để ba đa nẫm. Nam mô đề bà ly sắc nỏa.
Nam mô tất đà da tỳ địa da đà ra ly sắc nỏa. Xá ba noa
yết ra ha ta ha ta ra ma tha nẩm. Nam mô bạt ra ha ma ni. Nam mô
nhơn đà ra da. Nam mô bà già bà đế, Lô đà ra da. Ô ma bát
đế, ta hê dạ da. Nam mô bà già bà đế. Na ra dả noa da. Bàn
giá ma ha tam mộ đà ra. Nam mô tất yết rị đa da. Nam mô bà
già bà đế. Ma ha ca ra da. Địa rị bát lặc na già ra. Tỳ
đà ra ba noa ca ra da. A địa mục đế. Thi ma xá na nê bà tất
nê. Ma đát rị già noa. Nam mô tất yết rị đa da. Nam mô bà
già bà đế. Đa tha giả đa cu ra da. Nam mô bát đầu ma cu ra
da. Nam mô bạc xà ra cu rada. Nam mô ma ni cu ra da. Nam mô già
xà cu ra da. Nam mô bà già bà đế, đế rị trà du ra tây na,
ba ra ha ra noa ra xà da, đa tha già đa da.Nam mô bà già bà đế.
Nam mô a di đa bà da, đa tha dà đa da, a ra ha đế, tam miệu
tam bồ đà da. Nam mô bà già bà đế, a sô bệ da, đa tha già
đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da. Nam mô bà già bà
đế, bệ sa xà da cu lô phệ trụ rị da, bác ra bà ra xà da,
đa tha già đa da. Nam mô bà già bà đế, tam bổ sư tỷ đa,
tát lân nại ra lặc xà da, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam
miệu tam bồ đà da. Nam mô bà già bà đế, xá kê dã mẫu
na duệ, đa tha già đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà
da. Nam mô bà già bà đế, lặc đác na kê đô ra xà da, đa
tha dà đa da, a ra ha đế, tam miệu tam bồ đà da, đế biều
nam mô yết rị đa, ề đàm bà già bà đa, tát đát tha già
đô sắc ni sam, tát đát đa bác đác lam.Nam mô a bà ra thị
đam, bác ra đế dương kỳ ra, tát ra bà bộ đa ýêt ra ha,
ni yết ra ha yết ca ra ha ni, bạc ra tỷ địa da sất đà nể,
a ca ra mật rị trụ, bác rị đát ra da nảnh yết rị, tát
ra bà bàn đà na mục xoa ni, tát ra bà đột sắc tra đột tất
phạp, bát na nể phạt ra ni, giả đô ra thất đế nẩm, yết
ra ha ta ha tát ra nhả xà, tỳ đa băng ta na yết rị, a sắc
tra băng xá đế nẩm, na xoa sát đác ra nhả xà,ba ra tát đà
na yết rị, a sắc tra nẩm, ma ha yết ra ha nhả xà, tỳ đa
băng tát na yết rị, tát bà xá đô lô nể bà ra nhả xà,
hô lam đột tất phạp, nan giá na xá ni, tỷ sa xá tất đác
ra a kiết ni ô đà ca ra nhã xà, a bác ra thị đa cu ra, ma ha
bác ra chiến trì, ma ha điệp đa, ma ha đế xà, ma ha thuế
đa xà bà ra, ma ha bạt ra bàn đà ra bà tất nể, a rị da đa
ra, tỳ rị cu tri, thệ bà tỳ xà da, bạt xà ra ma lễ để,
tỳ xá lô đa, bột đằng võng ca, bạt xà ra chế hắt na a
giá, ma ra chế bà bác ra chất đa, bạc xà ra thiện trì, tỳ
xá ra giá, phiến đa xá bệ đề bà bổ thị đa, tô ma lô
ba, ma ha thuế đa, a rị da đa ra, ma ha bà ra a bác ra, bạt xà
ra thương yết ra chế bà, bạt xà ra cu ma rị, cu lam đà rị,
bạt xà ra hắc tát đa giá, tỳ địa gia kiền giá na ma rị
ca, khuất tô mẫu bà yết ra đá na, bệ lo giá na cu rị da,
dạ ra thố sắc ni sam, tỳ chiết lam bà ma ni giá, bạt xà
ra ca na ca ba ra bà, lô xà na bạt xà ra đốn trỉ giá, thuế
đa giá ca ma ra sát xa thi ba ra bà, ế đế di đế, mẫu đà
ra yết noa, ta bệ ra sám, quật phạm đô, ấ thố na mạ mạ
tỏa.
(Đệ Nhị)
Ô
hồng rị sắc yết noa, bác lặc xá tất đa tát đát tha già
đô sắc ni sam. Hổ hồng đô lô ung chim bà na. Hổ hồng đô
lô ung tất đam bà na. Hổ hồng đô lô ung ba ra sắc địa
da tam bác xá noa yết ra. Hổ hồng đô lô ung tát bà dược
xoa hắc ra sát ta yết ra ha nhã xà, tỳ đằng băng tát na yết
ra. Hổ hồng đô lô ung, giả đô ra thi để nẩm yết ra ha
ta ha tát ra nẫm tỳ đằng băng tát na ra. Hổ hồng đô lô
ung, ra xoa , bà già phạm tát đát tha già đô sắc ni sam, ba
ra điểm xà kiết rị, ma ha ta ha tát ra, bột thọ ta ha tát
ra thất rị sa, cụ tri ta ha tát nê đế lệ, a tệ đề thị
bà rị đa, tra tra anh ca ma ha bạt xà lô đà ra, đế rị bồ
đà na, man trà ra, ô hồng, ta tất đế bạc bà đô, mạ mạ
,ấn thố na mạ mạ tỏa.
(Đệ Tam)
Ra
xà bà dạ, chủ ra bạt dạ, a kỳ nì bà dạ, ô đà ca bà
dạ, tỳ xa bà dạ, xá tát đa ra bà dạ, bà ra chước yết
ra bà dạ, đột sắc xoa bà dạ, a xá nể bà dạ, a ca ra mật
rị trụ bà dạ, đà ra ni bộ di kiếm ba già ba đà ba dạ,
ô ra ca bà đa bà da, lặc xà đăng trà bà dạ, na già bà dạ,
tỳ điều đát bà dạ, tô ba ra noa bà dạ, dược xoa yết
ra ha, ra xoa tư yết ra ha, tất rị đa yết ra ha, tỳ xá giá
yết ra ha, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, bổ đơn
na yết ra ha, ca tra bổ đơn na yết ra ha, tất kiền độ yết
ra ha, a bá tất ma ra yết ra ha, ô đàn ma đà yết ra ha, xa
dạ yết ra ha, hê rị bà đế yết ra ha, xả đa ha rị nẩm,
yết bà ha rị nẩm, lô địa ra ha rị nẩm, man ta ha rị nẩm,
mê đà ha rị nẩm, ma xà ha rị nẩm, xà đa ha rị nữ, thị
tỷ đa ha rị nẩm, tỳ đa ha rị nẩm, a du giá ha rị nữ,
chất đa ha rị nữ, đế sam tát bệ sam, tát bà yết ra ha
nẩm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, ba rị bạt
ra giả ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê
ra dạ di, trà diễn ni hất rị đởm tỳ đà dạ xà sân đà
dạ di, kê ra dạ di, ma ha bát du bác đát dạ, lô đà ra hất
rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na ra
dạ noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra
dạ di, đát đỏa già lô trà tây hất rị đởm, tỳ đà dạ
xà sân đà dạ di, kêra dạ di, ma ha ca ra ma đát rị già noa
hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ
di, ca ba rị ca hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ
di, kê ra dạ di, xà dạ ýêt ra, ma độ yết ra tát bà ra tha
ta đạt na hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê
ra dạ di, giả đốt ra bà kỳ nễ hất rị đởm, tỳ đà
dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, tỳ rị dương hất rị
tri, nan đà kê sa ra dà noa bác đế, sách hê dạ hất rị đởm,
tỳ dà dạ xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, na yết na xá ra
bà noa hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ di, kê ra
dạ di , a la hán hất rị đởm, tỳ đà dạ xà sân đà dạ
di, kê ra dạ di, tỳ đa ra già hất rị đởm, tỳ đà dạ
xà sân đà dạ di, kê ra dạ di, bạt xà ra ba nể, cu hê dạ,
cu hê dạ ca địa bát đế hất rị đởm, tỳ đà dạ xà
sân đà dạ di, kê ra dạ di, ra xoa vỏng bà già phạm, ấn
thố na mạ tỏa.
(Đệ Tứ)
Bà
già phạm, tát đát đa bát đác ra. Nam mô tý đô đế, a tất
đa na ra lặc ca, ba ra bà tất phổ tra, tỳ ca tát đát đa bát
đế rị, thập phật ra thập phật ra đà ra đà ra, tần đà
ra tần đà ra , tần đà ra tần đà ra, sân đà sân đà. Hổ
hồng, hổ hồng, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn tra, phấn
tra ta ha, hê hê phấn, a mâu ca da phấn, a ba ra đề ha đa phấn,
ba ra ba ra đà phấn, a tố ra tỳ đà ra ba ca phấn,
tát bà đề bệ tệ phấn, tát bà na già tệ phấn, tát bà
dược xoa tệ phấn, tát bà kiền thát bà tệ phấn, tát bà
bổ đơn na tệ phấn, ca tra bổ đơn na tệ phấn, tát bà đôt
lang chỉ đế tệ phấn, tát bà đột sáp tỷ lê hất sắc
đế tệ phấn, tát bà thập bà lê tệ phấn, tát bà a bá
tất ma lê tệ phấn, tát bà xá ra bà noa tệ phấn, táy bà
địa đế kê tệ phấn, tát bà đát ma đà kê tệ phấn, tát
bà tỳ đà da ra thệ giá lê tệ phấn, xà dạ yết ra ma độ
yết ra, tát bà ra tha ta đà kê tệ phấn, tỳ địa dạ giá
lê tệ phấn, giả đô ra phược kỳ nể tệ phấn, bạt xà
ra cu ma rị, tỳ đà dạ ra thệ tệ phấn, ma ha ba ra đinh dương
xoa kỳ rị tệ phấn, bạt xà ra thương yết ra dạ, ba ra trượng
kỳ ra xà da phấn, ma ha ca radạ, ma ha mạt đát rị ca noa.
Nam mô ta yết rị đa dạ phấn, tỷ sắc noa tỳ duệ phấn,
bột ra ha mâu ni duệ phấn, a kỳ ni duệ phấn, ma ha yết rị
duệ phấn yết ra đàn trì duệ phấn, miệc đát rị duệ
phấn, lao đát rị duệ phấn, giá văn trà duệ phấn, yết
la ra đát rị duệ phấn, ca bát rị duệ phấn, a địa mục
chất đa ca thi ma xá na, bà tư nể duệ phấn, diễn kết chất,
tát đỏa bà tỏa, mạ mạ ấn thố na mạ mạ tỏa.
(Đệ Ngũ)
Đột
sắc tra chất đa, a mạt đát rị chất đa, ô xà ha ra, già
bà ha ra, lô địa ra ha ra, bà ta ha ra, ma xà ha ra, xà đa ha
ra, thị tỷ đa ha ra, bạc lược dạ ha ra, kiền đà ha
ra, bố sử ba ha ra, phả ra ha ra, bà tỏa ha ra, bác ba chất
đa, đột sắc tra chất đa, lao đà ra chất đa, dược xoa yết
ra ha, ra sát ta yết ra ha, bế lệ đa yết ra ha, tỳ xá giá
yết ra, bộ đa yết ra ha, cưu bàn trà yết ra ha, tất kiền
đà yết ra ha, ô đát ma đà yết ra ha, xa dạ yết ra
ha, a bá tất ma ra yết ra ha, trạch khê cách trà kỳ ni yết
ra ha, rị Phật đế yết ra ha, xà di ca yết ra ha, xá cu ni
yết ra ha, lao đà ra nan địa ca yết ra ha, a lam bà yết ra
ha, kiền độ ba ni yết ra ha, thập phạt ra yên ca hê ca, trị
đế dược ca, đát lệ đế dược ca, giả đột thác ca, ni
đề thập phạt ra, tỷ sam ma thập phạt ra, bạc để ca, tỷ
để ca thất lệ sắc mật ca, ta nể bác để ca, tát bà thập
phạt ra, thất lô kiết đế, mạt đề bệ đạt lô chế kiếm,
a ỷ lô kiềm, mục khê lô kiềm, yết rị đột lô kiềm,
yết ra ha yết lam, yết noa du lam, đản đa du lam, hất rị
dạ du lam, mạt mạ du lam, bạt rị thất bà du lam, tỷ lật
sắc tra du lam, ô đà ra du lam, yết tri du lam, bạt tất đế
du lam, ô lô du lam, thường già du lam, hắc tất đa du lam, bạt
đà du lam, ta phòng án già bác ra trượng già du lam, bộ đa
tỷ đa trà trà kỳ ni thập bà ra, đà đột lô ca kiến đốt
lô kiết tri, bà lộ đa tỳ, tác bác lô ha lăng già, du sa đát
ra, ta na yết ra tỳ sa dụ ca, a kỳ ni ô đà ca, mạt ra bệ
ra kiến đa ra, a ca ra mật rị đốt đát lỉêm bộ ca, địa
lật lặc tra, tỷ rị sắc chất ca, tát bà na cu ra , tứ dẫn
già tệ yết ra rị dược xoa đác ra sô, mạt ra thị phệ
đế sam ta bệ sam, tất đát đa bác đát ra, ma ha bạc xà lô
sắc ni sam, ma ha bác lặc trượng kỳ lam, dạ ba đột đà
xá dụ xà na, biện đát lệ noa, tỳ đà da bàn đàm ca lô
di, đế thù bàn đàm ca lô di, bát ra tỳ đà bàn đàm ca lô
di đát điệt tha.
Án
a na lệ, tỳ xá đề, bệ ra bạc xà ra đà rị, bàn đà bàn
đà nể, bạt xà ra bán ni phấn. Hổ hồng, đô lô ung phấn,
ta bà ha.
Chú
Giải.
Tổ
Đơn Hà nói : “Từ xưa đến nay không có ai dịch nghĩa thần
chú. Vì có 5 nguyên nhân :
1.
Lời bí mật của Phật , duy có Phật với Phật mới biết,
ngoài các vị Thánh cũng không thể biết được.
2.
Vì một chữ hoặc một câu có hàm vô số nghĩa.
3.
Hoặc tên của các vị quỷ thần, kêu gọi các vị liền đến
để bảo hộ người tu.
4.
Mật ấn của chư Phật, kẻ âm người dương đều phải tuân
theo. Cũng như sắc ấn của nhà Vua.
5.
Người chí tâm tụng trì, sẽ được diệt trừ tội nặng
và mau chứng quả Thánh.
Các
nhà phiên âm có khác, xong hành giả chí tâm trì tụng một
bổ nào cũng đều được hiệu quả.
IV.
Công năng của Thần chú.
A Nan,
mười phương các đức Như Lai đều nhờ “tâm chú” này
mà hàng phục các ma, ngăn dẹp ngoại đạo, được thành quả
Phật. Mười phương chư Phật đều nhờ “tâm chú” này
mà cứu độ tất cả chúng sanh khỏi các tai nạn khổ não
như thủy lụt, hỏa tai, cơ cẩn v . v . và cứu độ chúng
sanh ở địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh đều được giải thoát.
Các
ông là hàng Thanh văn hữu học chưa khỏi luân hồi, phát tâm
cầu quả A La Hán, nếu không trì chú này, mà muốn cho khỏi
các ma chướng thì không thể được.
Sau
khi ta diệt độ, các chúng sanh đời sau, nếu có người trì
tụng chú này, thì các tai nạn : thủy tai, hỏa hoạn, thuốc
độc, độc trùng, ác thú, yêu tinh, quỷ qúi v . v . đều
chẳng hại được.
Nếu
người phạm tội ngũ nghịch, phá trai, phạm giới, khi chí
tâm trì chú này, thì các tội đều tiêu, cũng như nước nóng
làm giá tan. Những người không con, muốn cầu con, tụng chú
này sẽ được con, cầu trường thọ v . v . được trường
thọ, mỗi mỗi đều như ý nguyện.
V.
Các vị thiện thần phát nguyện bảo hộ người trì chú.
Khi
Phật nói thần chú này rồi, trong hội có vô số thần Kim
Cang, đồng lạy Phật và phát lời thệ nguyện :
-Chúng
con xin sẽ thành tâm bảo hộ người trì chú này.
Lại
có vô số các vị chư Thiên và Thánh Thần đều đứng dậy
lạy Phật và phát nguyện bảo hộ người trì chú này, khiến
cho họ khỏi các ma chướng, mau đặng thành đạo vô thượng
bồ đế.
Lại
có vô số vị Kim Cang Tạng Bồ Tát, đồng đứng trước Phật,
phát lời thệ rằng :
-Con
tu hành chẳng chịu vào Niết Bàn, nguyện ở lại đời sau
để theo bảo hộ người tu hành, không cho các loài ác ma đến
nhiễu hại, chúng nó phải ở cách xa người tu ngoài mười
do tuần. Nếu có loài ác ma nào lai vãng đến người trì chú
này, thì con dùng cây bảo sử đánh nó nát như bụi, để
cho người tu hành được như nguyện.
VI.
Ông A Nan hỏi Phật tu hành phải trải qua bao nhiêu địa vị
mới được thành Phật.
A Nan
đứng dậy lạy Phật mà thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, người tu hành từ khi phát tâm cho đến thành Phật,
phải trải qua bao nhiêu địa vị, và thứ lớp tu hành như
thế nào. Xin Phật từ bi chỉ dạy cho kẻ mê muội này.
Phật
khen ông A Nan và dạy rằng :
-Ta
sẽ vì các ông và chúng sanh đời sau cầu quả Đại thừa,
chỉ dạy con đường tu hành từ địa vị phàm phu, cho đến
khi vào đại Niết Bàn, vậy các ông phải chăm chú nghe ta
chỉ dạy :
-A
Nan, các ông phải biết : Từ nơi chân tâm thanh tịnh, rời
các danh tướng, không có thế giới và chúng sanh; vì vọng
động nên có sanh, nhân sanh có diệt; sanh diệt cũng đều
là vọng, diệt hết vọng gọi là chân, thế gọi là Vô thượng
Bồ Đề và đại Niết Bàn là hai quả chuyển y của Như Lai.
1.
Phật dạy ba món tiệm thứ.
-A
Nan, ông nay muốn tu hành để thành Phật, thì phải tuần tự
y theo ba món tiệm thứ này, mới có thể diệt trừ được
gốc rễ loạn tưởng; cũng như người muốn súc sạch cái
bình để đựng đồ quý, thì trước phải đổ đồ độc
ra, kế dùng tro chùi rửa , sau dùng nước nóng và chất thơm
rửa lại thiệt sạch, rồi mới có thể đựng vị cam lồ
được.
Ba
món tiệm thứ là :
1.
Trừ các trợ duyên bên ngoài.
Ăn,
không nên ăn những đồ không hợp với người tu hành, như
ăn thịt, uống rượu và ngũ vị tân v . v . Ngũ vị tân, ăn
sống nó tăng trưởng tánh nóng giận, ăn chín hay sanh tham
dục, tụng kinh trì chú chẳng hiệu nghiệm, Thánh thần không
bảo hộ. Còn chỗ ở tu thì phải tìm chỗ nào cho hợp với
hoàn cảnh của người tu hành.
2.
Trừ các chánh nhân bên trong.
Cốt
yếu là phải nghiêm trì tịnh giới, không dâm, sát, đạo
và vọng, gìn giữ ngoái thân không phạm, trong tâm không động,
thân và tâm đều thanh tịnh như băng tuyết.
3.
Trừ các nghiệp hiện tiền.
Khi
tiếp xúc với trần cảnh, không khởi vọng niệm phân biệt
theo sáu trần, xoay các cảm giác trở về bản tâm thanh tịnh.
Do ngoài không duyên theo trần cảnh, trong sáu căn không vọng
động, đồng một thể thanh tịnh nên mười phương thế giới
đều được thanh tịnh sáng suốt. Cũng như ngọc lưu ly có
hàm chứa mặt trăng sáng. Hành giả lúc bấy giờ thân tâm
thơ thới, chứng đặng vô sanh pháp nhẫn, mười phương chư
Phật đều hiện trong tâm người ấy. Từ đây hành giả lần
lần tăng tiến tu hành tiến lên các Thánh quả.
VIII.
Tu hành phải trải qua 55 địa vị mới đến quả Phật.
-A
Nan, người thành khi ái dục khô khan, sáu căn không còn chạy
theo sáu trần nhiễm trước, lúc bấy giờ chỉ có trí huệ
khô khan chưa thấm nhuần nước pháp của Phật. Đây là địa
vị đầu tiên tên Càn Huệ địa (huệ khô), lần lần tấn
tu vào địa vị Thập Tín (mười món tin) :
1.
Tín Tâm trụ 2. Niệm tâm trụ
3.Tinh tấn tâm 4. Huệ tâm trụ
5.
Định tâm trụ 6. Bất thối tâm
7. Hộ pháp tâm 8. Hồi hướng tâm
9. Giới tâm trụ 10. Nguyện tâm
trụ.
Mãn
địa Thập Tín đến Thập Trụ :
1.
Phát trụ tâm 2. Trị địa trụ
3. Tu hành trụ 4. Sanh quý trụ
5.
Phương tiện cụ túc trụ 6. Chánh
tâm trụ 7. Bất thối trụ
8.
Đồng chân trụ 9. Pháp vương tử trụ
10. Quán đảnh trụ.
Khi
Mãn Thập Trụ đến Thập Hạnh :
1.
Hoan hỷ hạnh 2. Nhiêu ích
hạnh 3. Vô sân hận hạnh
4.
Vô tận hạnh. 5. Ly
si loạn hạnh 6. Thiện hiện hạnh
7.
Vô trước hạnh 8. Tôn trọng hạnh
9. Thiện pháp hạnh
10.
Chân thật hạnh
Mãn
Thập hạnh đến Thập Hồi Hướng :
1.
Cứu độ nhất thế chúng sanh, ly chúng sanh tướng hồi hướng.
2.
Bất hoại hồi hướng.
3.
Đẳng nhất thế Phật hồi hướng.
4.
Chí nhất thế xứ hồi hướng.
5.
Vô tận công tạng hồi hướng.
6.
Tùy thuận bình đẳng thiện căn hồi hướng.
7.
Tùy thuận đẳng quán nhất thế chúng sanh hồi hướng.
8.
Chân như tướng hồi hướng.
9.
Vô phược giải thoát hồi hướng.
10.
Pháp giới vô lượng hồi hướng.
Mãn
Thập Hồi Hướng đến Tứ Gia Hạnh :
1.
Noãn địa 2. Đảnh
Địa
3.
Nhẫn địa 4.Thế đệ
nhất địa.
Mãn
Tứ Gia Hạnh đến Thập Địa :
1.
Hoan hỷ địa 2. Ly cấu địa
3. Phát quang địa 4. Diệm huệ địa
5.
Nan thắng địa 6. Hiện tiền địa
7.Viễn hành địa 8. Bất động địa
9.
Thiện huệ địa 10. Pháp
vân địa.
(Khi
mãn Thập địa đến địa vị Đẳng giác, qua Đẳng
giác đến Diệu giác tức là Phật. Trừ địa vị Càn Huệ
ra, thì từ địa vị Thập Tín, Thập Trụ, Thập Hạnh, Thập
Hồi Hướng, Tứ Gia Hạnh, Thập Địa và Đẳng Giác, nghĩa
là phải trải qua 55 địa vị này mới đến quả Phật.
Xong
trong khi trải qua 55 địa vị này, phải gặp 50 món ma
là những điều nguy hiểm nhất trên đường tu hành).
IX.
50 món ma chướng (Ngũ ấm ma).
Thuyết
pháp gần xong, đức Như Lai đứng dậy, tay vịn ghế thất
bửu, kêu ngài A Nan và đại chúng dạy thêm rằng :
–Các
ông chưa rõ trên đường tu hành còn gặp nhiều cảnh ma rất
là nguy hiểm. Nếu các ông không biết trước, sanh tâm tà
kiến thì đọa vào ác đạo, cũng như người nhận lầm giặc
làm con, thì bị hại chẳng ít. Vậy các ông phải chăm chú
nghe, ta sẽ chín chắn chỉ dạy cho.
Này
A Nan, tất cả chúng sanh cùng với mười phương chư Phật,
đồng một bản thể chân tâm thanh tịnh không hai. Bởi các
ông bị vô minh vọng tưởng, nên sanh ra mười phương hư không
và thế giới nhiều như vi trần, nhưng mười phương hư không
và hằng sa thế giới đó đều sanh ở trong chân tâm của
các ông, chẳng khác nào một điểm mây nhỏ sanh trong trời
xanh. Nếu người ngộ được chân tâm rồi thì mười phương
hư không và thế giới đều tiêu hết.
Bởi
các loài ma kia thấy người tu hành sanh tâm lo sợ cho bà con
quyến thuộc của chúng sẽ tiêu diệt, nên chúng dùng đủ
thần lực đến nhiễu hại người tu. Chúng nó cũng đủ năm
phép thần thông biến hóa chỉ chưa được lậu tận thông.
Mặc
dù chúng đủ năm phép thần thông và sức mạnh, xong vẫn
còn ở trong vòng trần lao; nếu các ông trong khi tu thiền tâm
được thanh tịnh sáng suốt, không vọng động, thì chúng
ma kia không làm sao hại được. – Cũng như dao chặt xuống
nước, gió thổi ánh sáng, hoàn toàn không dính líu gì. –
Chúng ma kia phải lần lần tiêu diệt như băng bị nước nóng
chế vào và tối tăm bị ánh sáng phá trừ; chỉ lo một
điều là các ông cũng như chủ nhà; nếu chủ nhà mê muội
rồi thì các ma chướng kia như khách dễ bề nhiễu hại, rồi
các ông trở làm con cái của ma, sau thành người ma.
Ma
Đăng Dà là thứ ma yếu hèn, nó chỉ làm cho ông phá một
giới trong tám muôn giới mà thôi, nhờ tâm ông thanh tịnh
nên chẳng bị trầm luân. Còn các chúng ma này rất là nguy
hiểm, nó phá tan giới thân huệ mạng làm cho ông nhiều kiếp
luân hồi. Chẳng khác nào như ông quan lớn bị cách chức,
gia tài sự sản bị tịch thâu, trở thành một người dân
trắng, không thể cầu cứu với ai được.
X.
Mười món ma về sắc ấm.
1 .Thân
thể không bị chướng ngại.
-Này
A Nan, người trong khi tu thiền do sức dụng công, nên tâm tánh
được nhiệm mầu sáng suốt, tự thấy thân thể mình trong
giây phút qua lại tự tại, không bị cái gì làm chướng ngại.
Vì dụng công tu luyện, nên tạm hiện ra các việc như vậy,
không phải là chứng Thánh, nếu sanh tâm nghĩ mình chứng Thành
thì bị ma cám dỗ.
2.
Lượm bỏ trùng độc trong thân.
-A
Nan, hành giả trong lúc dụng công tu thiền thoạt thấy thân
thể mình trong suốt các loài trùng độc, sên bò qua lại,
rồi diệt bỏ ra ngoài mà thân không đau đớn. Vì dụng công
tu luyện nên tạm hiện ra cảnh như vậy không phải chứng
Thánh. Nếu nghĩ mình chứng Thánh thì bị ma nó cám dỗ.
3.
Nghe trong hư không có tiếng nói pháp.
Hành
giả trong lúc tu thiền, nghe trong hư không có tiếng thuyết
pháp hoặc nghe Thánh, Hiền, Tiên, Phật trong mười phương
thế giới đều nói ra nghĩa lý nhiệm mầu. Đây vì dụng
công tu luyện nên tự tâm biến hiện ra cảnh giới như vậy,
không phải chứng Thánh; nếu nghĩ mình chứng Thành, thì phải
bị ma ám ảnh.
4.
Thấy Phật hiện và hoa sen trổ.
Người
tu thiền định, khi tâm thanh tịnh rồi, tự phát ra ánh sáng.
Lúc bấy giờ thấy mười phương đều hiện ra sắc vàng,
tất cả các vật loại hóa thành Phật cả. Lại thấy đức
Phật Tỳ Lô Giá Na ngồi trên đài Thiên Quang, các đức Phật
ngồi xung quanh và có vô số hoa sen đồng thời xuất hiện.
Đây do dụng công tu thiền, nên thấy có các cảnh tạm hiện
ra như vậy, không phải là chứng Thánh. Nếu ngĩi mình chứng
Thánh, thì bị ma cám dỗ.
5.
Thấy các vật báu đầy cả hư không.
Người
trong khi tu thiền, thấy mười phương hư không đều thành
bảy báu, nào màu xanh, sắc vàng, đỏ, trắng, hiện ra vô
số, mà chẳng chướng ngại nhau. Đây do lúc tu thiền vì dụng
công đè nén vọng niệm thái quá, nên nó biến hiện ra các
cảnh như vậy, không phải chứng Thánh, nếu nghĩ mình chứng
Thánh thì bị ma cám dỗ.
6.
Thấy ban đêm như ban ngày.
Người
tu thiền định, do tâm yên tịnh nên phát ra ánh sáng. Lúc
bấy giờ mặc dù nửa đêm, ở trong nhà tối mà vẫn thấy
rõ hết cả mọi vật, không khác chi ban ngày. Vì hành giả
dụng công tu luyện nên tạm hiện ra cảnh như vậy, không
phải chứng Thánh, nếu cho mình chứng Thánh thì bị ma cám
dỗ.
7.
Thân thể không biết đau.
Người
tu thiền định đến khi tâm tánh được rỗng không, thì thân
thể chẳng biết đau. Lúc bấy giờ lửa đốt không cháy,
dao chặt không đau. Đây do sức dụng tâm tu luyện nên tạm
được như vậy, không phải chứng Thánh; nều cho mình chứng
Thánh thì bị ma cám dỗ.
8.
Thấy cảnh giới Phật hiện khắp nơi.
Người
tu thiền định do dụng công cùng tột, nên thấy mười
phương núi sông toàn cả thế giới đều biến thành cõi Phật,
đủ cả bảy món báu chiếu sáng khắp giáp. Lại thấy hằng
sa chư Phật ở trong cung điện tốt đẹp hiện đầy cả hư
không. Trông lên trên thì thấy các cung trời, xem trở xuống
lại thấy hết các cõi địa ngục đều không có chướng
ngại. Đây do lúc tu thiền, vì ngưng vọng tưởng lâu ngày,
nên nó hóa thành như vậy, không phải chứng Thánh; nếu cho
mình chứng Thánh thì bị đọa vào đường tà.
9.
Ban đêm thấy, nghe được phương xa.
Trong
khi tu thiền, do tâm tham cứu sâu xa, nên trong lúc giữa đêm
thấy được nào là chợ, búa, đường xá, bà con họ hàng
ở các phương xa, hoặc nghe được tiếng nói. Đây do hành
giả kiềm thúc cái vọng tâm thái quá, nên tạm hiện ra như
vậy, không phải chứng Thánh, nếu cho mình chứng Thánh thì
bị đọa vào đường tà.
10.
Thân hình biến hóa, nói pháp thông suốt.
Trong
khi tu thiền, do hành giả dụng tâm tham cứu cùng tột, nên
thấy có các vị Thiện tri thức, chỉ trong giây phút mà thân
hình biến hóa nhiều cách. Đây do trong khi tu thiền vì sanh
tâm chấp trước, nên bị ma ám ảnh, làm cho người này thông
suốt nghĩa mầu, nói pháp vô ngại, không phải chứng thánh,
nếu chẳng chấp trước thì cảnh ma này lần lần tiêu; còn
cho mình chứng Thánh thì bị đọa vào cảnh ma.
Tóm
lại.
Này
A Nan, mười cảnh ma này, đều do trong lúc tu thiền, dụng
tâm phá trừ sắc ấm, nên nó biến hiện ra các cảnh như
vậy. Nếu khi gặp những cảnh như vậy, mê lầm không biết,
cho mình đã chứng Thánh thì bị ma nó ám ảnh, rồi sanh ra
đại vọng ngữ, nói mình thành đạo chứng quả v . v . sau
khi chết rồi đọa vào địa ngục vô gián. Vậy khi ta nhập
diệt rồi, các ông nên y lời ta dạy, đem những việc ma này,
giảng dạy cho người tu hành đời sau, bảo hộ người tu
hành đặng thành đạo quả, chớ để họ bị thiên ma nhiễu
hại.