BÀI
THỨ MƯỜI BA
I.
Phật bảo ngài Văn Thù lựa pháp tu Viên thông.
Khi
ấy Phật bảo ngài Văn Thù Sư Lợi :
-
Ông đã nghe các vị Bồ Tát và A La Hán vừa trình bày các
phương pháp tu hành được thành đạo quả. Thật ra 25 pháp
tu này, đối với các vị Thánh, thì tu pháp nào cũng đều
được chứng quả cả, không có pháp nào hơn và kém. Xong
nay ta muốn cho A Nan và chúng sanh đời sau, nếu muốn vào Đại
thừa Bồ Tát thì đối với 25 pháp tu này, ông nên lựa pháp
nào tu hành để mau thành đạo vô thượng Bồ Đề.
II.
Ngài Văn Thù vâng lời Phật, lựa phương pháp tu.
Ngài
Văn Thù Sư Lợi vâng lời Phật dạy, đứng dậy lạy Phật,
kính cẩn nói bài kệ, khen chân tâm nhiệm mầu sáng suốt,
chỉ rõ cái “vọng” vốn không và lựa chọn pháp tu Viên
thông.
Nguyên
văn chữ Hán.
Giác
hải tánh trừng viên
Viên
trừng Giác nguyên diệu
Nguyên
minh chiếu sanh sở
Sở
lập chiếu tánh vong.
Mê
vọng hữu hư không
Y
không lập thế giới
Tưởng
trừng thành quốc độ
Tri
giác nãi chúng sanh.
Không
sanh đại giác trung
Như
hải nhứt âu phát
Hữu
lậu vi trần quốc
Giai
y không sở sanh
Âu
diệt không bổn vô
Huống
phục chư tam hữu.
Qui
nguyên tánh vô nhị
Phương
tiện hữu đa môn
Thánh
tánh vô bất thông
Thuận
nghịch giai phương tiện
Sơ
tâm nhập tam muội
Trì
tốc bất đồng luân . . .
-Chân
tâm thanh tịnh viên mãn lại nhiệm mầu, như biển đứng lặng
và rộn sâu. Vì vọng động chiếu soi (phân biệt) nên sanh
ra có cảnh bị chiếu (bị phân biệt). Khi năng, sở đã vọng
sanh, thì cái “tánh chân’ lại ẩn (chiếu tánh vong).
Chú
Giải.
Như
biển đứng lặng lóng trong, vì xao động nên thành sóng, lúc
bấy giờ tánh trong lặng của nước bị ẩn đi v. v .
-Từ
mê muội vọng động cho nên có hư không, nhân hư không có
thế giới. Những vọng tưởng si mê lóng lại thành ra thế
giới, còn cái phân biệt hiểu biết thì làm chúng sanh.
Hư
không sanh ở trong chân tâm rộng lớn này, cũng như chùm bọt
nổi trên mặt biển. Thế giới nhiều như vi trần điều y
hư không mà sanh; khi bọt tan chũng như hư không diệt, thì
hằng sa thế giới đều tiêu diệt.
Trở
về chân tâm thì đồng một, nhưng trên đường tu có nhiều
phương tiện. Đối với bực Thánh, tu pháp nào cũng đều
chứng quả, dầu khó hay dễ cũng đều là phương tiện cả.
Còn đối với kẻ sơ tâm tu hành lại có khó và dễ, bởi
căn cơ không đồng. Hôm nay con xét 25 pháp tu của các vị
Thánh vừa trình bày, thì duy có pháp tu nhĩ căn (tai nghe) của
ngài Quán Âm mới là Viên thông.
III.
Chúng sanh ở thế giới Ta Bà này nhờ có nghe pháp mới biết
đường lối tu hành.
-Bạch
Thế Tôn, Phật ra đời ở thế giới Ta Bà này, dùng âm thanh
nói pháp để giáo hóa chúng sanh. Chúng sanh nhờ có nghe tiếng
của Phật nói pháp mới biết đường lối tu hành được
thanh tịnh. Hôm nay muốn đặng chánh định, quyết phải nhờ
có nghe rồi tu mới được.
IV.
Công năng của nhĩ căn (tai nghe).
-Bạch
Thế Tôn, như lời ngài Quán Âm nói : “Người ở chỗ thanh
vắng, mười phương đồng đánh trống, nhất thời đồng
được nghe”; nên duy có nhĩ căn (tai nghe) mới được viên
thông. Mắt xem còn bị cách ngại; miệng, mũi, thân và ý,
năm căn cũng không bằng, chỉ có nhĩ căn là hơn hết. Mặc
dầu bị cách vách, hay tiếng ở xa gần, tai đều nghe được
cả, nên nhĩ căn mới thật là viên thông.
Âm
thanh khi có, khi không, còn cái nghe lúc nào cũng có. Khi không
có tiếng, thế gian nói rằng “không nghe”; thật ra chẳng
phải “cái nghe” không có. Không tiếng, cái nghe không diệt;
có tiếng, cái nghe cũng không sanh. Bởi cái nghe không có sanh
và diệt, nên nó mới thật là thường.
Dầu
cho ở trong chiêm bao, tâm không có suy nghĩ phân biệt, mà “c1i
nghe” ấy cũng không mất (Vì khi
chiêm bao vẫn còn nghe tiếng chày giã gạo).
cái nghe, nó thoát ngoài tâm niệm suy nghĩ phân biệt, nên thân
và tâm (thức thứ sáu)
đều không bằng (không bằng cái
nghe).
V.
Ngài Văn Thù quở trách ông A Nan học nhiều không tu.
-Nay
chúng sanh ở thế giới Ta Bà này, nhờ có nghe nói chỉ dạy,
nên mới hiểu biết tu hành. Xong chúng sanh vì mê cái “tánh
nghe thường còn” của mình, cứ chạy theo tiếng nói
phân biệt, cho nên mới bị lưu chuyển.
A Nan,
ông tuy học rộng nhớ nhiều nhưng vì chạy theo vọng trần
phân biệt, nên không khỏi đọa lạc theo tà. Nếu ông xoay
cái nghe trở vào tự tánh, thì sẽ đặng hết vọng.
A Nan,
ông nên chú ý nghe : tôi vâng oai thần của Phật, nói pháp
môn tu hành đây, ông đem cái nghe của ông, nghe tất cả pháp
môn bí mật của chư Phật, nhiều như vi trần nếu các phiền
não dục lậu không trừ, thì cái nghe càng thêm lầm lỗi.
Ông biết đem cái nghe của ông, nghe các pháp môn của chư
Phật, sao ông không đem cái nghe đó, trờ lại nghe “tánh
nghe” (chân tán) của mình.
A Nan,
cái “nghe” nó không phải tự nhiên sanh, do có tiếng (thanh
trần) nên mới gọi rằng “nghe”. Nếu xoay cái nghe ytrở
vào tự tánh, không chạy theo tiếng, thế là thoát ly được
cái tiếng, (thanh trần) lúc bấy giờ cái nghe này cũng không
còn gọi tên là nghe nữa (vì không còn đối đãi, nên chẳng
có tên kêu gọi). Một căn (lỗ tai) đã được phản vọng
trở về chân rồi, thì cả sáu căn cũng đều được giải
thoát.
A Nan,
các cảm giác : thấy, nghe, hay, biết của ông đó, đều là
hư huyễn, như con mắt bị nhặm. Còn ba cõi sum la vạn tượng
đây, cũng không thật, đều như hoa đốm giữa hư không. Khi
cái thấy, nghe, hay, biết xoay trở lại chân rồi, thì cũng
như con mắt kia hết nhặm. Khi các vọng trần tiêu hết, thì
tâm ông được thanh tịnh.
Chú
Giải.
Vì
vọng động cho nên mới có thấy, nghe, hay, biết là năng phân
biệt. Bởi có năng phân biệt, nên mới có cảnh bị phân
biệt là ba cõi muôn vật. Đến khi năng phân biệt hết, thì
cảnh bị phân biệt cũng tiêu, lúc bấy giờ chân tánh hiện
bày. Cũng như vì mắt nhặm nên mới thấy hoa đốm, đến
khi nhặm hết, thì hoa đốm không còn, và chỉ còn con mắt
trong sáng.
Khi
tâm hoàn toàn thanh tịnh rồi, thì cái trí quang sáng suốt
hiện ra. Lúc bấy giờ chân tâm ông vừa tịch tịnh lại vừa
chiếu soi, bao trùm khắp cả mười phương hư không thế giới,
lúc bấy giờ ông trở lại xem cảnh vật hiện tiền ở thế
gian này, cũng như là việc trong chiêm bao. Khi ông được như
thế rồi thì nàng Ma Đăng Dà ở trong mộng kia làm gì bắt
được ông !
A Nan,
dụ như các nhà huyễn thuật, làm các thứ hình, tuy có thấy
cử động, nhưng cốt yếu tại cái máy rút. Nếu máy kia thôi
rút, thì các hình huyễn kia yên lặng, đều không có tự tánh.
Sáu
căn của ông cũng thế : Gốc từ nơi tâm, vì vô minh vọng
động thành ra sáu căn, nếu một căn được phản vọng về
chân rồi, thì sáu dụng kia (sáu giác quan) đều không thành.
Nếu trần cấu còn thì ông vẫn còn ở địa vị hữu học
(còn phải tu). Khi trần cấu hết, thì tâm tánh ông được
hoàn toàn sáng suốt, đó là Phật.
A Nan,
ông chỉ xoay cái nghe của mình trở về nghe chân tánh, không
chạy theo phân biệt vọng trần bên ngoài, thì ông liền thành
đạo vô thượng, đây thật là pháp tu viên thông.
Các
đức Phật nhiều như số vi trần cũng đều do một con đường
này mà đến cửa Niết Bàn. Hiện tại các vị Bồ Tát, và
những người tu hành đời sau, đều y pháp môn này mà thành
đạo. Chính tôi cũng nhờ pháp môn này mà được chứng
quả, đâu phải một mình ngài Quán Âm tu mà thôi.
Nay
Phật dạy con lựa pháp môn tu hành, để cho người đời sau
tu hành mau thành đạo quả, thì duy có pháp tu của ngài Quán
Âm là hơn hết. Còn bao nhiêu các pháp tu hành khác, đều nhờ
oai thần của Phật gia hộ mới được thành tựu. Các pháp
ấy đều từ nơi sự tướng mà dẹp trừ trần lao, nên không
phải là một phương pháp trường kỳ tu tập.
Kính
lạy đức Như Lai, xin Ngài gia hộ cho chúng sanh đời sau, đối
với pháp môn này không còn mê lầm. Bạch Thế Tôn, phương
pháp này là dễ tu, mau được thành đạo quả, có thể đem
dạy A Nan và chúng sanh đời sau, y theo đây tu hành thì hơn
các phương pháp khác. Đây là do lòng thành thật của con lựa
chọn như thế.
VI.
Các vị nghe pháp được chứng ngô.
A Nan
và đại chúng nghe ngài Văn Thù nói bài kệ rồi thì tâm tánh
đều được khai ngộ, đối với quả Phật Bồ Đề và đại
Niết Bàn hiểu rất rành rẽ, cũng như người đi xa quê hương,
đã biết rõ con đường về nhà, nhưng chưa có dịp trở về.
Trong đại hội có vô số Thiên, Long, Bát Bộ, các hàng Nhị
thừa hữu học và các vị Bồ Tát mới phát tâm, đều được
xa lìa trần cấu, ngộ được chân tâm. Bà Tánh Tỳ kheo ni
nghe bài kệ này rồi, đặng thành A La Hán và vô lượng chúng
sanh đều phát Bồ Đề tâm.
Lưu
Ý : Từ trước đến đây là nói về phần y ngộ đốn tu.
Từ đây về sau là chỉ về phần tiệm tu.
VII.
A Nan cầu Phật chỉ dạy phương pháp để độ chúng sanh đời
sau.
A Nan
cúi đầu lạy Phật kính cẩn thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, con nay đã hiểu Pháp môn tu hành để thành Phật
rồi; trên đường tu hành con không còn lầm lạc nữa. Nhưng
con thường nghe Phật dạy :
“Mình
chưa được độ mà muốn độ người, đó là tâm Bồ Tát.
Còn mình được giác ngộ hoàn toàn, rồi giác ngộ cho người,
đó là việc làm của Như Lai”.
Nay
con chưa được độ, mà phát tâm muốn độ tất cả chúng
sanh đời sau.
Bạch
Thế Tôn, chúng sanh đời sau cách Phật càng xa, lại gặp chúng
tà sư ngoại đạo nói pháp nhiều như cát bụi. Vậy nếu
có chúng sanh phát tâm tu hành, thì làm sao để tránh xa các
ma chướng, đối với con đường Bồ Đề, tâm không thối
lui ?
VIII.
Phật dạy phải tu Giới, Định, Huệ.
Phật
khen A Nan và dạy rằng :
-Ông
hỏi phương pháp tu hành để độ chúng sanh trầm luân đời
sau, vậy ông nên chú ý nghe, ta sẽ vì các ông chỉ dạy.
Này
A Nan, ông đã thường nghe ta dạy, người tu hành quyết định
phải đủ 3 điều kiện :
1.-Dùng
giới luật nhiếp phục tự tâm.
2.-Nhân
giữ giới, tâm mới sanh Định.
3.-Nhân
định, tâm mới phát Huệ.
Đây
gọi là ba món tu vô lậu.
(Vì
tu ba pháp này, thì không còn sa đọa)
Chú
Giải.
Ngài
An Pháp sư nói : “Giới, Định, Huệ là cái cửa của người
vào đạo, cũng là cái ải trọng yếu để vào thành Niết
Bàn”.
Ngài
La Thập Pháp sư nói : “Trì giới mới hay chiết phục được
phiền não, làm cho phiền não yếu thế. Thiền định như bốn
cái núi để ngăn dòng nước phiền não. Trí huệ diệt được
hết phiền não”.
Trong
kinh Niết Bàn nói : “Có phiền não thì không trí tuệ, có
trí tuệ thì không phiền não”.
IX.
Đây nói về Đại thừa Tâm giới có bốn : Dâm, Sát, Đạo,
Vọng.
1.Trước
đoạn lòng dâm.- A Nan, tại sao dùng giới luật để nhiếp
phục tự tâm ? Này A Nan, nếu các chúng sanh, trong tâm không
còn nghĩ đến việc dâm dục nữa, thì sẽ ra khỏi sanh tử
luân hồi.
Ông
tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu tâm dâm dục không
trừ, thì cảnh trần lao không bao giờ ra khỏi. Dầu cho ông
hiện tiền đặng nhiều trí huệ và thiền định, cũng sẽ
đọa vào ma đạo. Thượng phẩm làm ma chúa, trung phẩm làm
ma dân, hạ phẩm làm ma nữ. Các loài ma kia cũng đều có đồ
đệ và tự xưng đã thành đạo vô thượng Bồ Đề.
Sau
khi ta nhập diệt rồi, vào đời mạt pháp chúng ma này rất
thạnh hành trong thế gian, ưa làm việc tham dục, xưng là thiện
tri thức của chúng sanh, khiến cho chúng sanh đọa vào hầm
tà kiến, mất con đường Bồ Đề.
A Nan,
ông tu thiền định, nếu không đoạn lòng dâm, thì cũng như
người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trải lâu bao nhiêu
kiếp cũng không thể thành cơm được.
Ông
đem tâm dâm dục để cầu quả Phật, dầu cho ông có được
diệu ngộ đi nữa, cũng không ra khỏi tam giới, vì gốc của
nó là dâm thì làm sao ra khỏi sanh tử luân hồi được. Huống
chi quả Niết Bàn của Phật, ông làm sao chứng được.
Nên
quyết định phải đoạn trừ dâm cơ : trong tâm ngoài thân
đều đoạn, cho đến cái biết đoạn cũng không còn, được
như thế thì đối với quả Phật Bồ Đề, ông mới có hi
vọng !
Vậy
ông nên dạy người tu hành, điều thứ nhất là quyết định
phải đoạn lòng dâm, đây là lời chỉ dạy sáng suốt trong
sạch của ta và của các đức Phật quá khứ. Như lời ta
dạy đây mới gọi là Phật nói, trái lại là Thiên ma Ba tuần
nói.
Chú
Giải.
Đây
là Đại thừa giới, cao siêu và khó hơn Tiểu thừa giới
nhiều. Nếu tâm còn nghĩ tưởng đến dâm, sát, đạo và vọng,
thế là phạm giới rồi.
Tổ
Đơn Hà dạy : “Nếu người chưa tỏ ngộ được chân tâm
thanh tịnh của mình, thì hột giống dâm còn ẩn núp”. Nói
cho dễ hiểu, nếu còn vô minh, thì chân tâm sáng suốt chẳng
hiện, thế là giới thể chưa thanh tịnh. Phật tử đọc đến
đoạn này, chớ nên thấy khó mà nản lòng. Phải biết rằng
việc tu hành cũng như lóng nước, lóng lâu quyết định nước
sẽ trong, và cũng như lột bẹ chuối, lột mãi sẽ đến lõi.
Người
tu hành cũng thế : trước đoạn phần thô thiển ngoài thân,
sau dần dần trừ đến phần tế nhị trong tâm, lâu ngày thành
tánh quen, thì quyết định có ngày sẽ được thanh tịnh.
Điều cốt yếu là nên nhớ lời Phật dạy có bốn chữ “bất
tùy phân biệt”. Nghĩa là : khi đối cảnh không khởi vọng
niệm phân biệt, thì tham, sân, si không khởi. Tham, sân, si
không khởi, thì sát, đạo, dâm chẳng sanh. Đây là lối tu
mau tắt của Đại thừa, để trở lại với chân tâm thanh
tịnh.
2.-Đoạn
lòng sát hại.- A Nan, nếu các chúng sanh trong tâm không nghĩ
tưởng đến việc sát hại, thì không còn bị sanh tử luân
hồi nữa. Ông tu hành quyết cầu ra khỏi trần lao, nếu ông
không đoạn trừ tâm sát hại, thì cảnh trần lao không bao
giờ ra khỏi. Dầu cho hiện tiền ông được nhiều trí tuệ
hay thiền định, nếu không đoạn tâm sát hại, thì ông chỉ
đọa vào thần đạo. Bậc thượng làm Đại lực quỷ, bậc
trung làm Phi hành dạ xoa và các loài quỷ soái, bậc hạ làm
Địa hành La sát và các quỷ thần. Các loài quỷ thần này
cũng có đồ đệ, đều tự cho mình thành đạo vô thượng.
Sau
khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, các loài quỷ thần
này rất thịnh hành trong thế gian, và tuyên bố rằng : “Ăn
thịt cũng được đạo Bồ Đề”. A Nan, ta trước kia cho
các ông ăn ngũ tịnh nhục, là vì ở nhằm địa phương đất
chai, nhiều đá sỏi, không trồng rau cải được, nên ta tạm
cho các ông dùng. Sau khi ta diệt độ rồi, tại sao những người
ăn thịt chúng sanh, mà cũng xưng là tăng lữ.
Chú
Giải.
Trong
kinh Lăng Già, Phật dạy ngài Đại Huệ Bồ Tát : “Ta trước
kia phương tiện cho các ông ăn năm thứ thịt hoặc mười
thứ, hôm nay tất cả đều cấm tuyệt”.
-A
Nan, những người ăn thịt, dầu cho có đặng tâm trí khai
ngộ, cũng thành quỷ Đại La sát, đến khi mãn kiếp quỷ
La sát rồi, quyết phải trầm luân trong biển khổ sanh tử.
Giết hại ăn thịt lẫn nhau, thì làm sao ra khỏi sanh tử luân
hồi được.
A Nan,
ông tu thiền định, nếu không trừ tâm sát hại mà muốn
cầu được đạo, thì cũng như người tự bịt hai lỗ tai
của mình, la tiếng thiệt lớn, mà muốn cho mọi người không
nghe, thì không thể được.
A Nan,
ông nên dạy người tu hành, điều thứ hai này là quyết định
phải đoạn trừ lòng sát hại. Đây là lời sáng suốt trong
sạch của ta cùng các đức Phật quá khứ đã chỉ dạy.
Như
lời ta dạy đây mới gọi là Phật nói. Trái lại là Thiên
ma Ba tuần nói.
3.-Đoạn
trừ trộm cướp.- A Nan, nếu các chúng sanh, trong tâm không
nghĩ tưởng đến việc trộm cướp, thì không còn sanh tử
luân hồi nữa. Các ông tu hành quyết cầu ra khỏi cảnh trần
lao, nếu tâm trộm cướp không trừ, thì không bao giờ ra khỏi.
Dầu
cho hiện tiền ông đặng nhiều trí tuệ hay thiền định,
nếu không đoạn tâm trộm cướp, thì quyết đọa vào tà
đạo. Bậc thượng làm loài tinh linh, bậc trung làm loài yêu
mị, bậc hạ làm người tà, bị các loài tinh yêu này nhập
(dựa). Chúng tà này cũng có đồ đệ, đều tự xưng rằng
: “Đặng đạo vô thượng”.
Sau
khi ta diệt độ rồi, trong đời mạt pháp, chúng tinh yêu tà
mị này rất thịnh hành trong đời, tự xưng là thiện tri
thức, dối gạt phỉnh phờ người, khiến cho người mất
tâm chánh tín; chúng nó đi đến đâu, thì làm cho người tiêu
hao tài sản đến đó.
A Nan,
ông tu thiền định, nếu không đoạn trừ tâm trộm cướp,
mà muốn cầu cho được đạo quả, thì cũng như người rót
nước vào chén bể, mà muốn cho đầy, dầu trải bao nhiêu
kiếp cũng không thể đầy được. Ông nên dạy người tu
hành, điều thứ ba là quyết định phải đoạn trừ tâm trộm
cướp. Đây là lời nói sáng suốt trong sạch của ta cũng
như của các đức Phật quá khứ. Như lời ta dạy gọi là
Phật nói, trái lại là Thiên Ma Ba tuần nói.
4.-Đoạn
trừ vọng ngữ.- A Nan, nếu các chúng sanh, đã giữ hoàn toàn
ba hạnh trên là không sát, đạo, dâm rồi, mà còn đại vọng
ngữ, thì tâm cũng không thanh tịnh, mất hột giống Phật,
thành ma ái kiến. Thế nào là đại vọng ngữ ? nghĩa là :
chưa đặng đạo nói mình đặng đạo, chưa chứng quả nói
mình chứng quả. Đối với người đời, nói : “Ta đã chứng
thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát và Phật”, để trông cầu người
lạy cúng. Những người nói dối như thế, làm tiêu diệt
hột giống Phật, sẽ đọa vào trong biển khổ. Cũng như người
đã chặt đứt cây Đa La (như cây cau xứ ta) thì nó không
thể mọc chồi đâm tược được.
A Nan,
ta có dạy các vị Bồ Tát và A La Hán : “Sau khi ta diệt độ
rồi, các ông phải thị hiện thân hình, trong đời mạt pháp
để cứu độ các chúng sanh đang trầm luân, làm thầy Sa môn,
cư sĩ, vua, quan, đồng nam, đồng nữ, cho đến hiện đàn
bà góa , kẻ dâm nữ, người gian giảo, kẻ trộm cướp, người
thợ thịt, kẻ buôn bán, để lẫn lộn trong từng lớp người,
chung làm một nghề nghiệp, đặng giáo hóa chúng sanh trở
về chánh đạo”.
Nhưng
các vị ấy quyết chẳng bao giờ nói : “Ta đây thật là
Bồ Tát hoặc A La Hán v . v .” hay tỏ ra một vài cử chỉ
gì làm tiết lộ sự bí mật, để cho người ta biết mình
là Thánh nhân thị hiện. Chỉ trừ sau khi mạng chung rồi,
các vị ấy mới âm thầm để lại một vài di tích cho người
biết thôi.
Chú
Giải.
Các
Phật tử đọc đến đoạn này nên chú ý: Phật và Bồ Tát
thị hiện, chúng ta không thể biết được; nếu biết thì
không phải thiệt Phật hay Bồ Tát. Chỉ trừ khi nào các vị
ấy cổi bỏ xác phàm, mới lưu lại một vài di tích, lúc
bấy giờ chúng ta mới biết được. Nhưng khi biết, thì không
còn gặp các Ngài nữa.
Như
Tổ Đạt Ma hiện thân đến Trung Quốc, ông Lương Võ Đế
không biết; đến khi biết được Ngài là Thánh thì không
còn thấy được Ngài.
Vậy
hiện nay những ngừơi tự xưng mình là Phật hay Bồ Tát v
. v . giáng thế, thì so với đoạn kinh này, chúng ta thấy rõ
ràng và chắc chắn không phải thiệt Phật hay Bồ Tát rồi,
chớ nên tin.
-A
Nan, chính thật Bồ Tát hay A La Hán thị hiện, mà còn không
cho người biết, tại sao những người phàm phu lại dám mạo
xưng là Phật và Bồ Tát v . v . Cũng như người cùng đinh,
mà mạo xưng mình là đế vương, thì sẽ bị tội tru diệt.
A Nan,
nếu người tu hành, không đoạn trừ đại vọng ngữ, mà
muốn được đạo, thì cũng như người lấy đồ hôi tanh,
tô đắp thành cái hình chiên đàn, muốn cho thơm chừng nào
lại càng hôi chừng nấy. Cái nhân đã chẳng ngay, thì kết
quả phải cong vạy. Những người như thế mà cầu quả Phật
Bồ Đề, thì cũng như người muốn tự cắn cái rốn của
mình, làm sao cắn được !
A Nan,
ông nên dạy người tu hành điều thứ tư là quyết định
phải đoạn trừ đại vọng ngữ. Đây là lời nói sáng suốt
trong sạch của ta cùng các đức Phật quá khứ chỉ dạy.
Như lời ta dạy đây thì gọi là Phật nói, trái lại là Thiên
ma ba tuần nói.
Chú
Giải.
Bốn
đoạn trên Phật ân cần nhắc nhở, nói đi lặp lại nhiều
lần. Phật tử chúng ta nên ghi xương tạc dạ những lời
vàng ngọc chỉ dạy rất thống thiết của đức Từ Phụ.