BÀI
THỨ MƯỜI HAI
I.
Ngài A Nan hỏi Phật pháp tu viên thông.
Ngài
A Nan và đại chúng nhờ Phật khai thị trí tuệ sáng suốt,
tâm hết nghi lầm, nên đồng lạy Phật, quỳ gối chắp tay
và kính cẩn thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, chúng con là kẻ phiêu linh, nhiều kiếp bần cùng
cô quạnh, không biết nhờ có hạnh phúc gì mà được làm
em của Phật, cũng như đứa hài nhi mất sữa đã lâu, nay
lại gặp được từ mẫu !
Bạch
Thế Tôn, hôm nay chúng con thân tâm đã được khai ngộ, hết
những nghi ngờ, nghe Phật chỉ dạy hiểu được cái nghĩa
“sáu gút mở thì cái tên một gút cũng không còn”. Nhưng
chúng con còn chưa hiểu “tu căn nào mới được viên thông”.
Cúi xin Đức Như Lai, duỗi lòng đại bi khai thị cho chúng
con lần cuối cùng, may ra ở cơ hội này, con trở lại với
bản tâm thanh tịnh của mình, được thành đạo quả.
Chú
Giải.
Tuy
nói 18 giới, chớ tóm lại thì chỉ có 6 căn. Do sáu căn tu
hành mà thành đạo quả. Nên trước kia Phật nói : “sanh
tử luân hồi hay an vui giải thoát, cũng chỉ tại sáu căn
của các ông”.
III.
25 vị thánh đều thuật lại pháp tu hành của mình được
chứng đạo quả.
1.
Do thanh trần chứng A La Hán :
Ông
Kiều Trần Na trong hàng năm tỳ kheo liền từ chỗ ngồi đứng
dậy bạch Phật rằng :
-Con
ở nơi Lộc Uyển và Kê Viên, gặp đức Như Lai khi mới thành
đạo; nhân nghe âm thanh thuyết pháp của Phật mà tỏ ngộ
lý Tứ đế. Phật hỏi các Tỳ kheo, thì con trước hết được
gọi là “hiểu”; Như Lai ấn chứng cho con tên A Nhã Đa.
Con do nơi âm thanh vi diệu viên mãn mà thành bực A La Hán.
Nay Phật hỏi phép viên thông, thì như chỗ sở chứng của
con, âm thanh là hơn cả.
Chú
Giải.
Viên
dung thông nhập Như Lai tạng diệu chân như tánh của các pháp
nên gọi là viên thông. Vì vậy nên viên thông là bất cứ
do một pháp nào trong các pháp viên thông chứng chân như của
tất cả Pháp.
Trong
các đoạn trước Phật chỉ rõ cho chúng ta thấy sanh tử luân
hồi do nơi sáu căn, mà được an vui diệu thường cũng do
nơi sáu căn; sáu căn là vọng mà cũng không thể ngoài sáu
căn tìm có cái chân. Vì rằng trong khi chúng ta đang mê, đem
sáu căn này mà thấy, nghe, cảm xúc, đến khi chúng ta giác
ngộ cũng chỉ đem sáu căn tiếp xúc với các tướng. Vậy
mà khi mê thì gọi các căn là ràng buộc (kiết) đến khi ngộ
thì gọi là viên thoát. Vì sao ? Bởi vì khi mê, cái gút mê
chưa mở trừ vậy.
Vì
sao mà thành ra cột gút, và làm sao để mở gút, thì trước
Phật đã dùng phương tiện cột khăn mở khăn để chỉ dạy
rõ ràng. Đồng một tánh Như Lai tạng mà vì nguyên do mê lầm
hiện ra sáu căn ràng buộc; nếu nói rằng vọng, thì căn nào
cũng vọng, mà nói rằng bỏ vọng về chân, thì căn nào cũng
chân, chân đến nơi một căn, tức tất cả các căn, các căn
tức một căn, không còn bị nó buộc trong phạm vi mắt chỉ
thấy sắc, tai chỉ nghe tiếng, mũi chỉ ngửi hương v
. v . mà trái lại sáu căn đắp đổi thọ dụng viên dung,
bởi đã thiệt chân thì không còn bỉ thử ngăn ngại. Vậy
nên tu nhãn căn, không phải là liệt, tu nhĩ căn không phải
là thắng v . v . cho đến bất luận tu một căn nào hay một
món đại nào cũng như nhau cả, không gì hơn hay gì kém, miễn
làm sao thấy rõ thật tánh của một pháp mà được viên ngộ
viên thoát. Ông A Nan tuy đã thâm ngộ cái ý nghĩa viên ngộ
viên tu ấy, nhưng hiện tiền chưa rõ sáu căn món nào thù
thắng, có thể hợp với căn tánh của mình và chúng sanh ở
Ta Bà này hơn cả, nên cầu Phật chỉ bày. Phật liền gạn
hỏi trong đại chúng, các vị Đại Bồ tát, lậu tận A La
Hán, đã chứng quả vô học, để xem mỗi người, khi ban sơ
phát tâm, đã tu theo phương tiện gì mà đặng ngộ đạo.
Một điều mà chúng ta nên chú ý là Phật gạn hỏi chỗ ngộ
đạo của các bậc Thánh hiền tăng, đây không phải để
so sánh chỗ hơn kém, mà cốt để chứng minh lời Phật đã
dạy trước, để chỉ rõ lối tu viên đốn của Đại thừa
khác lối tu tiệm thứ của Nhị thừa và để cho ngài A Nan
tự lựa lấy cái căn viên thông thích hợp mà tu hành; nếu
có tu hành thì pháp môn nào cũng thành giải thoát cả. Không
chỉ riêng ông A Nan, nếu chúng ta, sau khi nghe hiểu lựa lấy
một pháp để suy nghiệm tu hành, thì chắc mau đặng ngộ
nhập viên thông tam muội.
Phật
hỏi xong, kế đó 25 vị Thánh lần lượt tỏ bày chỗ sở
ngộ của mình :
Ông
Kiều Trần Như cùng 4 ông Tỳ kheo (5 ông này lúc trước theo
tu khổ hạnh với Phật và được Phật hóa độ trước tiên
khi Ngài mới thành đạo) nhân âm thanh của Phật thuyết pháp
ngộ lý Tứ đế, chứng viên thông; nên đối với pháp thích
hợp làm cho ông chứng ngộ, thì thanh trần hơn cả. Thứ nhất
nhờ âm thanh của Phật giảng về Từ đế mà ngộ được
lý Tứ đế (khổ, tập, diệt, đạo). Thứ hai ông quán sát
rõ thấu thật tướng của âm thanh, mà ngộ đạo. Thật tướng
của âm thanh là vô tướng, không đọa về nhân duyên, tự
nhiên, hòa hợp, phi hòa hợp như trước Phật đã chỉ dạy;
nó thường vắng lặng, cùng khắp 10 phương, theo nghiệp cảm,
theo tâm lượng của chúng sanh mà phát hiện, nên tuy khi chúng
ta không đem tâm phân biệt, mà khi ấy tiếng cũng chẳng phải
không, chẳng phải các chúng sanh khác cũng tuyệt không nghe
thấy như ta. Xưa nay chúng ta chỉ phân biệt theo giả ảnh
của thanh trần sanh diệt đối đãi với ta, nên bị thống
khổ theo khi có tiếng, hay khi không có tiếng, chứ chưa hề
lắng lòng định trí rời vọng trần để quán thật tánh
của những tiếng động tịnh là từ đâu, nên cũng chưa hề
liễu nhập tánh âm thanh vốn là tánh diệu chân như của Như
Lai tạng. Thật tướng của âm thanh đã như vậy, thì thật
tướng trí do âm thanh thuyết minh cũng vậy.
2.
Do sắc trần chứng A La Hán.
Ông
Ưu Ba Ni Sa Đà, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
cũng gặp Phật lúc mới thành đạo, nhân quán tướng bất
tịnh, sanh tâm rất nhàm chán xa lìa, từ tướng bất tịnh
đến tướng xương trắng, vi trần rồi tan về hư không, sắc
không, không hai, ngộ thật tánh các sắc, thành vô học đạo.
Đức Như Lai chứng cho con tên Ni Sa Đà, sắc phù trần tiêu
hết, sắc diệu tánh châu mật viên dung. Con từ sắc tướng
kia mà thành bực A La Hán. Nay Phật hỏi viên dung thì như chỗ
sở chứng của con, quán sắc làm nhân là hơn cả.
Chú
Giải.
Ông
Ưu Ba Ni Sa Đà (Tầu dịch là trần tánh, nhân chỗ ngộ mà
đặt tên), nhân quán sắc tướng mà chứng quả. Hàng Nhị
thừa thì quán bất tịnh để sanh tâm nhàm chán diệt tham
dục, cầu chứng Niết Bàn. Trái lại hàng Bồ tát quán bất
tịnh để nhận rõ nhân duyên thống khổ, chỗ đảo chấp
Bất Tịnh Kế Tịnh của chúng sanh mà hóa độ, phá trừ tâm
tham đắm sắc thân ngũ dục.
Ông
Ưu Ba Ni Sa Đà tu theo pháp quán đó, tịnh tâm nhiếp ý, quán
sát thân phần của chúng sanh, chỉ toàn là một vật nhơ nhớp
thối tha, cả từ đầu đến chân, từ trong ra ngoài, và rõ
ràng nhất khi thân ấy đã thành một tử thi phình trướng
bầm xanh, bại hoại, máu mủ chảy ra, gân thịt úa rữa, cầm
thú rúc ăn, xương gân ly tán, chỉ còn nắm xương khô, lần
lần tiêu ra tro bụi, biến vào hư không. Cái sắc thân đã
tan về hư không, đâu có phân biệt chia rẽ sai khác; chỉ
vì đem tâm phân biệt, tương đối với sắc mà gọi là không,
tương đối với không mà gọi là sắc, vậy nên sắc, không
đều không tự tánh cả.
3.
Do hương trần chứng A La Hán.
Ông
Hương Nghiêm đồng tử, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh
lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
nghe đức Như Lai dạy con chín chắn quán các tướng hữu vi.
Con liền từ tạ Phật lui về nhà thanh trai yên tịnh, trông
thấy các thầy Tỳ kheo đốt hương trầm thủy, mùi hương
lặng lẽ bay vào trong mũi; con quán sát mùi hương đó : chẳng
phải là gỗ, chẳng phải là hư không, chẳng phải khói, chẳng
phải lửa, đi không chỗ tới, đến không chỗ bắt đầu,
do đó vọng ý tiêu diệt phát minh tánh vô lậu. Đức Như
Lai ấn chứng cho con hiệu là Hương Nghiêm, hơi hương diệu
tánh được mật viên. Con do nơi hương trần kia mà thành bực
A La hán. Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng
của con, hương nghiêm là hơn cả.
Chú
Giải.
Ông
Hương Nghiêm đồng tử (nhân chỗ ngộ mà đặt tên) nhân
quán sát cái tướng hữu vi là hương trần mà chứng được
viên thông. Thường thường chúng ta chỉ tưởng mùi hương
là một thứ sẵn có của gỗ trầm v . v . hễ có gỗ trầm
là có hương; nhưng xét kỹ thì mùi hương ấy đâu phải chỉ
có gỗ trầm mà có được; còn do không khí, do lửa đốt
và do tỷ căn của ta tiếp xúc, tỷ thức giác xúc, ý thức
phân biệt nữa, nếu ngoài công năng của hai thứ năng tri,
sở tri trên ra thì không thành mùi hương được. Vậy thiệt
ra tánh chân thật hương trần không phải là năng tri sở tri,
cũng không phải ly năng tri sở tri, nó có ra chỉ tùy theo nghiệp
của mỗi chúng sanh mà phát hiện.
4.
Do vị trần, chứng Bồ Tát.
Hai
vị Pháp Vương tử Dược Vương, Dược Thượng cùng năm trăm
Phạm Thiên trong hội, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ dưới chân Phật, bạch rằng :
-Chúng
con từ vô thỉ kiếp làm vị lương y trong đời, miệng con
từng nếm các vị cỏ, cây, vàng, đá của thế giới Ta bà
này, số đến 10 vạn tám ngàn thứ; như vậy đều biết hết
thảy vị của : đắng, cay, chua, ngọt, mặn, lạt, các vị
hòa hợp, cu sanh, biến dị, cho đến nào là lạnh, là nóng,
có độc, không độc, đều biết khắp cả. Sau chúng con lại
nhân thừa sự đức Như Lai mà hiểu rõ vị tánh, chẳng phải
không, chẳng phải có, chẳng phải tức thân tâm, chẳng phải
ly thân tâm, phân biệt vị trần, mà đặng khai ngộ. Do đó,
Phật ấn chứng cho anh em con hiệu là Dược Vương Bồ Tát,
Dược Thượng Bồ Tát và làm Pháp Vương tử ở trong hội
này, là nhân vị trần mà đặng giác ngộ lên hàng Bồ Tát.
Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của chúng
con, quán vị trần làm nhân là hơn cả.
Chú
Giải.
Vị
trần là các vị chua, đắng, ngọt; vị hòa hợp như các món
ăn do nhiều thức hợp lại; vị cu sanh như ớt sẵn cay, bò
hòn sẵn đắng; vị biến dị là do thay đổi mà ra, như mật
ong để lâu hóa chua, rượu để lâu thì lạt. . .
Ngài
Dược Vương, Dược Thượng Bồ Tát do phân biệt quán sát
bổn nhân của vị trần mà chứng đạo. Quán sát nguyên nhân
của vị, như thế nào ? nếu nói vị do hư không thì sao nếm
hư không không biết ngọt, đắng; nói rằng thiệt có, thì
vị vốn vô hình; nói rằng vị tức là thân tâm, thành ra
nó có tánh biết; còn nói vị ly thân tâm thì cái gì phân
biệt mà biết vị. Hai vị Bồ Tát quán sát như vậy, ngộ
nhập cái tánh phi tức, phi ly, phi không, phi hữu của vị trần,
nên vọng ý tiêu tan, mà giác tánh được tỏ bày vậy.
5.
Do xúc trần chứng Thánh.
Ông
Bạt Đà Bà La với 16 người bạn Bồ Tát sơ phát tâm, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng
:
-Kiếp
trước, lúc Phật Oai Âm Vương ra đời, chúng con nhân đặng
gập Phật nghe pháp và xuất gia, trong ngày chúng Tăng tắm
gội, con theo thứ tự vào nhà tắm, thì thoạt nhiên ngộ biết
thủy trần vốn không, rửa bụi trần hay không rửa bụi trần,
tâm giác thường vắng lặng, không có tướng gì . . .
do tập quán cũ ấy nhớ mãi cho đến ngày nay, theo Phật xuất
gia được thành bậc vô học. Đức Oai Âm Vương gọi tên
con là Bạt Đà Bà La, nhân diệu xúc tỏ bày sáng suốt, thành
vị Phật tử trụ. Nay Phật hỏi viên thông, thỉ như chỗ
sở chứng của con, quán xúc trần làm nhân là hơn cả.
Chú
Giải.
Ông
Bạt Đà Bà La (Tầu dịch là Thiên Thủ hay Hiền Hộ) nhân
quán xúc trần mà ngộ nhập viên thông. Xúc là đụng chạm,
tiếp xúc. Cảnh bị biết của thân căn, hay nói cách khác
là cảnh ứng hợp thân cần phát sanh, nhận biết có lạnh,
nóng, trơn, nhám v . v . đều gọi là xúc trần. Như vậy, xúc
trần được phát hiện là bởi có thân căn với sắc cảnh,
thiếu một không thành, xúc trần hư dối. Vả lại như khi
đối trước một lò lửa, nếu kẻ rét thì có cảm xúc ấm,
còn kẻ ấm thì lại có cảm giác nóng thêm. Vậy thì biết
chỉ tùy chúng sanh mà thành lạnh hay nóng, không có thật thể
nhất định. Đối với nước cũng vậy, khi chúng ta dùng nước
tắm gội thân thể, nước chảy trên mình mà phát sinh ra cảm
giác thế này thế khác, gọi là xúc trần. Nhưng xét nghiệm
kỹ thì khi ta gọi là tắm rửa, ấy là rửa thân thể hay
rửa bụi trần ? Nếu nói là rửa thân thể, thì như không
bụi trần lấy gì để rửa; nếu nói là rửa bụi trần,
thì như nước chảy trên đất, cũng gọi là tắm rửa đặng
sao? Thế thì nước, bụi trần, thân thể vốn thật an nhiên,
nước không phải hay rửa (năng) mà bụi trần và thân thể
không phải bị rửa (sở), cho nên xúc trần chỉ là tướng
giả dối, đối đãi theo vọng nghiệp chúng sanh không xúc
mà hiện xúc, nên xúc trần đều là như huyễn : phi hữu,
phi vô. Ngộ được như vậy mà tu hành, tức thành bực vô
học.
6.
Do pháp trần chứng A La Hán.
Ông
Ma Ha Ca Diếp và Tỳ kheo ni Tử Kim Quang, liền từ chỗ ngồi
đứng dậy, đảnh lễ dưới chân Phật mà bạch rằng :
-Con
nhớ kiếp trước, trong thế giới này có nhiều Đức Phật
ra đời hiệu Nhật Nguyệt Đăng, con được gần gũi thân
cận nghe pháp tu học, sau khi Phật diệt độ thì cúng dường
xá lợi, đốt đèn nối ánh sáng, lại dùng vàng tử kim sáng
chói mà thếp hình tượng của Phật. Từ đó đến nay đời
đời thân con thường được đầy đặn sáng như đồng vàng
Tử kim, còn Tỳ kheo ni Tử Kim Quang này chính là quyến thuộc
của con, từng đã phát tâm cùng với con một lúc. Con xem thấy
thế gian sáu trần biến hoại, nên chỉ đem tâm không tịch
tu hành, thành diệt tận định. Thân tâm tự tại hay vượt
qua trăm ngàn kiếp, dường như khảy móng tay. Con do quán sát
pháp không tịch mà thành bậc A La Hán; đức Thế Tôn cho con
là người tu hạnh đầu đà bậc nhất. Diệu pháp mở sáng,
các lậu tiêu trừ, nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ
sở chứng của con, quán pháp trần làm nhân là hơn cả.
Chú
Giải.
Ông
Ma ha Ca diếp nhân quán pháp trần mà ngộ nhập viên thông.
Pháp trần là tất cả ấn tượng của tiền trần : sắc,
thanh, hương, vị, xúc, lưu lại trong tâm ý mà cảnh sở duyên
cho ý thức. Tất cả cảnh giới thế gian tóm lại không ngoài
sáu trần : sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ấy. Những pháp
đó luôn luôn biến chuyển hoặc âm thầm kín đáo, hoặc rõ
rệt phô bầy, chứ không niệm nào yên lặng dừng nghỉ. Vừa
vị lai đã thành hiện tại, vừa hiện tại đã thành quá
khứ; như vậy hãy chỉ vào đâu mà cho là có pháp thiệt ?
Chỉ vào vị lai ư ? hay chỉ vào quá khứ, hiện tại ư ? Thiệt
không thể chỉ vào đâu được, pháp trần đã không thiệt,
pháp trần là chân không, thì các môn thọ tưởng, hư vọng
phiền não, nương pháp trần sanh ra cũng liền tiêu diệt, phá
trừ ý thức, chứng diệt tận định. Khi ấy thân tâm tự
tại, đối với không gian cũng như đối với thời gian : không
rời chỗ ngồi mà ở khắp mười phương, vượt trăm ngàn
kiếp mà dường trong giây phút khảy móng tay, thoát ngoài vòng
chướng ngại của những sự lâu, mau, xa, gần, hạn cuộc.
Sáu
vị trên đây do tu sáu trần mà được chứng quả.
7.
Do nhãn căn chứng A La Hán.
Ông
A Na Luật Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân
Phật mà bạch rằng :
-Con
mới xuất gia thường ưa ngủ nghỉ, nên bị Như Lai quở trách
là loại súc sanh. Nghe lời Phật quở, con khóc lóc tự trách,
thức suốt bảy ngày không ngủ, hư cả hai mắt. Đức Thế
Tôn dạy cho con phép Tam muội nhạo kiến chiếu minh kim cang.
Con không do con mắt mà vẫn xem thấy 10 phương, tính chân rỗng
suốt, như xem cái trái trong bàn tay. Như Lai ấn chứng cho con
thành bậc A La Hán. Nay Phật hỏi viên thông thì như chỗ sở
chứng của con, xoay cái thấy trở về tánh nguyên, ấy là
thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
A Na Luật Đà nhân tu về nhãn căn, xả bỏ sắc trần, xoay
cái thấy (hư vọng) trở về kiến tánh (chân tánh) mà thành
bậc vô học.
Kiến
tánh thường diệu thường minh, nương nơi con mắt mà phát
ra cái dụng thấy sắc gọi là nhãn căn; kiến tánh vốn đã
diệu minh, cho nên kiến dụng chẳng lúc nào không minh, không
diệu. Chúng sanh nhiều kiếp mê lầm không tự nhận biết,
trở lại chấp rằng cái thấy chỉ do con mắt và có sắc
trần; hễ có sắc trần thì gọi rằng có thấy, nhắm mắt
là không. Đã đem tánh thấy viên dung cùng khắp mà khuôn khổ
một nơi, nên bị cách ngại, thấy không ngoài hai sống mũi,
thấy không đặng hai đời. Dẫu khi nhắm mắt, khi ngủ mê
không thấy đã đành, mà khi mở mắt cũng chẳng thấy được
sự thật của muôn pháp. Trong một đoạn trước, Phật gạn
hỏi ông A Nan về cái thấy là tâm hay con mắt ? Và Ngài đã
bảo : Tâm thấy chớ không phải mắt thấy. Đây Phật chỉ
cái kiến tánh này cho đến chỉ văn tánh, khứu tánh, v . v
. cho chúng sanh rõ. Thế nên biết rằng : có mắt không tâm,
không thành có thấy; có tâm không mắt cũng thấy khắp 10
phương, ấy gọi là “nhạo kiến chiếu minh”. Kiến tánh
bản minh đó, xưa nay không hề lay chuyển, ấy gọi là kim
cang Tam muội.
8.
Do tỷ căn mà chứng A La Hán.
Ông
Châu Lợi Bàn Đặc Ca, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh
lễ chân Phật bạch rằng:
-Con
vì thiếu sự tụng trì, nên tánh tình ngu độn, khi mới đầu
gặp Phật, nghe pháp xuất gia, chỉ nhớ trì một câu kệ của
Như Lai, mà trong 100 ngày không thuộc, hễ nhớ trước thì
quên sau, nhớ sau thì quên trước; Phật thương con ngu muội,
dạy pháp an cư, điều hòa hơi thở ra vào; con liền quán hơi
thở đến vi tế cùng tột, thấy các hạnh sanh, trú, dị,
diệt từng mỗi sát na, mà tâm được rỗng rang tự tại không
chút ngăn ngại; hết các món lậu thành A La Hán, ở dưới
tòa của Phật, được ấn chứng thành vô học đạo. Nay Phật
hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con, xoay hơi thở
trở về tánh không, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Châu Lợi Bàn Đặc Ca ( là hai anh em, Tầu dịch là Đại lộ
biên và Tiểu lộ biên. Đây cốt chỉ ông em) nhân tu tỷ căn
mà chứng nhập viên thông. Kiếp xưa của ông là một vị
Đại pháp sư vì tâm bỏn sẻn Phật pháp, không muốn nói
cho ai nghe, nên bị quả báo ngu mê thiếu tánh nghe nhiều, hiểu
rộng. Nhân đó Phật mới dạy phương pháp nhiếp tâm là điều
hòa hơi thở vào ra, đếm từ một đến trăm, từ trăm lui
một; sau khi tâm định tĩnh, xét cùng tột đến tướng vi
tế của hơi thở, thảy đều sanh, trú, dị, diệt từng mỗi
sát na. Tâm chỉ chú vào hơi thở, ngoài hơi thở không riêng
có sự vật gì, cũng không có tướng hơi thở nữa, bởi vì
hơi thở đã từng sát na chuyển biến, hơi thở không có thất
tánh; vậy do tánh yên lặng mà quán cảnh thanh tịnh, mà được
rỗng rang sáng suốt.
9.
Do thiệt căn chứng A La Hán.
Ông
Kiều Phạm Bác Đề, liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh
lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
bị khẩu nghiệp nặng nề; trong kiếp quá khứ đã chê bai
vị Sa môn, nên đời đời mắc bịnh, miệng thường nhơi
như trâu. Đức Như Lai dạy cho pháp môn Nhất vị thanh tịnh
tâm địa; con nhân đó mà tâm được tịch diệt vào tam ma
địa, quán sát cái tánh biết vị không phải thân, cũng không
phải vật; liền trong miệng ấy, vượt bỏ các lậu thế
gian, bề trong giải thoát thân tâm, bề ngoài không dính mắc
thế giới, xa lìa ba cõi như chim ra khỏi lồng, tiêu hết các
món trần cấu, nên đặng con mắt pháp thanh tịnh, thành A
La Hán. Đức Như Lai ấn chứng cho con thành vô học đạo.
Nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con,
xoay về quán sát tánh biết vị ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Kiều Phạm Bác Đề (Tầu dịch là Ngưu Từ) nhân tu thiệt
căn mà chứng nhập Viên thông. Trong một kiếp quá khứ, ông
từng buông lời chê bai vị lão Tăng, nên nhiều đời mắc
lấy cái tật miệng thường nhơi suông như trâu.
Phật
thuyết pháp lúc nào cũng tuỳ căn cơ, tùy tập quán chúng
sanh cả; nên Ngài đã tuỳ tập quán của ông, mà dạy cho
các pháp môn nhất vị thanh tịnh tâm địa; nghĩa là quán
cái tánh biết vị khắp hiện nơi thiệt căn, vốn thường
thanh tịnh, không phải đối đãi giả dối, không thay đổi
theo mặn, đắng, ngọt, cay, nên gọi là Nhất vị. Đã vậy,
thì cái tánh biết vị ấy không phải là thiệt căn và không
phải là vị trần; vì chẳng phải trần nên chẳng phải vô
tri, mà chẳng phải căn nên không giả dối; vì vậy, các món
dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, trong thế gian không thể
ô nhiễm buộc ràng; tuy ở trong ba cõi, mà vốn xa lìa ba cõi,
như chim ra khỏi lồng, thông dụng tự tại, thấy biết rộng
xa. Ấy gọi là Pháp nhãn thanh tịnh thành A La Hán, không còn
thọ sanh trong vòng luân hồi sanh tử.
10.
Do Thân căn mà chứng A La Hán.
Ông
Tất Lăng Già Bà Ta liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đầu
lạy chân Phật bạch rằng :
-Lúc
con mới xuất gia theo Phật nhập đạo, thường nghe đức Như
Lai dạy những điều thống khổ trong thế gian; con đi khất
thực trong thành, để tâm tư niệm pháp môn đó, bất giác
giữa đường đạp nhằm gai độc, bị thương chân, sự đau
nhức khắp cùng thân thể. Con liền nghĩ bụng : Có tánh mới
biết sự đau nhức đó. Tánh biết ấy chính là giác tâm thanh
tịnh, tuy biết cái “biết đau” mà nó không phải bị đau.
Con lại suy nghĩ : Nếu như vậy thì một thân lẽ nào lại
có hai tánh biết ? Con nhiếp niệm chưa bao lâu, thân tâm bỗng
nhiên không tịch; trong 21 ngày thì các lậu tập tiêu hết,
thành quả A La Hán, được Phật ấn ký, chứng bậc vô học.
nay Phật hỏi viên thông, thì như chỗ sở chứng của con,
là xả bỏ thân chấp, thuần một giác tánh, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Tất Lăng Già Bà Ta (Tầu dịch là Dư Tập) nhân tu thân căn
mà ngộ nhập Viên thông. Giác tâm thanh tịnh vốn thường
bất biến, hàm dung không có năng sở, không có trong ngoài,
không bị khổ vui là lay động, chúng sanh nhân mê, khởi ra
vọng tưởng phân biệt, chấp có ngoại cảnh có nội thân,
cuộc tánh biết nơi thân căn làm nơi y chỉ, mà lãnh nạp
các cảnh thuận nghịch giữa thế gian. Vì vậy nên không tránh
khỏi các món khổ. Ông Tất Lăng Già Bà Ta nghe theo lời Phật,
quán khổ đế giữa thế gian trong khi đi khất thực, bất
giác chân đạp nhằm gai độc, đau buốt toàn thân, mà càng
chứng rõ khổ đế một cách thống thiết. Nhân đau nhức
mà phát suy nghĩ : tự mình biết mình đang đau; vậy đã có
cái đau lại có cái biết đau; đau là cái biết hư vọng nơi
thân căn; tuỳ nhân duyên ngoại cảnh mà phát hiện có năng
có sở; chữ “biết đau” chính là chỉ giác tâm thanh tịnh,
ra ngoài có không, dù đau hay không đau cũng không thể làm
tăng giảm. Ngặt vì trong lúc tâm ngã pháp chưa tiêu, nên tướng
năng sở vẫn còn hiện tiền, cần phải nhiếp niệm vậy,
sau mới không cả thân tâm, đoạn trừ năng sở, không thấy
có cái tướng hay đau, không thấy cái tướng bị đau, chỉ
thuần một giác tâm thanh tịnh. Lúc ấy, chẳng những giác
tức là giác, mà mê cũng tức là giác; tánh giác hoàn toàn
viên mãn không còn bị điều chi ô nhiễm.
11.
Do ý căn mà chứng A La Hán.
Ông
Tu Bồ Đề liền từ chỗ ngồi đứng dậy lạy chân Phật
mà bạch rằng :
-Nhiều
kiếp lại đây, tâm con rỗng rang không ngại, nhớ lại kiếp
thọ sanh nhiều như số cát sông Hằng, lúc còn ở trong thai
liền biết muôn pháp không tịch; như thế cho đến thấy cả
10 phương toàn không, và giáo hóa khiến cho chúng sanh chứng
đặng không tánh. Nhờ đức Như Lai phát minh tánh chân không
của bản giác, tánh “không” viên mãn sáng suốt, chứng
A La Hán, liền vào biển giác không tịch sáng suốt tôn quí
của Như Lai, đồng tánh tri kiến với Phật, nên được ấn
chứng thành bậc vô học. Con do tánh không mà giải thoát,
không ai sánh bằng. Nay Phật hỏi viên thông thì như chỗ sở
chứng của con, là đem các tướng qui vào phi tướng, mà năng
phi, sở phi cũng diệt, xoay tánh biết nơi ý căn về không
vô, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Tu Bồ Đề (Tầu dịch là Không sinh) nhân tiêu trừ ý căn
mà chứng nhập Viên thông. Do nhãn thức thanh tịnh nên tất
cả pháp tướng của thế gian đều thấy thông suốt cả;
nhận thấy thông suốt các pháp biến hóa ấy nên đến khi
nghe thấy bài kệ nhân duyên, liền ngộ đặng thật tướng
trung đạo, ngộ Tạng tâm cùng khắp pháp giới, không phải
lớn nhỏ, không có ngằn mé trong ngoài. Bài kệ Nhân duyên
theo Đại thừa nghĩa là :
“Các
pháp nhân duyên sanh, tôi nói nó là không.
Gọi
nó là giả danh, cũng gọi trung đạo nghĩa.
(Nhân
duyên sở sanh pháp, ngã thuyết tức thị không, diệc danh thị
giả danh, diệc danh trung đạo nghĩa).
Các
pháp do nhân duyên hòa hợp sanh, không có thật tánh tức là
không; tuy không nhưng đã tùy vọng nghiệp cơ cảm của chúng
sanh, chẳng phải không có giả tướng phát hiện; ngoài giả
không thể có không, ngoài không không thể có giả, không và
giả không hai, ấy tức là thật tướng trung đạo của các
pháp. Đã ngộ lý trung đạo tức là ngộ được Tạng tâm
tùy duyên bất biến, bất biến tùy duyên, không phải giả,
không phải không, nhưng không chỗ nào không có, không pháp
nào không do tạng tâm, tùy duyên biến hiện, mà thấy biết
cùng tận tất cả pháp không chút ngăn che sợ hãi.
13.
Do nhĩ thức mà chứng Bồ Tát.
Ông
Phổ Hiền Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
đã từng làm vị Pháp Vương tử với hằng sa đức Như Lai.
Mười phương các đức Như Lai mỗi khi dạy hàng đệ tử
có căn cơ Bồ tát, tu hạnh Phổ Hiền, thảy đều lấy tên
con mà đặt tên. Bạch Thế Tôn ! Con dùng tâm mà nghe và phân
biệt mọi niệm lự, tri khiến của chúng sanh; nếu ở phương
nào khác, ngoài hằng sa cõi nước, có một chúng sanh phát
tâm tu niệm hạnh Phổ Hiền, thì con liền trong khi ấy, cỡi
voi trắng sáu ngà, phân hóa trăm ngàn thân đến khắp nơi
ấy; dầu cho chúng sanh đó nghiệp chướng sâu dày không thể
thấy con, thì con nhân trong khi tối tăm lấy tay rờ đầu,
gia hộ an ủi khiến đặng thành công đức. Nay Phật hỏi
viên thông, như bổn nhân chứng ngộ của con, là phát minh
tánh nghe, phân biệt tự tại, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Phổ Hiền Bồ tát (hạnh độ sanh cùng pháp giới là Phổ,
gần địa vị cực thánh là Hiền) nhân tu nhĩ thức mà chứng
nhập Viên thông. Phổ Hiền có ba vị khác nhau :
1/Vị
Tiền Phổ Hiền tức là hai vị Tư Lương và Da Hạnh.
2/Đương
vị Phổ Hiền tức Sơ Địa cho đến Đẳng Giác, Diệu Giác.
3/Vị
Hậu Phổ Hiền, tức là khi chứng Phật quả rồi, nhưng không
quyến luyến cái vui nơi cảnh Niết Bàn, chỉ vì nguyện đại
bi luôn luôn trở lại độ sanh tế vật, như Ngài Văn Thù,
Quán Âm, Phổ Hiền v . v . Vậy biết ngài Phổ Hiền là vị
Đại Bồ Tát đã thành Phật mà trở lại độ sanh. Chính
trong nhân địa, Ngài đã phát 10 lời đại nguyện : Từ “lễ
kỉnh chư Phật” cho đến “Phổ giai hồi hướng”. Ngài
đã phát minh tánh nghe chân thật của bản tâm thanh tịnh,
không còn tùy tùng theo cái nghe hư vọng của nhĩ căn và nhĩ
thức, nên không bị điều chi cách ngại; nên hể có mỗi
một cúung sanh nào cách xa hằng sa thế giới mà phát tâm tu
hạnh Phổ Hiền, thì Ngài liền quán biết rõ ràng, phân vô
số thân, cỡi voi trằng sáu ngà (biểu 6 độ của Bồ Tát)
đến tận nơi mà tìm cách an ủi khuyên lơn, tán thán, gia
hộ khiến chúng sanh ấy mau thành tựu như Ngài. Các vị muốn
tu Bồ Tát thừa sau khi thấy rõ chân tâm, phát minh căn bản
trí, đều phải khởi sai biệt trí, tùy nghi phương tiện mà
giáo hóa độ sanh mới thành tựu viên mãn Phật quả; nếu
thiếu hạnh Phổ Hiền tế độ quần sanh thì hạnh giác tha
bị thiếu, nên Phật dạy các Bồ tát tu hạnh lợi tha đều
nên tu theo hạnh đức Phổ Hiền và cũng lấy tên ấy mà làm
tên của mình.
14.
Do Tỷ thức mà chứng A La Hán.
Ông
Tôn Đà La Nan Đà liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
lúc đầu xuất gia theo Phật nhập đạo, tuy đối với giới
luật (giới) giữ gìn đầy đủ, mà đối với phép Tam ma
địa (định) thì tâm thường loạn động, nên chưa thành
vô lậu. Đức Thế Tôn dạy con cùng ông Câu Thi La quán tưởng
trắng trên chót sống mũi. Lúc đầu quán kỹ, trải qua 21
ngày thấy hơi trong mũi ra vào như khói, thân tâm thế giới
trong ngoài rỗng suốt, khắp đều trong sạch như ngọc lưu
ly. Rồi dần dần tướng khói tiêu tan mà hơi thở lại biến
thành các sắc trắng, tâm đặng khai ngộ; các lậu tiêu trừ,
hơi thở ra vào hóa thành ánh quang minh, soi cùng mười phưong
thế giới, chứng quả A La Hán. Đức Thế Tôn thọ ký cho
con, tương lai chứng đặng Bồ Đề. Nay Phật hỏi viên thông,
con do tiêu trừ hơi thở; hơi thở tiêu nên tâm phát sáng,
sáng càng viên mãn, các lậu dứt trừ, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Tôn Đà La Nan Đà nhân tu về tỷ thức mà ngộ nhập Viên
Thông; trên đường tu hành chân chánh đến kết quả vô thượng
Bồ Đề là phải đủ 3 điều kiện cần yếu : giới luật,
thiền định, trí huệ. Giới để ngăn ngừa tội lỗi, định
để đón dẹp vọng tưởng tán loạn, huệ để phá vô minh
thấu rõ thật lý. Bởi vậy mặc dầu giữ gìn giới luật
hoàn toàn mà tâm thiếu thiền quán, bị tán loạn, thì bao
nhiêu hoặc lậu vô minh vẫn còn tương tục ngăn che thánh
quả vô lậu. Thiền quán thì cốt tại buộc tâm vào một
chỗ hay một pháp môn để quán sát. Như Phật dạy ông Tôn
Đà La Nan Đà và Câu Thi La chuyên tâm quán tướng trắng đầu
chót sống mũi; hễ quán tâm lần sâu xa, thì cảnh sở quán
lần thanh tịnh, nên thấy hơi thở có khi như hơi khói, có
khi thành trắng, đến khi hóa ra ánh sáng là đều do quán tâm
sâu cạn mà ra cả. Cảnh sở quán đã sáng suốt, tâm năng
quán cũng viên minh, thì thân tâm thế giới khắp 10 phương,
thảy đều trong suốt như chất lưu ly, không nhơ bợn không
ngăn cách, ấy là dứt nhân sanh tử, được Phật thọ ký
chứng Bồ Đề quả.
15.
Do thiệt thức mà chứng A La Hán.
Ông
Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
từ nhiều kiếp lại đây, biện tài vô ngại, tuyên nói các
pháp khổ, không đạt cùng thật tướng; như vậy cho đến
tất cả pháp môn bí mật của hằng sa Như Lai, con đều đem
giãi bầy rất rõ ràng, vi diệu ra giữa đại chúng không chút
sợ sệt. Đức Thế Tôn biết con có tài hùng biện, nên dùng
âm thanh tuyên nói pháp luân dạy con đem ra truyền bá. Con ở
nước Phật dùng tiếng thuyết pháp như sư tử rống, để
giúp Phật chuyển pháp luân, đặng thành A La Hán. Đức Thế
Tôn ấn chứng con là người thuyết pháp không ai bằng. Nay
Phật hỏi viên thông, con do pháp âm, hàng phục lũ ma oán,
tiêu diệt các lậu, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử, nhân tu thiệt thức mà ngộ nhập
viên thông. Thiệt thức có công năng biết vị và thuyết pháp.
Phật vì muốn cừu chúng sanh khỏi vòng điên đảo, chấp
mọi sự vật là thường, là lạc, là ngã, là tịnh, nên truyền
dạy pháp vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh. Nhân đó mà
hàng Nhị thừa giải thoát phần đoạn sanh tử, chứng Vô
dư y Niết Bàn và đem giáo hóa dẫn đạo chúng sanh. Thật
ra thì trong khi Phật dạy lý vô thường, khổ, vô ngã, bất
tịnh, mà mật ý cốt chỉ cho chúng sanh đương nơi bốn điều
ấy nhận thấu thật tướng, bình đẳng thường, lạc, ngã,
tịnh của tất cả các pháp. Vì thật tướng ấy mới là
pháp môn bí mật của hằng sa đức Như Lai, là chỗ muốn
chỉ của âm thanh luân của Phật tuyên nói; nếu ngộ đặng
Pháp môn ấy như ông Phú Lâu Na, thì biện luận thuyết pháp
không ai sánh bằng, mặc dù nói pháp khổ, không mà không ly
thật tướng; tuy không ly thật tướng mà tự tại tuyên nói
khổ không, để điều nhiếp chúng sanh, hàng phục ma ngoại.
16.
Do thân thức mà chứng A La Hán.
Ông
Ưu Ba Ly liền từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ chân Phật
mà bạch rằng :
-Con
thân hành theo Phật, thấy Ngài vượt thành xuất gia, chính
con quán thấy đức Như Lai, 6 năm tu khổ hạnh, hàng phục
loài ma, uốn dẹp ngoại đạo, giải thoát các tham dục thế
gian; lại được thừa lãnh giáo giới của Phật chế; như
thế cho đến 3000 oai nghi, 80.000 hạnh vi tế, nào tánh nghiệp,
nào giá nghiệp, con đều giữ gìn thanh tịnh, thân tâm vắng
lặng, thành bậc A La Hán. Con là giềng mối trong chúng đệ
tử của Như Lai. Phật ấn chứng tâm con, giữ giới tu thân,
chúng suy tôn là thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông thì
con trước do chấp giữ thân, thân đặng tự tại; sau lại
do chấp giữ tâm, tâm đặng thông suốt. Vậy sau tất cả
thân tâm thảy đều thông lợi, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Ưu Ba Ly nhân tu thân thức mà ngộ nhập Viên thông. Ông là
một người hầu cận của Phật trong khi Ngài còn làm thái
tử, nên thấy rõ hành động của Phật khi xuất gia, khi tu
khổ hạnh cho đến khi thuyết phục tà ma, thành đạo quả
và thiết chế giới luật, lại là vị đệ tử trì luật
thứ nhất, lãnh thọ giới luật, thanh tịnh tu trì. Nào những
điều thể tánh vốn ác như sát, đạo, dâm, vọng, gọi là
tánh nghiệp; những điều thể tánh tuy không ác nhưng vì hay
mở đường tội lỗi như rượu v . v . mà Phật chế ngăn
gọi là giá nghiệp; cho đến 3.000 oai nghi (250 giới đều có
4 cử động là đi, đứng, ngồi, nằm 250 x 4 = 1.000 ; 1.000
đối với 3 tụ giới thành ra 3.000). 84.000 tế hạnh (3.000
oai nghi đem phối với 7 chi : sát, đạo, dâm, lưỡng thiệt,
vọng ngôn, ác khẩu, ỷ ngữ thành 21.000; lại phối với 4
phần phiền não là đa tham, đa sân, đa si, tham si đẳng phần,
thành ra 84.000) thảy đều giữ gìn không giới nào khuyết
phạm, thân thường ở trong giới, toàn thân tức là giới,
khi giới đã đặng thanh tịnh thì thân ấy là thân tịch diệt,
mà tâm ấy là tâm chân thường diệu giác, mặc dù ở trong
thế gian uế ác mà không bao giờ ô nhiễm như diệu liên hoa
vậy.
17.
Do ý thức mà chứng A La Hán.
Ông
Đại Mục Kiền Liên liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Lúc
trước con đi khất thực, giữa đường gặp ba người anh
ông Ca Diếp Ba, là ông Ưu Lầu Tần Loa, ông Già Gia và ông
Na Đề tuyên nói nghĩa nhân duyên sâu xa của Như Lai; con liền
phát tâm, thấu suốt rộng lớn, đức Như Lai cho mặc y ca
sa râu tóc tự rụng hết. Con dạo đi cùng 10 phương, không
bị ngăn ngại, phát minh thần thông, được chúng suy tôn con
là hơn hết và thành A La Hán. Đâu chỉ một mình Thế Tôn,
mà 10 phương Như Lai cũng đều khen thần lực con, tròn sáng
thanh tịnh, tự tại không e sợ. Nay Phật hỏi viên thông con
xoay ý thức về tánh viên trạm, tam quang mở bày, ví như lắng
dòng nước đực, lâu ngày thành trong suốt, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
đại Mục Kiền Liên nhân tu ý thức mà ngộ nhập viên thông.
Sau khi nghe ba anh em ông Ca Diếp Ba nói lý nhân duyên của Phật
liền ngộ đặng nhân duyên thâm nghĩa, không phải như nghĩa
thông thường, nói các pháp có ra là do nhiều cái họp lại;
hơn nữa các pháp nhân duyên sanh thì tức là không có thiệt,
tức là như huyễn, tức là trung đạo thật tướng; chính
nơi các pháp đối đãi sanh diệt, mà nhận ra thật tướng,
tuyệt đối không sanh diệt. Vậy nên dầu gần dầu xa, dầu
lớn dầu nhỏ, không còn chút gì ngăn ngại, xứng ý thất
tướng phát hiện thần thông để độ chúng sanh và phụng
thờ chư Phật. Vì được như vậy nên ông Mục Kiền Liên
mới được gọi là bậc thần thông bậc nhất.
Sáu
vị trên đây do tu sáu thức mà được viên thông.
18.
Do lửa mà chứng A La Hán.
Ông
Ô Sô Sắc Ma ở trước Như Lai chắp tay cúi đầu đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
thường nhớ lại nhiều kiếp xa xôi về trước, tánh nhiều
tham dục. Có đức Phật ra đời hiệu là Không Vương. Ngài
dạy : Người nhiều dâm tánh là thành đống lửa hãi hùng,
lại dạy con quán khắp 100 hài 4 vóc, các khí lạnh, nóng và
tinh thần bề trong mà được ngưng tịnh, hóa tâm đa dâm thành
ra lửa trí huệ. Từ đó chư Phật đều gọi con là Hỏa đầu.
Con do sức hào quang tam muội mà thành A La Hán, tâm phát nguyện
lớn : “Hễ chư Phật thành đạo thì con làm người lực
sĩ hầu cận, uốn dẹp lũ ma oán”. Nay Phật hỏi viên thông,
con do quán sát cái xúc nóng nơi thân tâm, rỗng suốt không
ngại, các lậu tiêu trừ, phát sanh lửa trí huệ lớn báu,
lên bậc vô thượng giác, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Ô Sô Sắc Ma nhân tu về Hỏa Đại mà ngộ nhập viên thông.
Chỉ vì còn vọng tưởng nên còn tánh tham dâm; do tánh tham
dâm mới kết thành lửa nghiệp hẫy hừng đốt cháy thân
tâm, lu mờ ánh sáng trí huệ. Nhưng vọng tưởng chỉ
là tâm, tham dâm chỉ là tâm, mà trí huệ cũng chỉ là tâm;
nếu tâm vọng tưởng tham dâm ngừng tiêu, thì lửa trí huệ
phát hiện. Ông Ô Sô Sắc Ma vốn người nhiều dâm dục; sau
khi nghe đức Phật Không Vương dạy cho biết người đa dâm
biến thành đống lửa dữ mới chuyên tâm quán sát toàn thân
tứ đại vốn không chủ tể; 100 hài 4 vóc, khi lạnh khi nóng
v . v . đều thuộc về tứ đại; tâm đa dâm vốn không tự
tánh, tất cả đều do vọng tưởng mà ra, bởi tạng tâm tùy
duyên biến hiện, ngộ được tất cả vô tánh, tức thành
định lực hỏa quang tam muội, đốt cháy hết thảy thế gian
và oán ma sanh tử.
19.
Do đất mà chứng được Bồ Tát.
Ông
Trì Địa Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
nhớ kiếp xưa đời đức Phổ Quang Như Lai xuất hiện giữa
đời. Con làm thầy Tỳ Kheo thường đi đến các nẻo đường,
bến đò, ruộng đất hiểm trở, hoặc không được bằng
phẳng, phòng hại xe ngựa, thì con đắp ngay ngắn, hoặc làm
cầu cống, hoặc gánh cát đất, siêng năng khổ nhọc như
vậy, trải qua vô lượng đức Phật ra đời. Hoặc có chúng
sanh ở chỗ chợ búa, cần người chuyển vật, con trước
hơn ai cả, vì họ chuyển đi đến nơi tận chỗ để đồ
vật xuống, liền đi ngay, chứ không nhận lấy tiền thuê.
Trong khoảng Đức Phật Tỳ Xá Phú ra đời, ở thế gian, phần
nhiều bị đói thiếu, con làm người chuyên chở không kể
gần xa, chỉ lấy thuê một tiền; nếu có trâu mắc phải
bùn lầy thì con đem sức lực vì chúng đẩy xe, cứu vớt
sự khổ não. Vị Quốc vương thửa ấy, mời Phật thết trai
cúng dường; bấy giờ con sửa sang đất đai bằng phẳng,
chờ Phật đi qua. Đức Tỳ Xá Như Lai khi đi ngang qua, xoa đầu
con và bảo : “Hãy bình tâm địa thì thế giới đại địa
tất cả đều bình”. Tâm con liền đặng mở mang, thấy rõ
vi trần tạo thành ra thế giới, bình đẳng không khác; tự
tánh của vi trần không chạm lẫn nhau, cho đến đao binh cũng
chẳng hề đụng chạm; trong các pháp tự tánh, ngộ được
vô sanh nhẫn, thành bậc A La Hán. Xoay tâm Tiểu thừa này vào
trong vị Bồ Tát, nghe các Như Lai nói chỗ tri kiến Phật như
Diệu Liên Hoa; con đặng chứng tỏ lần đầu tiên mà làm
vị Thượng thủ. Nay Phật hỏi viên thông, con do chỗ đế
quán hai thứ vi trần của căn thân và thế giới bình đẳng
như nhau, vốn từ Như Lai tạng hư vọng phát sinh trần cấu,
trần cấu tiêu rồi, thì trí viên mãn, thành Bồ Tát, ấy
là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ngài
Trì Địa Bồ tát nhân nơi địa đại mà chứng ngộ viên
thông. Phàm những vị phát tâm hướng cầu Bồ Đề mà tu
Bồ tát hạnh, thường xem việc lợi tha làm trọng, lợi kỷ
làm khinh, lắm khi vì xả kỷ để mà lợi nhân cũng không
tiếc. Nhưng phương tiện thực hành Bồ tát hạnh sai khác
nhau, có vị dùng lời nói dịu dàng thuyết pháp để lợi
ích chúng sanh, có vị đem tiền tài của cải bố thí để
lợi ích chúng sanh v . v . còn như Ngài Trì Địa thì thường
đem thân lực mạnh khỏe mà giúp ích nhiếp hóa chúng sanh;
từ kiếp đức Phật Phổ Quang xuất thế, mãi về sau vô lượng
kiếp Ngài thường đi qua các nẻo đường, bến đò, và bất
cứ nơi nào hiểm trở lầy lội, phương ngại người đi,
đều ra công tự gánh đất cát sửa sang bằng phẳng, xây
dựng cầu cống hoặc gánh gồng mang chở vật hạng giúp
người về tận nơi chỗ mà không lấy tiền thuê, cho đến
đẩy giùm xe trâu bùn lầy tự đi không nổi v . v . Sau nhân
gập đức Tỳ Xá Như Lai dạy một câu rằng : “Nên bình
tâm địa thì đại địa thế giới tất cả đều bình”,
tâm liền khai ngộ, Ngài chứng quả vô sanh. Câu ấy nghĩa
là tất cả đại địa vi trần từ trong thân đến ngoài thế
giới đều là giả dối, không có tự tánh, chỉ do nhất tâm
biến hiện. Chúng sanh vì mê không ngộ cảnh sở hiện ấy
toàn là duy tâm vốn không trong ngoài, không năng sở, không
cao thấp, mà lại phân chia có trong ngoài, năng sở cao thấp,
nên mới thấy tướng bất bình; nếu gạt bỏ hết các vọng
tưởng điên đảo, mà bình được tâm địa nơi mình thì
đại địa ở ngoài thế giới tự nhiên bằng phẳng, xem thấy
các vi trần họp thành nơi thân, vi trần họp thành ngoại
giới vốn đồng một tâm, tâm đồng một tánh, bình đẳng
như như, không ngăn ngại nhau; thì dù dao cắt vào thân thể
như rạch giữa hư không; vi trần không diệt cũng như băng
tiêu tức thành nước, chỉ băng diệt chứ nước không bị
mất. Pháp tánh vốn tự viên dung, chẳng có gì thêm, bớt,
sanh, diệt. nếu ngộ pháp tánh ấy tức nhập chỗ tri kiến
Phật.
20.
Do nước mà được chứng Bồ Tát.
Ông
Nguyệt Quang Đồng tử liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
nhớ hằng hà sa số kiếp về trước, có đức Phật ra đời
hiệu là Thủy Thiên, dạy các vị Bồ Tát tu phép quán nước,
chứng nhập chánh định. Quán nước ở trong thân, tánh nó
không cướp đoạt nhau. Đầu tiên quán từ nước miếng, rồi
đền mồ hôi, tinh huyết, đại tiện, tiểu tiện, xoay vần
trong thân mà vẫn đồng một tánh nước. Quán thấy nước
ở trong thân cùng nước biển hương thủy nơi cõi Phù Tràng
vương ngoài thế giới, bình đẳng không sai khác. Lúc ấy
con mới thành phép quán nước, thì chỉ trông thấy nước
mà chưa được không thân (nghĩa là còn chấp có thân này).
Đang lúc còn làm Tỳ kheo yên lặng tu thiền ở trong nhà, thì
có người đệ tử từ nơi cửa sổ ngó vào nhà, chỉ thấy
nước trong khắp đầy cả nhà, không thấy gì khác nữa, nó
trẻ dại không biết, liền lấy một viên ngói quăng vào trong
nước, quấy nước lên tiếng, ngó quanh quẩn rồi bỏ đi;
sau khi con xuất định, liền cảm thấy đau bụng, giống như
ông Xá Lợi Phất gặp phải nạn quỷ vi hại. Con tự suy nghĩ
: Nay ta đã được quả A La Hán, khỏi bịnh duyên lâu ngày,
vì sao nay bỗng phát sinh đau bụng, chừng bị thối thất chăng
! Bấy giờ đứa nhỏ thẳng đến trước con, nói lại việc
như trên; con liền bảo : “Hễ ngươi trông thấy nước lại,
thì nên liền mở cửa vào trong nước, lượm quăng viên ngói
đi”. Đứa nhỏ vâng lời, lúc sau con nhập định, nó trở
lại thấy nước và viên ngói rõ ràng, liền mở cửa lượm
ra. Đến khi con xuất định, thân thể lại y như cũ. Gặp
vô lượng Phật, như vậy đến đời đức Sơn Hải Tự Tại
Thông Vương Như Lai, con được vong thân, thân cùng nước biển
hương thủy khắp 10 phương họp một tánh chân không, không
hai không khác. Ngày nay đối trước Như Lai được danh hiệu
Đồng Chân, dự hội Bồ Tát. Nay Phật hỏi viên thông con
do thủy tánh, một vị lưu thông, chứng được phép vô sanh
nhẫn, viên mãn đạo Bồ Đề, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Nguyệt Quang Đồng tử nhân quán thủy đại mà ngộ nhập
Viên thông. Thủy đại là chỉ tất cả nước trong biển cả,
nước lưu hành trong thân v . v . tuy thấy in tuồng có trong,
có ngoài mà vốn dung thông. Quán thủy đại dung thông cùng
khắp cả thế giới, không chỗ nào không phải nước, toàn
một tướng nước mà thôi, thì tâm phân biệt tiêu diệt,
chân trí vô phân biệt hiện ra. Nhưng đây ông Nguyệt Quang
lúc đầu vì chưa chứng được chân tự tánh; tánh thủy tức
là chân không, tánh thân tức là chân không, tất cả đều
chân, tất cả đều không; nên ông thấy còn có thân, còn
đem thân nhập định, dung tâm quán nước, chứ chưa phải
tâm tức là định, định tức là tâm, tâm tức là nước,
nước tức là tâm. Vậy nên khi nhập định quán nước, có
tướng nước hiện tiền, đứa đồng tử thấy nước quăng
ngói vào trong, đến khi xuất định tướng nước không còn,
lại nghe tâm đau; về sau gặp đời đức Sơn Hải Tự Tại
Thông Vương xuất thế mới được vong thân; thân đã vong,
pháp cũng diệt, thì cùng 10 phương đồng một tánh thủy chân
không, không hai không khác, chẳng nhập định xuất định,
mà tự nhiên chứng được vô sanh pháp nhẫn.
21.
Do gió mà chứng Thánh quả.
Ông
Lưu Ly Quang Pháp vương tử, liền từ chỗ ngồi đứng dậy,
đảnh lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
còn nhớ trải qua hằng hà sa số kiếp trước, có đức Phật
ra đời hiệu Vô Lượng Thanh, khai thị tánh Bổn Giác diệu
minh cho các hàng Bồ Tát, quán thế giới này và các thân chúng
sanh, đều bởi sức gió nhân duyên hư vọng chuyển biến ra.
Con lúc bấy giờ quán cõi nước đứng yên, quán thời gian
qua lại, quán thân phần đi đứng, quán tâm niệm động lay,
tất cả các thứ động không hai, như nhau không sai khác.
Con
hiểu biết rằng tánh của các món động ấy, đến thì không
có chỗ ban đầu, đi không nơi cùng tột; chúng sanh điên đảo
số như vi trần trong mười phương, đều đồng một tánh
hư vọng cả. Như vậy cho đến những loại chúng sanh ở trong
một Tam thiên Đại thiên thế giới, chẳng khác nào trong một
cái đồ chứa hàng trăm mòng muỗi vo vo loạn lạc, ở trong
phân tấc nổi sanh cuồng náo, gặp Phật chưa bao lâu mà chứng
vô sanh nhẫn; bây giờ tâm địa mở mang, trông thấy phương
Đông cõi Phật Bất Động, làm con đấng Pháp vương (Phật)
kính thờ mười phương Phật, thân tâm phát sáng, rỗng suốt
không ngăn ngại. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát phong
lực giả dối không chỗ nương, ngộ tâm Bồ Đề chứng nhập
tam ma địa, hiệp với mười phương Phật, toàn một diệu
giác tâm, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ông
Lưu Ly Quang Pháp vương tử do phong đại ngộ nhập Viên thông.
Tánh bổn giác diệu minh thường không diêu động, nhân xem
thấy sự chuyển lay gọi là phong đại hay phong lực. Ông Lưu
Ly Quang thường quán tất cả thân tâm thế giới đều nhân
phong lực chuyển biến, nào sự thành lập phương cõi, sự
qua lại của thời gian; sự động chỉ nơi thân, sự động
niệm nơi tâm, thảy đều không tự tánh, đều do sức gió
hư vọng phát sanh, không thật có đến có đi, hay có sanh diệt;
chúng sanh không nhận biết chỉ do một tánh hư vọng như thế,
nên cuộc chấp nơi thân phần bé nhỏ, thân lại ràng buộc
vào thế giới; rồi tự chịu lấy sự sanh tử luân hồi rất
là đảo điên oan uổng; không khác nào trăm ngàn con mòng muỗi
vô tri ở trong đồ hẹp bé gang tấc, tự kêu la inh ỏi, diêu
động lăng xăng, mà thật ra gió hư vọng không chỗ nương,
chỉ nương Bồ Đề bổn giác. Như sóng nổi từ nước, hễ
gió hư vọng tiêu, tức Bồ Đề hiển lộ, thông suốt không
ngại. Mười phương chư Phật đều lấy cái đó làm tâm;
hết thảy chúng sanh cũng lấy đó làm tâm, chỉ một diệu
tâm vô nhị ấy; nhưng mà chứng nhập được là phải diệt
hết mê lầm.
22.
Do hư không mà chứng Bồ Tát.
Ông
Hư Không tạng Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ chân Phật mà bạch rằng :
-Con
với đức Như Lai cùng ở thời đức Phật Định Quang (Nhiên
Đăng Phật) chứng được vô biên thân, lúc ấy tay cầm 4
viên bảo châu lớn, chiếu sáng mười phương cõi Phật số
như vi trần, đều hóa thành hư không. Lại nơi tự tâm hiện
ra cái gương tròn lớn, từ gương phóng ra 10 ánh sáng vi diệu
quí báu, trong ánh sáng lưu xuất 10 phương các cõi nước khắp
hư không, rồi trở lại vào trong gương và lần vào thân con.
Thân đồng như hư không, chẳng còn sợ ngăn ngại, nên có
thể khéo léo hiện thân vào các quốc độ số như vi trần,
rộng làm Phật sự, được công đức tuỳ thuận rộng lớn.
Đạt
thần lực như thế ấy là con chín chắn quán sát tứ đại
không chỗ nương, sanh diệt theo vọng tưởng, hư không không
hai và cõi Phật vốn đồng, phát minh tới chỗ đồng, chứng
đặng vô sanh nhẫn. Nay Phật hỏi viên thông, con do quán sát
hư không không ngằn, ngộ nhập Tam ma địa, diệu lực viên
mãn sáng suốt, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Ngài
Hư Không Tạng Bồ Tát nhân tu không đại mà chứng nhập Viên
thông.
Quán
sát 4 món đại là giả dối, như huyễn, đều do vọng tưởng
của chúng sanh phát hiện; mà vọng tưởng không có thiệt
tánh, y nơi nhất tâm; khi đã ngộ lý duy tâm triệt để thì
cả 4 đại sắc-không, bổn lai bình đẳng như hư không. Như
bài kệ nói :
“Hư
không chẳng phải cao, thấp cũng không thể có;
Các
pháp cũng như vậy, tánh vốn không cao thấp.
Bồ
Tát Hư Không tạng, đặng kho tàng hư không,
Đầy
đủ cho hữu tình, thức ấy không cùng tận.”
Đem
thức tâm hư không vô tận ấy mà ấn nhập tất cả pháp,
thì pháp nào cũng vô tận, toàn tâm là sắc, vậy nên tất
cả pháp đều duy tâm sở hiện, không có thân sơ, toàn sắc
là tâm, vậy nên tất cả pháp là sở hiện duy tâm không có
trong ngoài.
Trong
bài này, ngọc châu là tiêu biểu sắc pháp, gương sang là
tiêu biểu tâm pháp. Toàn sắc là tâm không phân chia chủ bạn,
nên hay soi chiếu mười phương vi trần cõi Phật hóa thành
hư không. Toàn tâm là sắc, không phải xa rời nơi bổn tế.
Nên hay phóng quang hiện mười phương cõi, đều vào trong gương,
trong thân không chút nào ngăn ngại; chính nơi thân mà hiện
độ, nơi độ mà hiện thân, để hoằng pháp độ sanh, tiếp
nối Phật chủng mà không bao giờ trái với tánh bình đẳng
thanh tịnh của pháp thân nên gọi là đức tùy thuận rộng
lớn.
23.
Do thức đại mà chứng Thánh quả.
Ngài
Di Lặc Bồ Tát, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ
chân Phật mà bạch rằng :
-Con
nhớ trải qua vi trần số kiếp về trước, có đức Phật
ra đời hiệu là Nhựt Nguyệt Đăng Minh. Từ đức Phật ấy,
con được xuất gia, nhưng tâm còn nặng nề về thế danh,
ưa giao du các giòng quyền quí. Lúc ấy đức Thế Tôn dạy
con tu tập phép định duy tâm thức mà ngộ nhập Tam Ma
địa. Nhiều kiếp lại đây, do sức Tam muội ấy, con kính
thờ hằng hà sa số Phật và tâm ham chuộng thế danh kia nay
đã hết không còn. Đến kiếp đức Phật Nhiên Đăng ra đời,
con mới được chứng phép vô thượng diệu viên thức tâm
tam muội, thấy khắp hư không, các cõi nước dù uế, tịnh,
có, không, thảy đều do tâm thức con biến hóa hiện ra. Bạch
Thế Tôn ! Bởi con liễu chứng duy tâm thức tánh như vậy,
từ thức tánh xuất hiện vô lượng Như Lai, nên nay đặng
Phật thọ ký sẽ bổ xứ làm Phật. Nay Phật hỏi viên thông,
con do chín chắn quán sát 10 phương đều là duy thức, thức
tâm viên mãn sáng suốt, chứng nhập tánh viên thành thật,
xa lìa tánh y tha và biến kế chấp, ngộ vô sanh nhẫn, ấy
là thứ nhất.
Chú
Giải.
Đức
Di Lặc Bồ Tát nhân tu duy thức mà ngộ nhập Viên thông.
Ngộ
tất cả vạn Pháp đều do nơi thức biến hiện thì cảnh
nào cũng là tánh cảnh, cũng là tánh viên thành thật. Không
ngộ tất cả vạn pháp do nơi thức biến hiện, in tuồng sanh
mà không thật sanh, in tuồng diệt mà không thật diệt; nếu
chấp thiệt có sanh diệt, thành pháp y tha, lại so đo sai lầm,
chấp có ngã, ngã sở, cho nên thường bị danh tướng thế
gian ràng buộc. Tâm còn ham chuộng thế danh, vì còn cho thế
gian là thiệt. Trái lại, sau khi ngài Di Lặc tu tập phép duy
tâm, duy thức, quán sát tất cả danh là giả, tất cả tướng
là giả, không vì duyên gì còn làm sanh trưởng tâm ham mê
danh vị được nữa. Lần lần chứng được vô thượng diệu
viên thức tâm tam muội (chân duy thức tánh) chẳng những không
thấy thiệt có tướng vạn pháp, cũng không còn thấy thiệt
có tướng duy thức; vì mười phương Như Lai, quốc độ, sắc
không v . v . đều không món nào ra ngoài thức tánh ấy mà
tự có. Các pháp đã là thực tánh, thì pháp pháp đều là
tự tánh viên mãn, thành tựu chân thật, nơi tánh viên thành,
sanh vốn vô sanh. Cho nên xa lìa y tha như huyễn, nơi tánh viên
thành không thiệt có ngã và ngã sở, xa lìa biến kế sai lầm,
chứng pháp vô sanh nhẫn.
24.
Do kiến đại mà chứng Thánh quả.
Ngài
Đại Thế Chí Pháp vương tử cùng các Bồ Tát đồng hàng
là 52 vị, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ chân
Phật mà bạch rằng :
-Con
nhớ hằng hà sa số kiếp trước, có đức Phật ra đời hiệu
Vô Lượng Quang. Nội trong một kiếp ấy, 12 đấng Như Lai
kế nhau ra đời. Vị Phật sau hết hiệu là Siêu Nhựt Nguyệt
Quang. Ngài dạy con pháp tu Niệm Phật Tam Muội. Ví như có
người, nếu một đàng chuyên nhớ, một đàng chuyên quên,
thì hai người ấy hoặc gặp nhau cũng như chẳng gặp, dù
thấy nhau cũng như không thấy; nếu cả hai đều nhớ nhau,
hai mối nhớ càng ăn sâu thì dù từ đời này cho đến trải
qua đời khác, cũng luôn luôn như bóng với hình, không bao
giờ trái xa.
Mười
phương các đức Như Lai thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ
con, nếu con trốn tránh, tuy mẹ nhớ cũng chẳng ích gì; nếu
con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì mẹ con đời đời không
xa cách nhau. Nếu chúng sanh đem tâm nhớ Phật, niệm Phật
thì hiện tại hay tương lai chắc chắn thấy Phật, cách Phật
không xa, chẳng cần tu hành phương tiện nào khác mà tự nhiên
tâm được khai ngộ. Cũng như người ướp hương mà thân
có hơi hương; như thế gọi là dùng hương quang để trang
nghiêm vậy. Chỗ bổn nhân tu hành của con là do tâm niệm
Phật mà ngộ vô sanh nhẫn, nguyện ở cõi này để nhiếp
hóa mọi người niệm Phật vãng sanh Tịnh Độ. Nay Phật hỏi
viên thông, con vốn không lựa chọn, chuyên thâu nhiếp cả
sáu căn, khiến cho Tịnh niệm nối luôn, được vào Tam ma
địa, ấy là thứ nhất.
Chú
Giải.
Kiến
đại cũng tức là căn đại; trước thức đại thuộc về
thức, đây kiến đại thuộc về căn. Ngài Đại Thế Chí
Pháp vương tương tử, nhân tu kiến đại mà ngộ nhập Viên
thông.
Không
như các Viên thông trước, chỉ lựa chọn từng căn để hạ
thủ công phu, mà trái lại ở đây, ngài Đại Thế Chí nhân
phép niệm Phật Tam muội nhiếp phục cả 6 căn, qui cả 6 căn
đều thâu về nơi nhất niệm niệm Phật, không để tán loạn
dong ruổi theo ngoại duyên. Tịnh niệm thường nối luôn, không
xen một niệm gì khác, thì quyết nhiên chứng đặng niệm
Phật Tam muội, thường thương xót tưởng niệm chúng sanh,
như nhớ con dại; nếu chúng sanh chuyên tâm nhớ Phật, niệm
Phật như con biết nhớ mẹ, như mẹ nhớ con; thì hiện tiền
hoặc tương lai, quyết định gặp Phật, thấy Phật, vì nhân
nào quả nấy mảy mún không sai. Trái lại, Phật tuy nhớ chúng
sanh, mà chúng sanh cứ trốn tránh không biết nhớ Phật; cũng
như hai người một bên chuyên nhớ còn một bên chuyên quên,
thì gặp cũng như không gặp, thấy cũng như không thấy, chẳng
ích gì.
Vả
chăng, tâm mê ngộ của chúng sanh cũng như mẹ và con vậy.
Tâm ngộ như mẹ, tâm mê như con, ngộ luôn luôn có trong mê,
ví như mẹ thương nhớ con, mà mê thì không biết tự nhận,
niệm niệm chuyển dời trái tánh giác, họp trần lao, ví như
con trốn tránh không nhớ gì đến mẹ, bởi vậy mà uổng
chịu luân hồi sanh tử ! Nếu biết phản quán, đem tâm niệm
Phật giác ngộ nơi tự tâm, thì mỗi phút mỗi phút, mê hóa
thành giác, năng sở đều chứng nhập tánh pháp giới bình
đẳng, không ly đương độ mà nhiếp hóa những chúng sanh
niệm Phật đồng vãng sanh Tịnh Độ.
Bảy
vị trên đây do tu bảy đại mà chứng đạo quả.
25.
Do nhĩ căn mà được ngộ đạo.
Khi
đó đức Quán Thế Âm Bồ Tát đứng dậy lạy Phật, cung
kính thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, con nhớ từ hằng hà sa số kiếp về trước, có
vị Phật ra đời, tên là Quán Âm. Con đối trước Phật Quán
Âm phát tâm Bồ Đề, Ngài dạy con từ nơi nghe rồi nhớ và
tu mà được vào chánh định (văn, tư, tu là điều cần yếu
của người tu hành).
Khi
mới “nghe tiếng” không chạy theo thanh trần, xoay cái nghe
trở vào chân tánh (nhập lưu vong sở). Vì chỗ vào (chân tánh)
đã yên lặng, nên động và tịnh hai món trần cảnh không
sanh.
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này nói : Khi cái nghe đối với tiếng, không khởi
vọng niệm phân biệt theo tiếng, do xoay cái nghe trở lại
tự tánh, nên tâm yên, cảnh tịch. Đây mới giai đoạn thứ
nhất.
Như
thế lần lần tăng tấn đến cái nghe (năng) và cảnh bị
nghe (sở) cũng hết. (Đoạn trên
thinh trần yên tịnh, xong còn cái nghe. Đoạn này nói “cái
nghe” và “trần bị nghe” đều hết)
Cũng
không an trụ ở chỗ hết nghe. Cái biết hết và cái bị biết
cũng không còn. (Đoạn trên nói
“cái nghe với cái bị nghe hết”, nhưng còn chấp ở nơi
“cái hết”. Đoạn này nói cũng không chấp ở nơi chỗ
hết. Xong sợ e còn “cái biết hết”, nên nói tiếp : cái
biết và cái bị biết cũng không).
“Cái
biết” và “cái bị biết” cả hai đều không, đến chỗ
cùng tột viên mãn. Xong hãy còn cái “không”, phải tiến
lên một tầng nữa là cái “không” với cái “bị không”
cả hai đều diệt hết. Khi các cái sanh và diệt đã diệt
hết, thì cái chân tâm tịch diệt hiện tiền.
Chú
Giải.
Cách
tu hành của ngài Quán Âm Bồ Tát là :
1.-Bắt
đầu từ khi cái nghe đối với thanh trần không khởi phân
biệt theo thanh trần, nên thanh trần tự vắng lặng; xong còn
cái nghe.
2.-Đến
giai đoạn thứ hai là cái nghe (năng, sở) cũng hết, xong còn
cái hết.
3.-Đến
tầng thứ ba không chấp ở nơi hết, xong còn cái biết hết.
4.-Đến
tầng thứ tư là cái biết đó cũng không, xong còn cái không.
5.-Nên
đến tầng thứ năm là cái không đó cũng không còn. Lúc bấy
giờ các cái vọng niệm phân biệt chấp trước đều hết,
thì chân tâm thanh tịnh tự hiện bầy; cũng như các cặn đục
đã hết, thì tánh nước trong tự hiện. Mười phương các
đức Phật hay các vị Đại Bồ Tát tu hành, chỉ có một
con đường duy nhất là trừ hết vọng thì chân hiện bầy,
như lau gương sạch bụi, thì ánh sáng tự hiện, thế gọi
là thành Phật, hay là chứng Đại Niết Bàn.
IV.
Ngài Quán Âm kể lại sự kết quả.
(Đoạn
trên là ngài ngộ được chân tâm, từ đây về sau là từ
chân tâm khởi ra diệu dụng).
-Bạch
Thế Tôn, do con tu như vậy, nên vượt ra khỏi thế gian, và
xuất thế gian. Vì đã được chân tâm thanh tịnh sáng suốt
viên mãn khắp cả mười phương cùng với chư Phật và chúng
sanh đồng một thể tánh ấy, nên con được hai điều thù
thắng :
a)
Hiệp với đức “từ độ sanh” của chư Phật.
b)
Hiệp với lòng “bi ngưỡng mộ” của tất cả chúng sanh.
Và được các món diệu dụng như sau :
A.
Hiện ra 32 ứng thân để hóa độ tất cả chúng sanh.
-Bạch
Thế Tôn, con nhờ chứng được chỗ đồng thể đó, nên cùng
với chư Phật hiệp đức từ, hiện ra 32 ứng thân để tùy
thuận theo các chúng sanh mà hóa độ.
1.
Hiện thân Phật
2.
Hiện thân Độc Giác.
3.
Hiện thân Duyên Giác.
4.
Hiện thân Thanh Văn.
5.
Hiện thân Phạm Vương.
6.
Hiện thân Đế Thích.
7.
Hiện thân Trời Tự Tại.
8.
Hiện thân Đại Tự Tại.
9.
Hiện thân Đại Tướng Quân.
10.
Hiện thân Tứ Thiên Vương.
11.
Hiện thân Thái Tử.
12.
Hiện thân Vua.
13.
Hiện thân Trưởng Giả.
14.
Hiện thân Cư Sĩ.
15.
Hiện thânTề Quan.
16.
Hiện thân Bà La Môn.
17.
Hiện thân Tỳ Kheo.
18.
Hiện thân Tỳ Kheo Ni.
19.
Hiện thân Ưu Bà tắc.
20.
Hiên thân Ưu Bà Ni.
21.
Hiện thân bà Chúa.
22.
Hiện thân đồng nam.
23.
Hiện thân đồng nữ.
24.
Hiện thân Trời.
25.
Hiện thân Rồng.
26.
Hiện thân Dược Xoa.
27.
Hiện thân Càn Thát Bà.
28.
Hiện thân A Tu La.
29.
Hiện thân Khẩn Na La.
30.
Hiện thân Ma Hô La Dà.
31.
Hiện thân người.
32.
Hiện thân các chúng sanh.
B.-
Được 14 món không sợ.
-Bạch
Thế Tôn, con nhờ tu pháp này, chứng được chỗ đồng thể
với chúng sanh, nên cùng với chúng sanh đồng một lòng bi
ngưỡng mộ. Vì thế nên khiến cho các chúng sanh đặng 14
món không sợ :
1.
Chúng sanh khổ não quán tiếng tăm được giải thoát.
2.
Vào lửa không cháy.
3.
Vào nước không chìm.
4.
Quỷ không hại được.
5.
Dao chặt không đứt.
6.
Quỷ không thể thấy được.
7.
Không ai trói cột được.
8.
Không ai trộm cướp được.
9.
Lìa tâm dâm dục.
10.
Lìa nóng giận.
11.
Lìa si mê.
12.
Cầu nam đặng nam.
13.
Cầu nữ đặng nữ.
14.
Danh hiệu Quán Âm công đức bằng niệm danh hiệu của hằng
sa
Bồ Tát.
C.-
Được 4 món không thể nghĩ bàn.
-Bạch
Thế Tôn, con nhờ tu pháp môn này mà đặng 4 món thần diệu
không thể nghĩ bàn :
1.
Hiện nhiều đầu, nhiều tay và nhiều mắt.
2.
Hiện hình nói thần chú.
3.
Chúng sanh hy sinh tài sản cầu con thương xót.
4.
Chúng sanh cầu chi được nấy.
-Bạch
Thế Tôn, do đó mà đức Phật Quán Âm thọ ký cho con tên
là Quán Thế Âm.