BÀI
THỨ MƯỜI MỘT.
I.
Ngài A Nan hỏi Phật : trói buộc ở chỗ nào và làm sao mở
được.
A Nan
thưa :
-Bạch
Thế Tôn, như lời Phật dạy về cái nghĩa thứ hai là phải
biết rõ gốc rễ của phiền não ở chỗ nào, mới có thể
trừ được. Cũng như người mở gút, nếu không biết mối
gút ở đâu thì không bao giờ mở được.
Bạch
Thế Tôn, chính thế, chúng con đây cũng vậy. Từ vô thỉ
đến nay, cùng với các vô minh chung (đồng) sanh và chung diệt.
Tuy mang danh xuất gia, học rộng nghe nhiều, thật ra cũng như
người bị bệnh rét (làm cữ) cách ngày (giác thời tự ngộ,
xúc cảnh hoàn mê).
Cúi
xin Đức Như Lai, thương xót những kẻ trầm luân hiện tại
cũng như vị lai chỉ dạy cho ở nơi thân tâm này, chỗ nào
triền phược (gút), và làm sao mở được ?
II.
Phật chỉ chỗ trói cột. (gút)
Khi
đó Phật cùng với mười phương chư Phật, đều thương xót
A Nan và đại chúng cùng các chúng sanh đời sau, nên trên đảnh
các Ngài phóng hào quang quí báu chiếu khắp tất cả và đồng
kêu A Nan cùng đại chúng dạy rằng :
-
Nay các ông muốn biết cái “cu sanh vô minh” (vô minh chung
cùng sanh từ vô thỉ đến nay) để trừ, và “quả vô thượng
Bồ Đề” để tu chứng, vậy nay ta sẽ chỉ rõ cho ông.
Này
A Nan, khiến cho các ông nhiều kiếp sanh tử luân hồi đó,
chỉ là sáu căn của các ông; cũng như làm cho các ông chứng
được đạo quả Bồ Đề an vui giải thoát, chỉ là sáu căn
của các ông mà thôi.
Chú
Giải.
Mười
phương các đức Phật, đồng phóng hào quang, đồng dạy như
vậy, là để cho A Nan và đại chúng đều biết : đây là
một phương pháp duy nhất, không những một mình Đức Thích
ca, mà mười phương chư Phật cũng đồng chỉ dạy như thế.
III.
A Nan hỏi : Sao bị sanh tử luân hồi hay được tự tại giải
thoát cũng vì sáu căn.
Ông
A Nan nghe Phật chỉ dạy nhưng chưa hiểu, nên kính cẩn hỏi
Phật :
-Bạch
Thế Tôn, tại sao làm cho chúng con nhiều kiếp sanh tử luân
hồi cũng vì sáu căn, còn được an vui giải thoát cũng chỉ
do sáu căn, chớ không phải do vật gì khác ?
Phật
dạy rằng :
-Căn
và Trần đồng một thể (tâm), triền phược và giải thoát
không hai (mê thì triền phược, ngộ thì giải thoát). Các
thức hư vọng cũng như hoa đốm giữa hư không.
Chú
Giải.
Căn
trần không lỗi, mà lỗi tại vọng thức phân biệt, xong thức
thì hư vọng không có thật thể, như hoa đốm giữa hư không.
Cũng
đồng căn và trần này, xong phàm phu vì mê, khởi vọng thức
phân biệt ngã, pháp, nên bị triền phược, gọi là kiết
(gút). Thánh nhân cũng đồng căn trần này, xong vì giác ngộ
không khởi phân biệt chấp thật có ngã, pháp, nên được
giải thoát, thế gọi là giải (mở).
-A
Nan, vì có trần cảnh, nên ở nơi căn mới khởi ra phân biệt.
Vì đã có cái năng phân biệt ở nơi căn, nên mới hiện ra
cái tướng bị phân biệt là cảnh. Căn (kiến) và cảnh (tướng)
đối đãi nhau vọng hiện, chớ không thật có (vô tánh). Cũng
như hình cây lau gác nhau.
Chú
Giải.
Vì
các cây lau gác nhau, nên ở xa xem như có hình người hay vật.
Cái hình này không thiệt. Đây là dụ cho căn trần hư huyễn
không thật, vì đối đãi nhau nên vọng hiện ra mà thôi.
-Thế
nên, khi thấy, nghe, hay, biết, mà khởi vọng niệm phân biệt,
đó là gốc vô minh. Còn khi thấy, nghe, hay, biết mà không
khởi vọng niệm phân biệt, đó là Niết Bàn. Ở trong chân
tâm thanh tịnh, không có dung chứa vật gì cả.
Chú
Giải.
Đoạn
này Phật dạy khi sáu căn đối với trần cảnh, nếu khởi
vọng niệm phân biệt, đó là gốc của vô minh triền phược
(trói cột). Bởi thế nên Phật nói “vì sáu căn làm cho các
ông sanh tử luân hồi”. Trái lại, khi sáu căn đối với
trần cảnh, mà không khởi vọng niệm phân biệt đó là Niết
Bàn, là giải thoát (mở gút), nên Phật lại nói “Làm cho
các ông được an vui giải thoát cũng vì sáu căn”.
IV.
Phật nói bài kệ tóm lại nghĩa trên.
Khi
đó Phật muốn tóm lại các nghĩa trên, nên nói bài kệ ý
nghĩa như vầy :
Nguyên
văn chữ Hán :
Cân
tánh hữu vi không
Duyên
sanh cố như huyễn
Vô
vi vô khởi diệt
Bất
thật như không hoa.
Ngôn
vọng hiển chư chân
Vọng,
chân đồng nhị vọng
Do
phi chân phi chân
Vân
hà kiến sở kiến
Trung
gian vô thật tánh
Thị
cố nhược giao lô
Giải
kiết đồng sở nhân
Thánh
phàm vô nhị lộ.
Nhữ
quán giao trung tánh
Không
hữu nhị cu phi
Mê
hối tức vô minh
Phát
minh tiện giải thoát.
Giải
kiết nhân thứ đệ
Lục
giải nhất diệc vong
Căn
tuyển trạch Viên thông
Nhập
lưu thành Chánh giác.
Đà
na vi tề thức
Tập
khí thành bộc lưu
Chân
phi chân khủng mê
Ngã
thường bất khai diễn.
Tự
tâm thủ tự tâm
Phi
huyễn thành huyễn pháp
Bất
thủ vô phi huyễn
Phi
huyễn thượng bất sanh
Huyễn
pháp vô vân hà lập
Thị
danh diệu liên hoa
Kim
cang vương bảo giác
Như
huyễn tam ma đề
Đàn
chỉ siêu vô học
Thử
A tỳ đạt ma
Thập
phương Bạc già phạm
Nhất
lộ Niết Bàn môn.
-Xứng
theo chân tánh (chân tâm) thì các pháp hữu vi (vọng) không
thật có, do nhân duyên sanh, cũng như vật huyễn thuật.
Xứng
về chân tánh thì vô vi (chân) cũng không thật có, vì nó không
sanh diệt, như hoa đốm giữa hư không.
Nói
hữu vi là vọng để hiển vô vi kia là chân. Vì đối đãi
nhau mà có, nên “chân” và “vọng” cũng đồng vọng cả.
Đến lý này, còn không thể nói là “chân” hay “phi chân”,
thì làm sao gọi nó là cái “thấy “ (căn) hay cái “bị
thấy” ( ) được. Vì nó như vật huyễn, chẳng có thật
tánh, cũng như hình cây lau gác.
Giải
thoát hay triền phược đồng do sáu căn. Được chứng Thánh
hay đọa làm phàm cũng bởi sáu căn, chớ không có con đường
nào khác. Các ông cứ xem hình cây lau gác kia, nói có hay không
đều không thể được. Hễ mê muội là vô minh, còn giác
ngộ thì giải thoát.
Cột
gút lại hay mở ra, đều phải theo thứ lớp. Khi sáu gút (sáu
căn) mở rồi, thì cái tên một cũng không còn (vì không còn
đối đãi, nên không thể kêu gọi). Các ông lựa được căn
viên thông tu hành, thì mau đặng thành quả Phật.
Thức
A Đà Na (thức thứ tám) rất là tinh tế, các chủng tử trong
thức này nó sanh diệt thật vi tế, như giòng nước chảy
mau. Ta đối với phàm phu và tiểu thừa không hề giảng nói,
vì sợ chúng mê lầm chấp là “chân” hay là “vọng”,
hai cái chấp ấy đều có hại cả.
Tự
nơi tâm các ông, trở lại chấp lấy tự tâm các ông. Chân
tâm không phải huyễn mà trở lại thành hư huyễn. Nếu đối
với cái “chân” mà các ông không sanh tâm chấp thủ; với
cái “chân” kia hãy còn không sanh, huống chi cái “hư huyễn”
làm gì có được.
Đây
là con đường duy nhất của mười phương các Đức Phật
tu hành đến cảnh Niết Bàn. Pháp này tên là Diệu Liên Hoa,
cũng tên Kim Cang Vương bảo giác và cũng tên là Như Huyễn
Tam Ma Đề. Chỉ tu trong giây phút thì được quả vô học.
Khi
đó A Nan và đại chúng nghe Phật nói bài kệ nghĩa lý thâm
trầm, nên tâm trí mỗi người đều được sáng suốt, được
lợi ích chưa từng có.
Chú
Giải.
Ông
A Nan đã mấy lần cầu Phật chỉ dạy phương pháp nào mười
phương các Đức Phật tu hành để được thành đạo chứng
quả. Điều ấy, Phật chỉ dạy đến đây đã tường tận.
Từ
trước đến đây là nói về phần đốn tu và đốn chứng.
Từ đây về sau Phật mới dạy về phần tiệm tu.
V.
Vọng hết thì chân hiện.
-Này
A Nan, tùy ông lựa chọn sáu căn mà tu hành, nếu sự kiết
phược ở nơi căn của ông trừ rồi, thì các trần tướng
kia tự diệt; khi các vọng đã tiêu hết, thì đó là “chân”
chứ gì nữa !
A
Nan, ông hãy xem cái khăn đã cột sáu gút đây, có thể đồng
một thời mở hết sáu gút được không ?
A Nan
thưa :
-Bạch
Thế Tôn, sáu gút tuy đồng một cái khăn, xong khi cột, đã
tuần tự mà cột, thì khi mở cũng phải theo thứ lớp mà
mở, làm sao đồng một thời mở được hết.
Phật
dạy :
-Sáu
căn của ông khi giải trừ cũng phải như vậy. Mở gút đầu
tiên là phá trừ ngã chấp (chấp ta) trước chứng đặng nhân
không. Tiến đến từng thứ hai là phá trừ pháp chấp, sau
mới chứng đặng pháp không. Ngã, pháp đều không sanh, thế
mới gọi là Bồ Tát đặng Vô sanh nhẫn (an nhẫn ở nơi nhân,
pháp đều không sanh).