THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Luận
Giảng Giải Kinh
.

 
TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT HAY LÀ
ĐẠI CƯƠNG KINH LĂNG NGHIÊM
Dịch Giả Thích Thiện Hoa
Giảng tại Phật Học Đường Nam Việt 7-11-1954 (12-10 Giáp-ngọ)
BÀI   THỨ   MƯỜI

I. A Nan thuật lại chỗ mình đã ngộ và thỉnh Phật chỉ dạy phương pháp tu hành để nhập chân tâm.

Ông A Nan và đại chúng được Phật dạy bảo rất tường tất, nên các điều nghi lầm đã trừ hết, ngộ được chân tâm (thật tướng) nhưng chưa biết làm sao chứng nhập, nên các ông cúi đầu lạy Phật, chắp tay kính cẩn thưa rằng:
-Bạch Thế Tôn, Ngài đã dùng đủ phương tiện dẫn dắt chúng con ra khỏi sông mê bể khổ. Hôm nay, chúng con tuy ngộ được chân tâm của mình, biến khắp cả mười phương thế giới, nhưng còn bị Như Lai quở trách học nhiều mà không tu, chẳng bằng người tu tập.

Nay chúng con cũng như người bần cùng vất vả, được vị Thiên Vương ban cho cái nhà lầu tốt đẹp, xong chưa biết làm sao vào nhà. Cúi xin Đức Như Lai chỉ dạy cho chúng con được vào tri kiến Phật (chứng nhập chân Tâm).

II. Phật chỉ dạy phương pháp tu.

Phật dạy A Nan và đại chúng :
-Các ông nên phát tâm Bồ Đề, đối với các pháp môn tu hành chí quyết tăng tấn, tâm không giải đãi, thì khi mới phát tâm trước phải phân biệt rành rõ hai nghĩa quyết định.

III. Nghĩa quyết định thứ nhất.

-Này A Nan ! Các ông muốn bỏ Tiểu Thừa Thanh Văn, tu theo đại thừa Bồ Tát, vào tri kiến của Phật, thì trước phải quan sát cái nhân địa phát tâm cùng với quả vị sẽ chứng là đồng hay khác ?
Nếu các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt làm nhân tu hành, mà mong cầu cho đặng quả Phật thường còn không sanh diệt, thì không thể được. Đây là điều quyết định thứ nhất.

Chú Giải.
Đoạn trước Phật đã dạy : nếu dùng vọng tâm là tu nhân, mà muốn đặng quả thường trụ, thì như người nấu cát muốn cho thành cơm, dầu trải qua bao nhiêu kiếp cũng không được.
Nên phải an trụ nơi chân tâm làm nhân địa tu hành, thì mới đặng quả Phật bất sanh bất diệt.

-A Nan ! Ông hãy xét : trong thế gian những vật gì có làm ra, đều phải hoại diệt, chứ chưa từng nghe cái hư không có hoại diệt bao giờ, vì hư không không phải là vật bị làm ra vậy ( hư không dụ cho chân tâm, các vật là dụ vọng tâm có sanh diệt).

Xét lại trong thân ông, những vật cứng dẻo (da, gân, thịt, xương) là đất, những vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ) là nước, chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa, những vật lưu động (hơi thở ra vào) là thuộc về gió. Do bốn món này nó triền phược và phân chia cái chân tâm của ông, thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thỉ chí chung năm lớp ngầu đục (ngũ trược).

Tỷ dụ như nước đang trong sạch, có người lấy bụi đất quăng vào, thì đất sẽ mất chất cứng, còn nước mất chất trong sạch, trở thành ngầu đục, nên gọi là ô trược.

A Nan ! nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết (các cảm giác) trở lại để hiệp với bốn đức Niết Bàn của Như Lai : thường, lạc, ngã, tịnh, thì trước hết phải lựa ra cái gốc rễ sanh tử (vọng tâm) và y theo chân tâm thanh tịnh viên mãn bất sanh bất diệt làm nhân địa tu hành.

Chú Giải. 
Vì còn ở trong vòng mê nên gọi là thấy, nghe, hay, biết. Đến khi ngộ rồi, thì các cảm giác này trở lại thành bốn đức Niết Bàn : thường, lạc, ngã, tịnh.
Chúng ta cũng nên phân biệt cho rõ nghĩa : 1)Chân tâm, 2)các cảm giác, 3)vọng niệm phân biệt. Như nước biển trong veo, (dụ chân tâm) chảy vào các sông ngòi lẫn lộn bùn đục, (dụ cho chân tâm lưu lộ nơi các căn, thành cảm giác. Đục là dụ còn ở nơi mê) nổi sóng ba đào (dụ cho vọng niệm phân biệt).

-Các ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chân tâm thanh tịnh không sanh diệt; phải lấy chân tâm không sanh diệt này làm nhân địa tu hành, thì sau mới chứng được quả Phật thường trụ.

Cách tu hành cũng như lóng nước. Nước đục để yên tịnh trong một cái bình, để lâu thì những bụi cát từ từ chìm lặn, mà nước trong hiện ra; hễ càng yên tịnh thì nước càng trong. Đây là dụ cho giai đoạn thứ nhất, khi mới hàng phục được phiền não khách trần (phiền não vừa lặng). Đến chừng lọc bỏ cặn đục chỉ còn toàn nước trong, là dụ cho giai đoạn thứ hai, khi đã loại trừ căn bản vô minh.

Đến khi chỉ còn hoàn toàn nước trong, thì dầu lắc cho mấy nó cũng vẫn trong. Còn khi đoạn được căn bản vô minh, chỉ còn chân tâm thanh tịh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu có tạo tác thi vi làm đủ mọi việc, xong cũng đều là chân, vẫn hiệp với đức tánh thanh tịnh mầu nhiệm của Niết bàn, không còn bị phiền não nhiễu loạn.

Chú Giải.
Đoạn này hay lắm; Phật dạy lối tu rất rõ ràng và thật tế. Hiệp với đoạn trước Phật dạy: “Khi đối cảnh không khởi phân biệt, thì vọng niệm chẳng sanh. Vọng niệm không sanh thời chân tâm tự hiện”.
Cũng như nước đứng trong, thì cặn cáu lóng chìm. Lóng càng lâu thì nước càng trong. Đến khi dứt sạch căn bản vô minh, chỉ còn toàn thể chân tâm thì hành động thi vi cũng đều là thanh tịnh. Nên kinh nói : “Như Lai án túc hải ấn phát quang v . v .” (Phật vừa để chân, thì biển trong in ánh sáng). Như nước đã lọc bỏ cặn rồi, thì lắc mấy cũng vẫn trong. Đoạn này cũng chỉ rõ cái nghĩa “thành Phật rồi không trở lại làm chúng sanh”.
Các đạo khác tu hành dẫu cao siêu cho mấy, chẳng qua cũng như nước lóng mà chưa lọc bỏ được cặn. Lâu lâu phiền não nổi lên, thì phải đọa trở lại, nên gọi là hữu lậu (còn sa rớt).

IV. Nghĩa quyết định thứ hai.

-A Nan, các ông phát tâm dõng mãnh, quyết định dẹp trừ các tướng hữu vi, cầu quả đại thừa, thì cần phải xét rõ gốc rễ của phiền não : Từ vô thỉ đến nay, cái nào là phát nghiệp vô minh (bất giác vọng động) cái nào nhuận sanh vô minh (ái, thủ), cái gì tạo (lục thức), cái gì lãnh thọ (bát thức). Đây là nghĩa quyết định thứ hai.

Các ông tu đạo Bồ Đề, nếu không xét rõ gốc rễ của phiền não, thì đối với căn và trần hư vọng này, không thể biết được cái “điên đảo” ở chỗ nào. Cái chỗ ở còn không biết, thời làm sao hàng phục được giặc phiền não, để chứng quả Phật !

Các ông hãy xem trong thế gian, những người mở gút, nếu họ chẳng thấy được mối, thì không mong gì mở được, vì hư không vô hình chẳng có gút mà mở vậy (hư không dụ cho chân tâm).

Ông nên hiểu : hiện tiền sáu căn của ông đây : mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức), đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các ông cùng tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay bị triền phược trong vòng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cõi được.

Chú Giải.
Vì sáu căn làm mai mối, dẫn sanh ra sáu thức là lục tặc, cướp hại chân tánh. Nghĩa là : vì căn đối với cảnh, khởi vọng niệm phân biệt, nên chân tâm phải bị mờ. Cũng như gió xao động, cặn cáu nổi lên, nên tánh nước trong phải ẩn.

V. Vì vọng nổi lên nên chân tâm bị ẩn.

-Này A Nan, sáu căn của ông như vậy, do vô minh vọng động nổi lên, nên chân tâm bị ẩn. Từ đây về sau, mỗi khi chiếu soi thì gồm cả vọng đều phát.

Bởi thế nên rời tối và sáng, thời mắt ông không thấy, rời động và tịnh thì tai ông không nghe, rời thông và nghẹt thì mũi ông không ngửi, rời các vị ra thì lưỡi ông không nếm, rời các xúc trần thì thân ông không biết, rời cả các pháp trần thì ý ông không phân biệt.

VI. Xoay vọng về chân thì sáu căn được tự tại.

-Chỉ sáu căn của ông không theo trần cảnh khởi vọng niệm phân biệt, tùy ông gỡ khằng (vọng nhiễm) được một căn nào thì các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không cùng với trần cảnh khắn chặt, trong thâu phục phiền não trở lại với chân tâm sáng suốt, thì năm căn bị khắn chặt kia, cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ sáu căn tự tại thay nhau cần dùng, các cảm giác thấy, nghe, hay, biết, không còn bị cuộc hạn nơi các căn : mắt, tai, mũi, lưỡi v . v. chỉ nương các căn phát ra tác dụng; không cần có trần cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe, hay, biết.

VII. Dẫn chứng các vị được thấy, nghe, hay, biết tự tại, không còn bị cuộc hạn nơi căn.

-A Nan ! Ông đã thấy trong hội này, như ông A Na Luật Đà không có con mắt mà vẫn thấy. Rồng Bạt Nan Đà không lỗ tai mà vẫn nghe. Thần nữ Căn Dà không lỗ mũi mà ngửi được mùi. Ông Kiều Phạm Bác Đề cái lưỡi không phải lưỡi người, mà biết được các món ăn của người. Ông Thần Thuấn Nhã Đa không có thân mà vẫn biết xúc. Ông Ma Ha Ca Diếp tu diệt tận định, dứt trừ ý căn đã lâu, mà vẫn phân biệt được rõ ràng.

A Nan ! Hiện nay các căn của ông, nếu hoàn toàn gỡ hết cái khắn chặt nơi trần cảnh ( không theo trần cảnh phân biệt), trong chinh phục được phiền não, trở về với chân tâm rồi, thì hiện tiền thân căn và thế giới đây đều không còn; cũng như nước nóng băng tan, ông liền chứng được quả Phật.

A Nan ! Như người thế gian, cái thấy của họ chỉ gom ở con mắt. Nếu bảo họ nhắm mắt lại, thì hiện tiền tối đen, sáu căn mờ mịt, đầu chân in nhau. Người kia lấy tay rờ khắp cả thân thể, tuy mắt họ không thấy, mà cũng vẫn biết đâu là đầu và đâu là chân; cái hiểu biết đồng nhau. (Đây cũng là một bằng chứng; cái cảm giác chẳng bị cuộc hạn nơi căn và trần).

A Nan, nhơn sáng mới thấy, nếu tối thời không thấy. Nay không cần sáng mà cũng thấy biết, như thế thì cái tối kia không thể làm mờ (mất) cái “thấy biết” của ông được. Căn và trần các vọng đã tiêu rồi, thì liền trở lại với chân tánh.

VIII. A Nan nghi : các cảm giác hiện tiền là vọng, tại sao Phật lại dạy y nơi đó làm nhân địa tu hành, mà chứng đặng quả Phật chân thật ?

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, như lời Phật dạy “muốn cầu quả Phật thường còn thì cái nhân địa phát tâm tu hành phải cho chân thật, mới chứng quả vị chân thật”.

Bạch Thế Tôn ! Bồ Đề, Niết Bàn, Chân như, Pháp tánh, Yểm ma la thức, Không như lai tạng và Đại viên cảnh trí, bảy danh từ tuy khác, chớ đồng là quả Phật thanh tịnh thường còn không hoại.

Còn cái thấy, nghe, hay, biết, các cảm giác của con đây, nếu rời các trần cảnh hiện tiền : tối, sáng, động, tịnh v . v . , thời không còn thấy, nghe, hay, biết nữa. Quanh quẩn tới lui, chín chắn suy tìm, thì cái tâm của con hoàn toàn không chân thật. Tại làm sao Phật lại dạy lấy cái hư vọng đoạn diệt này làm nhân tu, để cầu quả Phật thường còn không sanh diệt cho được. Vậy thì lời nói của Phật trước sau trái nhau, làm sao gọi là “Như Lai nói thật”, xin đức Từ Tôn, từ bi vén mở chỗ mê mờ cho chúng con.

IX. Phật bảo đánh chuông để thí nghiệm “tánh nghe” thường còn.

Phật dạy :
-A Nan, ông tuy học rộng nghe nhiều, nhưng các phiền não hữu lậu (mê lầm ) chưa hết, nên ông chỉ biết suông cái tên “điên đảo”. Đến lúc cái “điên đảo” thật hiện tiền, thì ông lại không biết. Như thế thì sự tin hiểu của ông chưa được chắc chắn. Tôi nay đem những việc thường trong đời, để trừ các nghi lầm cho ông.

Khi đó Phật bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông rồi hỏi A Nan rằng :
-Ông có nghe không?

A Nan thưa:
-Nghe.

Đến lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi :
-Ông có nghe không?

A Nan thưa :
-Không nghe.

Phật lại bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông nữa và hỏi :
-Ông có nghe không?

A Nan đáp :
-Nghe.

Phật hỏi :
-Thế nào là nghe và thế nào là không nghe ?

A Nan thưa :
-Vì đánh chuông có tiếng ngân, nên con nghe, đến khi chuông hết ngân thì con không nghe.

Phật dạy :
-A Nan ! Khi tiếng chuông hết ngân, ông nói rằng “không nghe”, nếu ông thật không có “cái nghe” thì ông đồng như cây đá, tại sao khi đánh tiếng chuông thứ hai, ông lại có nghe ?

Vậy cho biết : cái “tiếng” (cảnh) khi có khi không, chớ cái “nghe”  (tâm) của ông lúc nào cũng có. Nếu cái “nghe” của ông thật không, thì cái gì biết được “không nghe” đó ?

Thế nên ông phải biết : cái “tiếng” đối với cái “nghe”, thì cái “tiếng” nó tự sanh và diệt, chớ cái “nghe” (tâm) của ông, không phải vì tiếng sanh mà nó “có”, tiếng “diệt” mà nó “không”. Tại ông điên đảo hôn mê, nhận cái “thường” (tánh nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chớ không phải rời 6 trần cảnh: sắc, thanh, hương v . v . mà các cảm giác thấy, nghe, hay, biết của ông không có.

Chú Giải.
Đây là lần thứ 7, Phật chỉ các cảm giác : thấy, nghe, v. v . là tâm thường còn, rất rõ ràng.

X. Phật chỉ khi ngủ cái “nghe” cũng không mất.

Bằng chứng thứ hai : như người đương ngủ, nằm trên giường chõng, trong nhà có người giã gạo. Khi đó người ngủ kia mơ màng tưởng là tiếng trống, tiếng chuông, đến chừng thức dậy rồi mới nhận rõ đó là tiếng chày giã gạo.

A Nan ! người ngủ kia, mặc dù đối với cảnh vật hiện tiền họ không thấy biết, mà cái “nghe” của họ cũng không mất.

Dù cho thân thể của ông đến khi già chết tiêu tan, mà cái “tánh nghe” này cũng không vì ông già, chết đó mà tiêu diệt. Bởi chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, cứ theo các trần cảnh, khởi vọng niệm phân biệt lăng xăng, chẳng từng ngộ được chân tâm thường còn của mình.

Vì cứ theo vọng niệm phân biệt, chẳng theo chân tâm thường trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong vòng sanh tử. Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với chân tâm thường trụ. Khi chân tâm thanh tịnh sáng suốt hiện tiền rồi, thì căn thân, trần cảnh và vọng thức tức thời tiêu diệt. Cảnh vọng trần và tâm cấu nhiễm đã tiêu rồi, lúc bấy giờ lo gì chẳng thành quả Phật vô thượng.
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx