BÀI
THỨ MƯỜI
I.
A Nan thuật lại chỗ mình đã ngộ và thỉnh Phật chỉ dạy
phương pháp tu hành để nhập chân tâm.
Ông
A Nan và đại chúng được Phật dạy bảo rất tường tất,
nên các điều nghi lầm đã trừ hết, ngộ được chân tâm
(thật tướng) nhưng chưa biết làm sao chứng nhập, nên các
ông cúi đầu lạy Phật, chắp tay kính cẩn thưa rằng:
-Bạch
Thế Tôn, Ngài đã dùng đủ phương tiện dẫn dắt chúng con
ra khỏi sông mê bể khổ. Hôm nay, chúng con tuy ngộ được
chân tâm của mình, biến khắp cả mười phương thế giới,
nhưng còn bị Như Lai quở trách học nhiều mà không tu, chẳng
bằng người tu tập.
Nay
chúng con cũng như người bần cùng vất vả, được vị Thiên
Vương ban cho cái nhà lầu tốt đẹp, xong chưa biết làm sao
vào nhà. Cúi xin Đức Như Lai chỉ dạy cho chúng con được
vào tri kiến Phật (chứng nhập chân Tâm).
II.
Phật chỉ dạy phương pháp tu.
Phật
dạy A Nan và đại chúng :
-Các
ông nên phát tâm Bồ Đề, đối với các pháp môn tu hành
chí quyết tăng tấn, tâm không giải đãi, thì khi mới phát
tâm trước phải phân biệt rành rõ hai nghĩa quyết định.
III.
Nghĩa quyết định thứ nhất.
-Này
A Nan ! Các ông muốn bỏ Tiểu Thừa Thanh Văn, tu theo đại
thừa Bồ Tát, vào tri kiến của Phật, thì trước phải quan
sát cái nhân địa phát tâm cùng với quả vị sẽ chứng là
đồng hay khác ?
Nếu
các ông dùng cái vọng tâm sanh diệt làm nhân tu hành, mà mong
cầu cho đặng quả Phật thường còn không sanh diệt, thì
không thể được. Đây là điều quyết định thứ nhất.
Chú
Giải.
Đoạn
trước Phật đã dạy : nếu dùng vọng tâm là tu nhân, mà
muốn đặng quả thường trụ, thì như người nấu cát muốn
cho thành cơm, dầu trải qua bao nhiêu kiếp cũng không được.
Nên
phải an trụ nơi chân tâm làm nhân địa tu hành, thì mới
đặng quả Phật bất sanh bất diệt.
-A
Nan ! Ông hãy xét : trong thế gian những vật gì có làm ra,
đều phải hoại diệt, chứ chưa từng nghe cái hư không có
hoại diệt bao giờ, vì hư không không phải là vật bị làm
ra vậy ( hư không dụ cho chân tâm, các vật là dụ vọng tâm
có sanh diệt).
Xét
lại trong thân ông, những vật cứng dẻo (da, gân, thịt, xương)
là đất, những vật đượm ướt (máu, huyết, mồ hôi, mỡ)
là nước, chất ấm, nóng trong người thuộc về lửa, những
vật lưu động (hơi thở ra vào) là thuộc về gió. Do bốn
món này nó triền phược và phân chia cái chân tâm của ông,
thành ra có thấy, nghe, hay, biết, từ thỉ chí chung năm lớp
ngầu đục (ngũ trược).
Tỷ
dụ như nước đang trong sạch, có người lấy bụi đất quăng
vào, thì đất sẽ mất chất cứng, còn nước mất chất trong
sạch, trở thành ngầu đục, nên gọi là ô trược.
A Nan
! nay ông muốn cho cái thấy, nghe, hay, biết (các cảm giác)
trở lại để hiệp với bốn đức Niết Bàn của Như Lai
: thường, lạc, ngã, tịnh, thì trước hết phải lựa ra cái
gốc rễ sanh tử (vọng tâm) và y theo chân tâm thanh tịnh viên
mãn bất sanh bất diệt làm nhân địa tu hành.
Chú
Giải.
Vì
còn ở trong vòng mê nên gọi là thấy, nghe, hay, biết. Đến
khi ngộ rồi, thì các cảm giác này trở lại thành bốn đức
Niết Bàn : thường, lạc, ngã, tịnh.
Chúng
ta cũng nên phân biệt cho rõ nghĩa : 1)Chân tâm, 2)các cảm
giác, 3)vọng niệm phân biệt. Như nước biển trong veo, (dụ
chân tâm) chảy vào các sông ngòi lẫn lộn bùn đục, (dụ
cho chân tâm lưu lộ nơi các căn, thành cảm giác. Đục là
dụ còn ở nơi mê) nổi sóng ba đào (dụ cho vọng niệm phân
biệt).
-Các
ông hãy xoay cái hư vọng sanh diệt trở lại chân tâm thanh
tịnh không sanh diệt; phải lấy chân tâm không sanh diệt này
làm nhân địa tu hành, thì sau mới chứng được quả Phật
thường trụ.
Cách
tu hành cũng như lóng nước. Nước đục để yên tịnh trong
một cái bình, để lâu thì những bụi cát từ từ chìm lặn,
mà nước trong hiện ra; hễ càng yên tịnh thì nước càng
trong. Đây là dụ cho giai đoạn thứ nhất, khi mới hàng phục
được phiền não khách trần (phiền não vừa lặng). Đến
chừng lọc bỏ cặn đục chỉ còn toàn nước trong, là dụ
cho giai đoạn thứ hai, khi đã loại trừ căn bản vô minh.
Đến
khi chỉ còn hoàn toàn nước trong, thì dầu lắc cho mấy nó
cũng vẫn trong. Còn khi đoạn được căn bản vô minh, chỉ
còn chân tâm thanh tịh hiện tiền, lúc bấy giờ dầu có tạo
tác thi vi làm đủ mọi việc, xong cũng đều là chân, vẫn
hiệp với đức tánh thanh tịnh mầu nhiệm của Niết bàn,
không còn bị phiền não nhiễu loạn.
Chú
Giải.
Đoạn
này hay lắm; Phật dạy lối tu rất rõ ràng và thật tế.
Hiệp với đoạn trước Phật dạy: “Khi đối cảnh không
khởi phân biệt, thì vọng niệm chẳng sanh. Vọng niệm không
sanh thời chân tâm tự hiện”.
Cũng
như nước đứng trong, thì cặn cáu lóng chìm. Lóng càng lâu
thì nước càng trong. Đến khi dứt sạch căn bản vô minh,
chỉ còn toàn thể chân tâm thì hành động thi vi cũng đều
là thanh tịnh. Nên kinh nói : “Như Lai án túc hải ấn phát
quang v . v .” (Phật vừa để chân, thì biển trong in ánh sáng).
Như nước đã lọc bỏ cặn rồi, thì lắc mấy cũng vẫn
trong. Đoạn này cũng chỉ rõ cái nghĩa “thành Phật rồi
không trở lại làm chúng sanh”.
Các
đạo khác tu hành dẫu cao siêu cho mấy, chẳng qua cũng như
nước lóng mà chưa lọc bỏ được cặn. Lâu lâu phiền não
nổi lên, thì phải đọa trở lại, nên gọi là hữu lậu
(còn sa rớt).
IV.
Nghĩa quyết định thứ hai.
-A
Nan, các ông phát tâm dõng mãnh, quyết định dẹp trừ các
tướng hữu vi, cầu quả đại thừa, thì cần phải xét rõ
gốc rễ của phiền não : Từ vô thỉ đến nay, cái nào là
phát nghiệp vô minh (bất giác vọng động) cái nào nhuận
sanh vô minh (ái, thủ), cái gì tạo (lục thức), cái gì lãnh
thọ (bát thức). Đây là nghĩa quyết định thứ hai.
Các
ông tu đạo Bồ Đề, nếu không xét rõ gốc rễ của phiền
não, thì đối với căn và trần hư vọng này, không thể biết
được cái “điên đảo” ở chỗ nào. Cái chỗ ở còn không
biết, thời làm sao hàng phục được giặc phiền não, để
chứng quả Phật !
Các
ông hãy xem trong thế gian, những người mở gút, nếu họ
chẳng thấy được mối, thì không mong gì mở được, vì
hư không vô hình chẳng có gút mà mở vậy (hư không dụ cho
chân tâm).
Ông
nên hiểu : hiện tiền sáu căn của ông đây : mắt, tai, mũi,
lưỡi, thân, ý chúng làm mai mối cho sáu giặc (sáu thức),
đến cướp giựt của báu nhà ông. Bởi thế nên các ông
cùng tất cả chúng sanh, từ vô thỉ đến nay bị triền phược
trong vòng luân hồi, không vượt ra ngoài ba cõi được.
Chú
Giải.
Vì
sáu căn làm mai mối, dẫn sanh ra sáu thức là lục tặc, cướp
hại chân tánh. Nghĩa là : vì căn đối với cảnh, khởi vọng
niệm phân biệt, nên chân tâm phải bị mờ. Cũng như gió
xao động, cặn cáu nổi lên, nên tánh nước trong phải ẩn.
V.
Vì vọng nổi lên nên chân tâm bị ẩn.
-Này
A Nan, sáu căn của ông như vậy, do vô minh vọng động nổi
lên, nên chân tâm bị ẩn. Từ đây về sau, mỗi khi chiếu
soi thì gồm cả vọng đều phát.
Bởi
thế nên rời tối và sáng, thời mắt ông không thấy, rời
động và tịnh thì tai ông không nghe, rời thông và nghẹt
thì mũi ông không ngửi, rời các vị ra thì lưỡi ông không
nếm, rời các xúc trần thì thân ông không biết, rời cả
các pháp trần thì ý ông không phân biệt.
VI.
Xoay vọng về chân thì sáu căn được tự tại.
-Chỉ
sáu căn của ông không theo trần cảnh khởi vọng niệm phân
biệt, tùy ông gỡ khằng (vọng nhiễm) được một căn nào
thì các căn đều được giải thoát. Nghĩa là ngoài không
cùng với trần cảnh khắn chặt, trong thâu phục phiền não
trở lại với chân tâm sáng suốt, thì năm căn bị khắn chặt
kia, cũng đều được hoàn toàn giải thoát. Lúc bấy giờ
sáu căn tự tại thay nhau cần dùng, các cảm giác thấy, nghe,
hay, biết, không còn bị cuộc hạn nơi các căn : mắt, tai,
mũi, lưỡi v . v. chỉ nương các căn phát ra tác dụng; không
cần có trần cảnh đối chiếu mà cũng vẫn thấy, nghe, hay,
biết.
VII.
Dẫn chứng các vị được thấy, nghe, hay, biết tự tại,
không còn bị cuộc hạn nơi căn.
-A
Nan ! Ông đã thấy trong hội này, như ông A Na Luật Đà không
có con mắt mà vẫn thấy. Rồng Bạt Nan Đà không lỗ tai mà
vẫn nghe. Thần nữ Căn Dà không lỗ mũi mà ngửi được mùi.
Ông Kiều Phạm Bác Đề cái lưỡi không phải lưỡi người,
mà biết được các món ăn của người. Ông Thần Thuấn Nhã
Đa không có thân mà vẫn biết xúc. Ông Ma Ha Ca Diếp tu diệt
tận định, dứt trừ ý căn đã lâu, mà vẫn phân biệt được
rõ ràng.
A Nan
! Hiện nay các căn của ông, nếu hoàn toàn gỡ hết cái khắn
chặt nơi trần cảnh ( không theo trần cảnh phân biệt), trong
chinh phục được phiền não, trở về với chân tâm rồi,
thì hiện tiền thân căn và thế giới đây đều không còn;
cũng như nước nóng băng tan, ông liền chứng được quả
Phật.
A Nan
! Như người thế gian, cái thấy của họ chỉ gom ở con mắt.
Nếu bảo họ nhắm mắt lại, thì hiện tiền tối đen, sáu
căn mờ mịt, đầu chân in nhau. Người kia lấy tay rờ khắp
cả thân thể, tuy mắt họ không thấy, mà cũng vẫn biết
đâu là đầu và đâu là chân; cái hiểu biết đồng nhau.
(Đây cũng là một bằng chứng; cái cảm giác chẳng bị cuộc
hạn nơi căn và trần).
A Nan,
nhơn sáng mới thấy, nếu tối thời không thấy. Nay không
cần sáng mà cũng thấy biết, như thế thì cái tối kia không
thể làm mờ (mất) cái “thấy biết” của ông được. Căn
và trần các vọng đã tiêu rồi, thì liền trở lại với
chân tánh.
VIII.
A Nan nghi : các cảm giác hiện tiền là vọng, tại sao Phật
lại dạy y nơi đó làm nhân địa tu hành, mà chứng đặng
quả Phật chân thật ?
A Nan
thưa :
-Bạch
Thế Tôn, như lời Phật dạy “muốn cầu quả Phật thường
còn thì cái nhân địa phát tâm tu hành phải cho chân thật,
mới chứng quả vị chân thật”.
Bạch
Thế Tôn ! Bồ Đề, Niết Bàn, Chân như, Pháp tánh, Yểm ma
la thức, Không như lai tạng và Đại viên cảnh trí, bảy danh
từ tuy khác, chớ đồng là quả Phật thanh tịnh thường còn
không hoại.
Còn
cái thấy, nghe, hay, biết, các cảm giác của con đây, nếu
rời các trần cảnh hiện tiền : tối, sáng, động, tịnh
v . v . , thời không còn thấy, nghe, hay, biết nữa. Quanh quẩn
tới lui, chín chắn suy tìm, thì cái tâm của con hoàn toàn
không chân thật. Tại làm sao Phật lại dạy lấy cái hư vọng
đoạn diệt này làm nhân tu, để cầu quả Phật thường còn
không sanh diệt cho được. Vậy thì lời nói của Phật trước
sau trái nhau, làm sao gọi là “Như Lai nói thật”, xin đức
Từ Tôn, từ bi vén mở chỗ mê mờ cho chúng con.
IX.
Phật bảo đánh chuông để thí nghiệm “tánh nghe” thường
còn.
Phật
dạy :
-A
Nan, ông tuy học rộng nghe nhiều, nhưng các phiền não hữu
lậu (mê lầm ) chưa hết, nên ông chỉ biết suông cái tên
“điên đảo”. Đến lúc cái “điên đảo” thật hiện
tiền, thì ông lại không biết. Như thế thì sự tin hiểu
của ông chưa được chắc chắn. Tôi nay đem những việc thường
trong đời, để trừ các nghi lầm cho ông.
Khi
đó Phật bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông rồi hỏi
A Nan rằng :
-Ông
có nghe không?
A Nan
thưa:
-Nghe.
Đến
lúc chuông hết ngân, Phật lại hỏi :
-Ông
có nghe không?
A Nan
thưa :
-Không
nghe.
Phật
lại bảo ông La Hầu La đánh một tiếng chuông nữa và hỏi
:
-Ông
có nghe không?
A Nan
đáp :
-Nghe.
Phật
hỏi :
-Thế
nào là nghe và thế nào là không nghe ?
A Nan
thưa :
-Vì
đánh chuông có tiếng ngân, nên con nghe, đến khi chuông hết
ngân thì con không nghe.
Phật
dạy :
-A
Nan ! Khi tiếng chuông hết ngân, ông nói rằng “không nghe”,
nếu ông thật không có “cái nghe” thì ông đồng như cây
đá, tại sao khi đánh tiếng chuông thứ hai, ông lại có nghe
?
Vậy
cho biết : cái “tiếng” (cảnh) khi có khi không, chớ cái
“nghe” (tâm) của ông lúc nào cũng có. Nếu cái “nghe”
của ông thật không, thì cái gì biết được “không nghe”
đó ?
Thế
nên ông phải biết : cái “tiếng” đối với cái “nghe”,
thì cái “tiếng” nó tự sanh và diệt, chớ cái “nghe”
(tâm) của ông, không phải vì tiếng sanh mà nó “có”, tiếng
“diệt” mà nó “không”. Tại ông điên đảo hôn mê, nhận
cái “thường” (tánh nghe) làm đoạn diệt (tiếng), chớ
không phải rời 6 trần cảnh: sắc, thanh, hương v . v . mà
các cảm giác thấy, nghe, hay, biết của ông không có.
Chú
Giải.
Đây
là lần thứ 7, Phật chỉ các cảm giác : thấy, nghe, v. v .
là tâm thường còn, rất rõ ràng.
X.
Phật chỉ khi ngủ cái “nghe” cũng không mất.
Bằng
chứng thứ hai : như người đương ngủ, nằm trên giường
chõng, trong nhà có người giã gạo. Khi đó người ngủ kia
mơ màng tưởng là tiếng trống, tiếng chuông, đến chừng
thức dậy rồi mới nhận rõ đó là tiếng chày giã gạo.
A Nan
! người ngủ kia, mặc dù đối với cảnh vật hiện tiền
họ không thấy biết, mà cái “nghe” của họ cũng không
mất.
Dù
cho thân thể của ông đến khi già chết tiêu tan, mà cái “tánh
nghe” này cũng không vì ông già, chết đó mà tiêu diệt.
Bởi chúng sanh từ vô thỉ đến giờ, cứ theo các trần cảnh,
khởi vọng niệm phân biệt lăng xăng, chẳng từng ngộ được
chân tâm thường còn của mình.
Vì
cứ theo vọng niệm phân biệt, chẳng theo chân tâm thường
trụ, cho nên đời đời nhiễm ô, trôi lăn trong vòng sanh tử.
Vậy các ông phải bỏ cái vọng niệm sanh diệt, theo về với
chân tâm thường trụ. Khi chân tâm thanh tịnh sáng suốt hiện
tiền rồi, thì căn thân, trần cảnh và vọng thức tức thời
tiêu diệt. Cảnh vọng trần và tâm cấu nhiễm đã tiêu rồi,
lúc bấy giờ lo gì chẳng thành quả Phật vô thượng.