BÀI
THỨ CHÍN
I.
Phật dạy : chân tâm phi tất cả tướng.
Phật
dạy :
-Chân
tâm này phi tâm (thức) phi đất, nước, gió, lửa, và phi hư
không.
(Đoạn
này nói : chân tâm phi ngũ uẩn. Thọ, tưởng, hành, thức thuộc
về tâm; còn đất, nước, gió, lửa thuộc về sắc).
Nó
phi nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; phi sắc, thanh, hương, vị,
xúc, pháp; phi nhãn thức giới cho đến phi ý thức giới.
(Đoạn
này nói : chân tâm phi lục nhập, thập nhị xứ và thập bát
giới. Nói ấm, giới, nhập tức là nói phi cảnh giới lục
phàm).
Chân
tâm phi minh vô minh và minh vô minh tận, cho đến phi lão tử
và phi lão tử tận.
(Đoạn
này nói : phi 12 nhân duyên, cả lưu chuyển và hoàn diệt, cảnh
giới của Duyên giác).
Phi
khổ, tập, diệt, đạo; phi trí và phi đắc.
(Đây
là phi Tứ đế, cảnh giới của Thanh Văn).
Phi
bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định và
trí huệ.
(Đây
là nói phi lục độ, cảnh giới của Bồ tát.)
Cho
đến phi Như Lai, Ứng cúng, Chánh biến tri, . . . (mười hiệu)
phi Đại Niết Bàn và phi bốn đức của Niết Bàn : thường,
lạc, ngã, tịnh.
(Đoạn
này là nói : phi cảnh giới Phật. Từ Thanh văn, Duyên giác,
Bồ tát, và Phật gọi là tứ thánh).
Tóm
lại, chân tâm phi tất cả các pháp thế gian (6 cõi phàm) và
xuất thế gian (4 quả Thánh ) vậy.
Chú
Giải.
Đã
là chân tâm thì không còn vọng. Vì không còn vọng nên không
có đối đãi; ngộ mê, thánh phàm, chúng sanh và Phật, hữu
vi hay vô vi v . v . vì nó tuyệt tánh, ly tướng.
II.
Phật dạy chân tâm tức tất cả các pháp.
Phật
dạy :
-Chân
tâm này, cũng tức tất cả pháp, tức là tâm, tức là đất,
nước, gió, lửa và hư không; tức là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt,
thân, ý; tức là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; tức là
nhãn thức giới cho đến ý thức giới; tức Tứ đế, tức
Thập nhị nhân duyên, tức Lục độ, tức là Phật và bốn
đức Niết Bàn. Nói chung lại, chân tâm tức là các pháp ở
thế gian và xuất thế gian.
Chú
Giải.
Tâm
đã sanh ra tất cả pháp, thì tâm là tất cả pháp. Cũng như
bột đã làm ra các thứ bánh, thì bột đó tức là bánh.
III.
Đến một từng nữa là chân tâm không thể nói “phi” và
“tức”.
-Phú
Lâu Na, cái chân tâm này lại rời tất cả “tức” và “phi”,
mà cũng là “tức” và “phi tức”.
Chân
tâm như thế thì từ kẻ phàm phu cho đến các vị Thánh :
Thanh Văn, Duyên Giác, làm sao lấy tâm trí suy nghĩ cho đến
đạo vô thượng Bồ Đề của Như Lai, hay dùng lời nói luận
bàn của thế gian mà ngộ nhập chỗ tri kiến của Phật cho
được ?
Chú Giải.
Đây
là chỗ tuyệt đối, không thể nói năng, suy nghĩ và kêu gọi
là gì được. Túng cùng chỉ gọi chân tâm thôi. Bởi thế
nên Phật đóng cửa thất tại nước Ma Kiệt. Ông Duy Ma ngậm
miệng ở thành Tỳ Gia, cũng vì cái lý đạo cao siêu và nhiệm
mầu quá, không thể nói ra được vậy.
IV.Phật
lấy cây đàn tỷ dụ.
Tỷ
dụ như cây đàn cầm hay đàn Tỳ Bà v . v . tuy sẵn có tiếng
hay, nhưng phải nhờ ngón tay hay của người biết khảy (nhạc
sĩ) mới có thể phát ra tiếng hay được.
Chú
Giải.
Thí
dụ này rõ ràng và thật tế lắm. Nguời đàn hay khảy ra
tiếng hay, người đàn vừa khảy ra tiếng vừa, nguời đàn
dở khảy ra tiếng dở, xong đều có tiếng cả. Dụ cho chân
tâm của chúng ta tùy duyên biến hiện các pháp; nếu khéo
dùng thì hiện ra Phật, còn vừa vừa thì thành Bồ Tát, Thanh
Văn, vụng lắm thì thành tam đồ lục đạo, đều có biến
hiện cả.
Ta
cùng với các ông cũng đồng một bản thể chân tâm thanh
tịnh này và viên mãn khắp giáp tất cả. Xong ta làm việc
gì và lúc nào cũng đều chân cả. Còn các ông tâm vừa móng
lên, thì phiền não trần lao đã khởi trước.
Bởi
các ông không siêng năng cầu đạo vô thượng, chỉ ưa mến
quả Tiểu thừa, mới vừa chứng đặng chút ít thì cho lả
đầy đủ.
V.
Ông Phú Lâu Na hỏi Phật : Chân tâm nhân đâu có vọng.
Ông
Phú Lâu Na thưa :
-Bạch
Thế Tôn, con cùng với Phật đã đồng một chân tâm viên
mãn không khác. Nhưng con bị vọng tưởng từ vô thỉ, nên
nhiều kiếp phải chịu sanh tử luân hồi, nay tuy chứng đặng
quả Thánh, mà chưa cứu cánh (còn ở về Tiểu thừa).
Còn
đức Thế Tôn thì tất cả các vọng đã hoàn toàn diệt,
Ngài đã chứng chân tâm thường trụ rồi, được tự tại
giải thoát. Vậy xin dám hỏi đức Thế Tôn : Tất cả chúng
sanh vì sao có vọng, tự che lấy chân tâm mà phải chịu trầm
luân.
VI.
Phật dạy : Đã là vọng thì không có sở nhân, như ông Diễn
Nhã Đạt Đa.
Phật
dạy :
-Này
Phú Lâu Na, ông tuy trừ nghi, mà các mê lầm chưa hết. Tôi
nay dùng việc thật tế và hiện tiền trong thế gian để chỉ
dạy ông : Vừa rồi đây, ông có nghe câu chuyện chàng Diễn
Nhã Đạt Đa tại thành Thất La không ? Một buổi sáng nọ
chàng lấy gương soi mặt, thấy cái đầu trong gương (bóng)
có mặt mày đáng thương. Chàng trở lại giận trách “cái
đầu thiệt của mình đây sao không thấy được mặt mày
của mình; hay là ma quỷ?” Rồi bỗng nhiên chàng nổi cuồng
vùng chạy . . . Theo ý ông, người này nhân cái gì
mà bỗng nhiên nổi cuồng vụt chạy ?
Ông
Phú Lâu Na thưa :
-Người
ấy tự tâm họ cuồng, chớ không có nhân cái chi cả ?
Phật
dạy :
-Cũng
vậy đó ông Phú Lâu Na. Đã nói là “vọng” thì đâu có
sở nhân, còn có sở nhân thì không phải là vọng. Các vọng
tưởng tự nó nhân nhau liên tiếp phát sanh; từ đời này
đã mê rồi chứa chất thêm cái mê, cho đến nhiều kiếp.
Ta đã nhiều lần chỉ dạy, mà các ông còn chưa ngộ trở
lại.
Này
Phú Lâu Na, cái “mê” như vậy đó, nhân mê tự có. Nếu
người biết được cái “mê” ấy không nguyên nhân, thì
cái “mê vọng” đó không gá nương vào đâu nữa. Lúc bấy
giờ dầu muốn cho nó sanh còn không thể được, huống chi
muốn diệt.
Các
ông nên biết : người đặng đạo Bồ Đề rồi (ngộ chân
tâm), cũng như người thức giấc mộng, mà muốn nói lại
việc chiêm bao; mặc dầu trong tâm nhớ biết rõ ràng, nhưng
không làm sao chỉ các vật trong chiêm bao ra được, vì nó
không thật có, vả lại nó cũng không có nguyên nhân nữa.
Cũng như chàng Diễn Nhã Đạt Đa, tự sợ cái đầu của mình,
rồi nổi cuồng vụt chạy, chớ không có sở nhân gì cả.
Nếu
cái “cuồng” kia thoạt nhiên hết, thì cái “đầu” vẫn
y nguyên. Dầu cho khi chưa hết cuồng thì cái đầu ấy cũng
không mất. Này Phú Lâu Na, các “mê vọng” như vậy đó,
chớ có nhân cái gì đâu !
Chú
Giải.
Cái
đầu là dụ cho “chân tâm”. Tự nổi cuồng là dụ cho các
“vọng tưởng” tự sanh.. hết cuồng rồi thì cái đầu
vẫn y nguyên, dầu đương cuồng cái đầu cũng không mất,
là dụ cho ngộ rồi chân tâm tự hiện, dầu chưa ngộ chân
tâm cũng không mất.
VII.
Nếu các vọng duyên dứt, tâm cuồng vọng tiêu thì chân tâm
hiện bày.
-Này
Phú Lâu Na, các ông khi đối với trần cảnh (thế giới, chúng
sanh, nghiệp quả) chỉ đừng khởi vọng niệm phân biệt,
thì tham, sân, si (ba duyên) không khởi. Ba duyên không khởi,
thì ba nhân sát, đạo, dâm chẳng sanh. Lúc bấy giờ anh khùng
Diễn Nhã Đạt Đa (mê) ở trong tâm các ông tự hết, mà hết
tức là Bồ Đề (sáng suốt). Khi ấy chân tâm của ông thanh
tịnh sáng suốt tự hiện bày, khắp cả pháp giới, không
cần phải cực nhọc, khó khăn tu chứng, hay xin cầu nơi ai
cả.
Chú
Giải.
Bởi
đối cảnh khởi tâm phân biệt, nên sanh ra tham, sân, si. Vì
tham, sân, si mới có sát, đạo, dâm . . . Do
sát, đạo, dâm nên phải chịu sanh tử luân hồi.
Tỷ
dụ như người khi đối với nữ sắc v . v . chỉ thấy qua
không khởi vọng niệm phân biệt thì chẳng có hại chi. Đến
lúc khởi tâm phân biệt đây là xấu, thì tâm ghét giận nổi
lên. Còn phân biệt kia là đẹp, thì tâm tham muốn sanh ra.
Tham, sân đã sanh, thì si cũng theo đó mà khởi.
Còn
khi đối cảnh, mà tâm không khởi phân biệt thời vọng niệm
chẳng sanh, vọng niệm không sanh, thì chân tâm tự hiện. Thật
là một pháp tu trực chỉ mau thành Phật nhất, mà cũng là
khó nhất. Chúng ta suốt đời chỉ tu theo bốn chữ Phật đã
dạy “Bất tùy phân biệt” (đối cảnh không khởi phân
biệt) cũng chưa chắc đã tu xong.
Tỷ
như người ở trong túi áo, có sẵn hột châu như ý, nhưng
không hay biết, nên chịu nghèo hèn vất vả phải đi làm thuê
mướn ở các phương xa, kiếm ăn qua ngày tháng. Xong hột châu
ấy không mất. Đến khi gặp người tri thức (quen) chỉ cho
biết : “Anh đã sẵn có hột châu vô giá trong túi áo kia”.
Lúc bấy giờ anh muốn gì được nấy, giàu có vô cùng. Chừng
ấy anh mới hối ngộ rằng : hột thần châu này chính mình
sẵn có, không phải do nơi người mà được.
Chú
Giải.
Lời
tỷ dụ này rất hay. Phật chỉ rõ chúng sanh đều sẵn có
Phật tánh (chân tâm). Nhưng vì không ngộ được, nên phải
nhiều kiếp làm chúng sanh khổ sở, mà Phật tánh thì vẫn
không mất. Đến khi ngộ được chân tâm, chứng thành Phật
quả, phước trí đầy đủ rồi, mới biết rằng : chân tâm
này chính mình sẵn có, không phải do nơi người mà được.
VIII.
A Nan nghi : “Tâm Bồ Đề do nhân duyên sanh”.
Khi
đó A Nan đứng dậy lạy Phật, chắp tay bạch rằng :
-Đức
Thế Tôn nói : “Ba duyên tham, sân, si dứt rồi, thời ba nhân
sát, đạo, dâm không sanh. Lúc bấy giờ anh khùng Diễn Nhã
Đạt Đa trong tâm ông tự hết, mà hết tức là Bồ Đề,
không phải do nơi người mà đặng”.
Bạch
thế Tôn như thế thì tâm Bồ đề rõ ràng là do nhân duyên
sanh rồi. Tại sao đức Như Lai lại bác thuyết nhân duyên
sanh ?
Không
những chúng con là hàng Thanh Văn tuổi trẻ hữu học, do nhân
duyên mà tâm được khai ngộ; chính như trong hội này, những
vị đã đặng vô lậu, như ông đại Mục Kiền Liên, ông
Xá lợi Phất và Tu Bồ Đề từ giòng Phạm chí ngoại đạo,
cũng do nghe Phật nói nhân duyên, mà tâm được khai ngộ.
Nay
Phật nói : “Tâm Bồ Đề không từ nơi nhân duyên sanh”,
như thế thì chúng ngoại đạo Câu Xá Ly kia nói về thuyết
“tự nhiên’ cũng thành đúng lý hay sao ? Xin Phật duỗi lòng
từ bi, vạch mở chỗ mê mờ cho chúng con.
Chú
Giải.
Ông
A Nan trước đã nghi nhân duyên và tự nhiên đều bị Phật
phá rồi, nay ông lại còn nghi nhân duyên và tự nhiên nữa.
Bởi vì lưới nghi chồng chập nhiều đời, vả lại hàng
Thanh Văn pháp chấp khó trừ. Cũng như cây chuối, lột được
bẹ này, lại bày ra bẹ khác. Lột cho hết bẹ thì lõm chuối
mới bày. Phá nghi cho hết, thì “chân tâm” mới hiện.
IX.
Phật định nghĩa chữ nhân duyên tự nhiên và bác.
Phật
dạy rằng :
-
Này A Nan, như chàng Diễn Nhã Đạt Đa kia, vì nhân duyên soi
gương, cho nên chàng mới sanh ra cuồng. Đến khi hết cuồng
thì tánh không cuồng (tỉnh) tự nhiên sanh ra; có phải cái
lý nhân duyên và tự nhiên cùng tột như thế chăng ?
Này
A Nan, chàng Diễn Nhã Đạt Đa kia, nếu cái đầu của chàng
đã là tự nhiên, thì lúc nào cũng vẫn tự nhiên, vậy do
nhân duyên gì nổi cuồng sợ chạy ?
Nếu
cái đầu là tự nhiên, vì nhân duyên soi gương cho nên mới
cuồng, vậy cái đầu cũng vẫn tự nhiên, sao chẳng vì nhân
duyên soi gương mà mất đi. Phải biết : Cái đầu vẫn không
biến đổi hay mất đi, còn “cuồng sợ” tự nó vọng sanh.
Vậy thì cần gì phải có nhân duyên soi gương mới sanh ra
cuồng ?
Chú
Giải.
Đoạn
này ý nói : Nếu nói “chân tâm tự nhiên”, thì lúc nào
nó cũng vẫn tự nhiên, vậy do nhân duyên gì mà nổi vọng.
Nếu nói “do nhân duyên nên nổi vọng” sao chẳng do nhân
duyên mà chân tâm kia mất. Vậy thì biết, chân tâm không biến
đổi, cái “cuồng vọng” tự nó vọng sanh, không cần gì
phải có nhân duyên.
-Còn
nói “cái cuồng đó tự nhiên sẵn có”, vậy thì khi chưa
cuồng nó núp ở chỗ nào ?
Cái
đầu đã tự nhiên không có cuồng vọng, vậy vì sao nổi
cuồng vụt chạy?
Nếu
như người ngộ được “cái đầu mình sẵn có”, biết
được cái “cuồng” tự nó vọng sanh, thì thuyết nhân duyên
và tự nhiên đều là nói chơi cả.
X.
Phật phá chấp nhân duyên để dẫn vào “vô công dụng”.
-Thế
nên ta nói :”Ba duyên :Tham, Sân, Si đoạn hết, tức là tâm
Bồ Đề”. Nếu cái “vọng tâm sanh diệt kia diệt, mà tâm
Bồ Đề sanh”, như thế cũng còn ở trong vòng sanh diệt.
Phải diệt và sanh đều hết, mới được vô công dụng đạo
(Chỗ cứu cánh).
Chú
Giải.
Đoạn
này Phật phá chấp nhân duyên để dẫn nhập đạo vô công
dụng.
XI.
Phật phá chấp tự nhiên để thành vô hí luận.
-Nếu
ông chấp “vọng tâm sanh diệt kia diệt rồi, thì tâm Bồ
Đề tự nhiên sanh”, như thế cũng còn ở trong vòng sanh diệt,
chưa phải thật là tự nhiên. Phải không còn sanh và diệt,
mới thật là tự nhiên.
Ông
nên hiểu thêm : không phải tự nhiên sanh, không phải nhân
duyên hòa hợp khởi; ly (rời) cả tự nhiên và nhân duyên
hòa hợp, mà cái “ly” đó cũng không còn nữa, như thế
mới phải là chỗ rốt ráo (vô hý luận).
Chú
Giải.
Đoạn
này Phật chỉ đến chỗ cứu cánh tuyệt đối, nếu còn nói
năng phân biệt, thì chưa phải là tuyệt đối.
XII.
Phật quở ông A Nan học nhiều không tu,. Thì chẳng có lợi
ích gì.
-A
Nan ! Ông đối với quả Bồ Đề Niết Bàn của Phật hãy
còn cách xa lắm ! Nếu ông không siêng năng, trải qua nhiều
kiếp chịu cực nhọc tu hành, thì dầu cho ông có nhớ
hết nghĩa lý nhiệm mầu trong mười hai bộ kinh của mười
phương các Đức Phật, nhiều như số cát sông Hằng cũng
chỉ giúp thêm cho ông việc nói giỏi mà thôi, chớ không lợi
chi cho ông cả.
Ông
nay luận bàn về thuyết nhân duyên và tự nhiên rất là thông
suốt. người đời khen ông là bậc học rộng nghe nhiều.
Nếu trong nhiều kiếp ông chỉ chứa chất cái học suông này
mà không tu, thì không bao giờ khỏi được cái nạn Ma Đăng
Dà kia vậy.
Nếu
cái học và nghe suông của ông đó có lợi, thì cần gì phải
chờ đến thần chú Lăng Nghiêm của ta, để làm cho nàng Ma
Đăng Dà kia nguồn tình khô cạn, lửa dục tiêu tan, lại tinh
tấn tu hành, trong đạo pháp của ta, nàng chứng được quả
Thánh thứ ba (A Na Hàm). Khi đó ông mới được giải thoát.
XIII.
So sánh để khuyến khích tu hành.
-A
Nan ! Ông tuy nhiều kiếp ghi nhớ các nghĩa lý nhiệm mầu của
Như Lai, nhưng không bằng một ngày tu tập nghiệp vô lậu
xa lìa hai cái khổ thương ghét (tham, sân) ở thế gian.
Bằng
chứng rõ ràng, như nàng Ma Đăng Dà nguyên trước kia là kẻ
dâm nữ do nhờ thần chú của ta, mà nguồn tình khô cạn,
lửa dục tiêu ma, lại xuất gia tu hành làm Tỳ kheo ni.
Còn
bà Gia Du Đà La là mẹ của La Hầu La, vì biết được nhân
đời trước, do tham ái mà nhiều đời phải chịu khổ, nên
một niệm tu theo nghiệp lành vô lậu, mà ra khỏi tình ái
ân triền phược và đặng thọ ký.
Kẻ
phụ nhân tu hành còn được như thế, huống chi các ông là
nam tử, đã học rộng nghe nhiều, mà trở lại chấp chỗ
thấy, nghe suông, chẳng biết tiến tu, sao tự khinh mình đến
thế !
Chú
Giải.
Đoạn
này Phật quở trách rất là thống thiết ! Nếu chỉ học
nhiều mà không tu, thì chẳng có ích lợi gì. Chúng ta đọc
đoạn này chớ nên nghĩ : “Phật chỉ quở một mình ông
A Nan” mà phải biết rằng chính là Ngài quở trách chung tất
cả chúng ta vậy.
Lưu
Ý.-Từ trước đến đây, Phật nói về phần lý, từ đây
về sau Phật mới chỉ về đường lối tu hành.