BÀI
THỨ TÁM
I.
Ông Phú Lâu Nan hỏi Phật hai câu quan trọng.
Lúc
bấy giờ ông Phú Lâu Na Di Đa La Ni Tử đứng dậy lạy Phật,
chắp tay cung kính và thưa rằng :
-Bạch
Thế Tôn, trong hàng tứ chúng, Phật thường khen con thuyết
pháp hơn hết; ở trong hội này con lại được chứng quả
Vô lậu. Thế mà hôm nay nghe Phật nói phép nhiệm mầu cao
thượng, hãy còn chưa hiểu. Cũng như người điếc đứng
xa một trăm bước nghe tiếng muỗi kêu; thấy còn không được,
huống chi lại nghe.
Bạch
Thế Tôn :
1-
Chân tâm này đã vốn thanh thịnh, tại sao lại thoạt sanh
ra sơn hà đại địa và các chúng sanh ?
2-
Lại nữa, Phật nói “đất, nước, gió, lửa tánh nó vắng
lặng thường còn, viên dung khắp giáp pháp giới” Bạch Thế
Tôn, nếu nước khắp tất cả, thì lửa phải tắt, còn lửa
biến khắp thời nước phải khô, tánh lửa thì nóng, nước
lại lạnh, hai thứ trái nhau, tại sao đồng cùng khắp cả
hư không, mà nó không diệt nhau ? Lại nữa, đất thì có hình
chất, còn hư không lại trống, tại sao hai thứ đều khắp
giáp cả pháp giới, mà không có chướng ngại nhau ? Cúi xin
Đức Như Lai vén mở mây mờ cho chúng con.
Thưa
hỏi xong, ông Phú Lâu Na kính cẩn trở lui, để chờ nghe lời
Phật chỉ dạy.
Chú
Giải.
Đoạn
này ông Phú Lâu Na hỏi 2 điều :
1-Chân
tâm đã thanh tịnh tại sao thoạt sanh ra có thế giới và chúng
sanh ?
2-Đất,
nước, gió, lửa, tánh nó chống trái nhau, tại sao lại dung
hòa được và biến khắp cả pháp giới ?
Về
câu hỏi một thì trong kinh này Phật đã trả lời rõ rồi.
Còn câu hỏi sau chúng ta cũng nên phân biệt cho rõ : Phật
nói nước, lửa v . v . biến khắp cả pháp giới, đó là Phật
chỉ về phần “tánh” mà nói. Ông Phú Lâu Na nghi nước,
lửa v . v . trái nhau, làm sao đều biến khắp được. Thế
là ông Phú Lâu Na đứng về phần tướng mà hỏi.
Về
tướng thì có chướng ngại, còn tánh thời không bao giờ
chướng ngại.
II.
Phật trả lời câu hỏi thứ nhất.
Phật
dạy :
-Này
Phú Lâu Na , như lời ông hỏi “Chân tâm đã vốn thanh tịnh,
tại sao sanh ra sơn hà đại địa, thế giới và chúng sanh.”
Vậy
ông có thường nghe ta nói : “Chân tâm nhiệm mầu vắng lặng
mà thường sáng suốt chiếu soi “ không? (tánh giác diệu
minh bản giác minh diệu).
Phú
Lâu Na thưa :
-Bạch
Thế Tôn, con có thường nghe Phật dạy như thế.
Phật
hỏi :
-Vậy
chân tâm này, ông cho nó tự có tánh sáng suốt chiếu soi (phân
biệt) hay là không có sáng suốt chiếu soi ?
Phú
Lâu Na thưa :
-Nó
sẵn có tánh sáng suốt chiếu soi (phân biệt) nên mới gọi
là tâm. Nếu không có tánh sáng suốt chiếu soi (phân biệt)
thì không gọi là tâm, vì nó không phân biệt được cái gì
cả.
Phật
dạy :
-Như
lời ông nói “nếu nó không sáng suốt chiếu soi (phân biệt
thì không phải là tâm, vì nó không phân biệt được cái
gì cả”. Vậy ông có hiểu chăng : nếu có chiếu soi phân
biệt, thì không phải là chân (vì có năng phân biệt thì phải
có bị phân biệt), còn không có chiếu soi phân biệt, thì
chẳng phải là tâm. Nếu tâm mà không sáng suốt thì không
phải là chân tâm thanh tịnh rồi.
Ông
nên hiểu : Chân tâm vẫn sáng suốt, vì ông vọng chấp cái
“sáng suốt phân biệt” làm tâm, nên thành ra có năng phân
biệt (tâm) và bị phân biệt (cảnh).
Chân
tâm của ông không phải cái “bị phân biệt”, nhưng vì
ông khởi ra cái “năng phân biệt”, nên nó (chân tâm) trở
thành cái “bị phân biệt” (cảnh). Đã vọng thành cái “bị
phân biệt”, cố nhiên ở nơi ông phải vọng sanh ra cái “năng
phân biệt”.
Thế
là ở nơi chân tâm của ông vẫn thanh tịnh không có năng
và sở, mà thoạt vậy thành ra có năng và sở (vô đồng dị
trung, xí nhiên thành dị).
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này Phật chỉ cái nguyên nhân từ chân tâm thanh tịnh,
vì vọng động nổi lên nên sinh ra có thế giới và chúng
sanh.
Chân
tâm thanh tịnh mỗi người đều sẵn đủ. Nếu chấp nó “không
có phân biệt” thì chẳng phải là tâm; còn chấp nó “có
phân biệt” thì chẳng phải là chân.
Bởi
ông Phú Lâu Na chấp cái “phân biệt chiếu soi” làm tâm,
nên đã có cái phân biệt, cố nhiên phải có cái bị phân
biệt. Thế là năng, sở vừa hiện, thì bỉ và thử rõ ràng.
Đây
là Phật chỉ cái hành tướng của vọng, từ nơi tâm của
mọi người khởi lên một cách rõ ràng.
Một
vọng niệm vừa nổi lên, thì có trăm ngàn vọng niệm khác
tiếp tục theo sanh ra, cho đến vô cùng vô tận. Nhơn đó mà
có hư không, thế giới và chúng sanh đồng thời hiện ra.
Cũng như người đương thức (dụ chân tâm) bỗng chốc buồng
ngủ nổi lên, (dụ vô minh vọng động) chiêm bao thấy
có núi sông , nhà cửa các cảnh vật hiện ra ( dụ hư không,
thế giới và chúng sanh).
III.
Phật chỉ nguyên nhân chung sanh ra hư không, thế giới và chúng
sanh.
-Từ
một thể chân tâm không khác, vì vọng niệm phân biệt, có
năng sở, bỉ, thử sai biệt, nên hiện ra có hư không và thế
giới. Nhân có hư không thế giới nên mới có chúng sanh. Đã
có thế giới và chúng sanh lăng xăng đối đãi với nhau, nên
khởi lên vô số vọng tưởng phân biệt : tốt xấu, phải,
chẳng v . v . Vì thế mà sanh ra đủ các phiền não trần lao
nhiễm ô. Cái có hình tướng và sanh diệt là thế giới; cái
không có hình tướng và yên tịnh là hư không. Khác vời hư
không, thế giới là chúng sanh vậy.
IV.
Phật chỉ nguyên nhân riêng và tuần tự sanh ra vũ trụ.
1-
Nguyên nhân sanh gió.
-Từ
nơi chân tâm, do vô minh vọng động mà có hư không. Hư không
mờ mịt vì vô minh sanh. Trong “hư không” có chất động,
vì là vọng. Bởi thế nên trong hư không có gió (phong luân)
để duy trì thế giới.
2-
Nguyên nhân sanh ra vàng ngọc.
Nhân
hư không sanh ra gió, và vì nơi tâm chúng sanh có tánh cố chấp
phân biệt, cho nên ứng hiện ra ngoài thế giới có những
chất cứng chắc là vàng ngọc (vàng ngọc cứng chắc là vì
tâm cố chấp sanh. Nó sáng ngời là do tâm phân biệt sanh).
Đây là cái nguyên nhân có chất kim khí để bảo trì thế
giới.
3-
Nguyên nhân sanh ra lửa.
Trong
tâm chúng sanh vì có tánh cố chấp phân biệt, nên sanh ra chất
cứng chắc là kim khí, và vì có vọng động mà thành ra gió.
Rồi gió thổi kim khí, nó cọ xát mãi, nóng lên, nên nháng
sanh ra ánh sáng là lửa. Đây là cái nguyên nhân có lửa để
nấu đốt các vật.
4-
Nguyên hnhân sanh ra nước.
Chất
vàng ngọc vừa sáng ngời và đượm mát. Nhân lửa xông lên,
nên có hơi nước rịn ra. Đây là nguyên nhân có nước để
bao bọc cả mười phương thế giới.
Chú
Giải.
Vì
tâm vọng động nên biến hiện ra ngoài thế giới có gió.
Vì tâm cố chấp, cho nên biến hiện ra ngoài thế giới có
vàng ngọc. Vì tâm nóng nảy, nên biến hiện ra ngoài thế
giới có lửa. Vì tâm tham ái, cho nên biến hiện ra ngoài thế
giới có nước.
5-
Nguyên nhân sanh ra cồn đảo và biển.
-Vì
tánh lửa bốc lên, còn nước thì lại chảy xuống, nên có
chỗ thấp ướt là sông biển, chỗ cao nổi lên là cồn đảo.
Bởi lửa và nước dung hoà nhau, cho nên trong biển thỉnh thoảng
bốc lên ánh sáng của lửa, trong cồn đảo lại có sông rạch
thường chảy ra nước.
Chú
Giải.
Trong
bộ Tông cảnh nói “Vì tâm luyến ái nên ứng hiện ra ngoài
thành sông biển. Vì tâm cố chấp nên ứng hiện ra ngoài thành
cồn đảo. Tâm khinh mạn thành ra gió. Tâm nóng nảy, sân hận
thành ra lửa. Bởi thấy sắc dục sanh tâm luyến ái, nên hiện
ra ngoài thế giới : trong cồn đảo có nước thường chảy.
Vì trái với sự thương yêu thì nổi sân , nên hiện ra ngoài
thế giới : trong biển có lửa phát lên. Tóm lại, bốn đại
đều duy tâm biến hiện (dụ như chiêm bao, nếu ban ngày nghĩ
tưởng cái gì, thì ban đêm hiện ra cảnh ấy).
6-
Nguyên nhân sanh ra núi.
-Vì
thế lực của nước yếu hơn lửa, nên bị lửa bốc lên
kết thành núi cao. Bởi thế nên đập đá thì có lửa, còn
đốt quá nóng, thì nó chảy ra nước.
Chú
Giải.
Vì
tâm giận nhiều thương ít, nên ứng hiện ra ngoài thế giới
có núi cao.
7-
Nguyên nhân sanh ra cỏ cây.
Vì
thế lực của đất yếu hơn nước, cho nên bị nước rút
lên làm cỏ cây. Bởi thế nên cỏ cây, nếu đốt thì thành
tro (đất) còn ép thì nó lại ra nước.
Chú
Giải.
Vì
tâm thương yêu nặng nề, tánh cố chấp ít, nên ứng hiện
ra ngoài thế giới thành cỏ cây.
Tóm
lại, vì ở trong tâm chúng sanh, các vọng tưởng xen nhau phát
sanh, nên ứng hiện ra ngoài thế giới có các cảnh vật. Bởi
nhân duyên này mà thế giới nối nhau sanh mãi không dứt.
V.
Phật chỉ nguyên nhân có chúng sanh (nhân sanh).
-Ông
Phú Lâu Na, cái “Hư vọng phân biệt” đó không có gì lạ,
chỉ vì ông chấp cái “phân biệt chiếu soi” làm tâm. Đã
có phân biệt, tất nhiên phải có cái “bị phân biệt”
đối đãi nhau. Vì thế nên cái “năng phân biệt” không
vượt ra ngoài cảnh “bị phân biệt” được. Do nhân duyên
này, nên nghe không ngoài tiếng, thấy không ngoài sắc, ngửi
không ngoài mùi, nếm không ngoài vị v . v . vọng thành
sáu căn và sáu trần đối nhau, nên phân ra có : thấy, nghe,
hay biết.
Rồi
theo nghiệp lực kéo dẫn, cho nên có những loài sanh con (như
người và thú) loài sanh trứng (như chim và cá) loài sanh chỗ
ẩm ướt (như vi trùng v . v .) loài hóa sanh (như trời và địa
ngục).
Thần
thức khi đầu thai, nhân thấy ánh sáng (lửa dục) của cha
mẹ phát ra, rồi nó khởi cái “tưởng” chung chạ làm việc
dục ấy. Nếu nó sẽ là trai thì ưa mẹ mà ghét cha, còn nó
sẽ là gái thì thương cha mà ghét mẹ. Vì tình lưu luyến
nơi ái dục không rời được, nên nó tự kết nạp tư tưởng
của nó với tinh huyết của cha mẹ khi giao cấu đó, kết
thành ra thai. Vì có nhân duyên với nhau và do đồng nghiệp
kéo dẫn, nên kết thành thai nghén. Loài sanh thai, sanh trứng,
sanh nơi ẩm thấp, hoặc hóa sanh đều tùy theo nghiệp của
mỗi loài mà cảm ứng.
Loài
sanh trứng là do nơi tưởng nhiều, loài sanh thai là do nơi
tình nặng, loài thấp sanh là do hiệp với chỗ ẩm thấp,
loài hóa sanh thì rời cảnh vật tự nó hóa hiện. Bốn loài
biến đổi, tùy theo nghiệp lành hay dữ mà cảm thọ, quả
báo có thăng và trầm. Do nhân duyên ấy mà chúng sanh bỏ thân
này thọ thân kia, nối nhau không dứt.
VI.
Phật chỉ nguyên nhân chúng sanh tiếp tục sanh.
1-
Tham dục.
-Này
Phú Lâu Na, chúng sanh vì tình ân ái kết chặt, thương tưởng
quyến luyến nhau không rời, cho nên trong thế gian, cha mẹ,
con cháu tiếp tục sanh ra không cùng tột, gốc tại lòng tham
dục vậy.
2-
Tham sát.
Loài
nào cũng thương yêu thân mạng, muốn cho mình được sống
nên tham ăn những vật bổ dưỡng. Vì thế mà trong thế gian
này, loài mạnh ăn thịt loài yếu, loài khôn giết loài dại.
Bốn loài (noãn, thai, thấp, hóa) ăn nuốt lẫn nhau, gốc tại
lòng tham sát hại.
3-
Tham trộm cướp.
Bởi
loài người ăn thịt loài vật, loài vật trở lại ăn thịt
người. Người chết làm vật, vật chết làm người, các
loài chúng chính, sanh sanh tử tử, nối tiếp nhau. Các ác nghiệp
đã tạo ra rồi, thì cùng nhau vay trả, cho đến nghìn đời
không tột, gốc tại lòng tham lam trộm cướp.
Chú
Giải.
Loài
vật, chúng nó không muốn cho người giết thân mạng nó, mà
người lại ỷ sức mạnh giết hại để ăn, thế nên phạm
tội cướp giựt. Có vay cố nhiên phải có trả; nên giết
hại không những phạm tội sát sanh, mà còn phạm cả tội
cướp giựt.
Loài
này cướp giựt thân mạng loài kia, loài kia giết hại lại
loài này; trả vay, vay trả lẫn nhau, đến trăm ngàn kiếp
không ra khỏi sanh tử.Trai mê sắc gái, gái thương tình trai,
vì tình ân ái thương yêu lẫn nhau, nên trăm ngàn kiếp bị
triền phược trong vòng luân hồi.
Tóm
lại, vì ba nghiệp sát, đạo, dâm làm gốc, nên nghiệp (nhân)
và quả nối nhau, không bao giờ cùng tận.
Này
ông Phú Lâu Na, thế giới, chúng sanh và nghiệp quả ba món
điên đảo tương tục này đều ở trong chân tâm, vì vô minh
vọng động sanh ra “năng phân biệt” và “sở phân
biệt” tương đối, nên vọng thấy có sơn hà đại địa,
thế giới chúng sanh, rồi tiếp tục sanh hóa, vô cùng hư vọng.
VII.
Phú Lâu Na hỏi tiếp : Chư Phật đã chứng được chân tâm
thanh tịnh rồi, vậy chừng nào nổi vọng trở lại.
Ông
Phú Lâu Na hỏi Phật :
-Bạch
Thế Tôn, cái chân tâm của con đã cùng với Phật không khác
vốn thanh tịnh không tăng không giảm; bỗng nhiên vọng động
nổi lên, sanh ra thế giới và chúng sanh. Vậy các đức Như
Lai đã chứng được chân tâm ấy rồi, chừng nào vô minh
vọng động nổi lên, sanh trở lại thế giới và chúng sanh
nữa ?
VIII.
Ba đoạn thí dụ của Phật.
1-
Dụ như người lầm phương hướng để chỉ rõ ngộ rồi
không mê trở lại.
Phật
dạy rằng :
-Này
Phú Lâu Na, như người lầm phương hướng, tưởng phía Nam
là phía Bắc. Ông nghĩ sao, cái “mê lầm “ ấy nhân mê mà
có, hay nhân ngộ mà sanh? Này Phú Lâu Na, không phải nhân ngộ,
mà cũng không phải nhân mê. Vì sao ? Cái mê không có căn nguyên,
thì làm sao nói nhân mê mà có. Còn ngộ không thể sanh ra mê
được, thì sao lại nói nhân cái ngộ mà sanh.
Phú
Lâu Na, người kia đương lúc đi lầm đường, nếu có người
biết đường chỉ lại cho họ : Đây là phía nam, kia là phía
bắc v . v . Vậy từ đó về sau họ còn lầm lộn nữa không
?
Phú
Lâu Na thưa :
-Bạch
Thế Tôn, người kia không còn lầm lộn nữa.
Phật
dạy :
-Này
Phú Lâu Na mười phương các đức Như Lai cũng vậy, khi ngộ
được chân tâm thành Phật rồi, thì không bao giờ mê trở
lại làm chúng sanh nữa. Vì cái mê lầm không thật, rốt ráo
chẳng có gốc rễ. Trước kia vốn không mê, nhưng in tuồng
có mê cái ngộ (như đám mây che mặt trời). Đến khi giác
ngộ được cái mê , thì cái mê kia tự diệt; cái “giác
ngộ” ấy không sanh trở lại cái mê nữa.
2-
Dụ như hoa đốm giữa hư không khi diệt rồi không còn sanh
trở lại.
-Lại
nữa, cũng như người bị nhặm con mắt, thấy có hoa đốm
lăng xăng giữa hư không. Đến khi hết nhặm rồi thì hoa kia
tự hết. Nếu người ấy còn nhìn lại chỗ các hoa đốm
diệt ở nơi hư không kia, để trông mong cho hoa sanh trở lại,
nếu như thế ông thử nghĩ, người đó khôn hay dại ?
Phú
Lâu Na thưa :
-Hư
không không có hoa đốm, mà vọng thấy có hoa đốm sanh diệt,
thế đã là điên đảo rồi; huống nữa, trông mong nó sanh
trở lại, thì người ấy thật điên đảo lắm, không còn
nói dại hay khôn nữa được.
Phật
nói :
-Ông
đã hiểu như vậy, tại sao còn hỏi “Như Lai đã ngộ được
chân tâm thanh tịnh, vậy chừng nào nổi vọng trở lại, sanh
ra sơn hà đại địa nữa?”
3-
Dụ như vàng và củi.
Cũng
như vàng ở tại mỏ, khi đào lên đã lọc hết khoáng thành
vàng ròng rồi, lúc bấy giờ không còn trở lại làm khoáng
nữa. Và cũng như cây đốt thành tro, không thể trở lại
thành cây được nữa.
Chư
Phật cũng thế : khi chứng được Bồ Đề Niết Bàn rồi,
không còn vọng động trở lại làm chúng sanh nữa.
IX.
Phật trả lời câu hỏi thứ hai.
Phật
nói :
-Phú
Lâu Na, như lời ông hỏi “nước và lửa tại sao chẳng diệt
nhau, trái lại được dung hòa cùng nhau và đều biến khắp
cả vũ trụ ? Hư không với đất tánh chất không đồng, tại
sao dung biến được ?”
Này
Phú Lâu Na ! Tất cả các pháp, xem về tướng (hiện tượng)
của nó, nguyên là hư vọng, không thể chỉ bày cái gì thật
là cái gì được. Nó đã hư vọng không thật, mà ông lại
còn hỏi “Tại sao nó chẳng diệt nhau ?” Như thế chẳng
khác nào người ngồi trông đợi cho cái hoa đốm giữa hư
không kia kết đậu thành ra trái, thì làm sao mà kết đậu
được !
Chú Giải.
Như
các hình chớp bóng chiếu trên miếng vải trắng, bởi nó
không thật, nên không cái nào ngại cái nào cả.
-Còn
xem về tánh (bản thể) của các pháp, thì nguyên nó là chân.
Duy có một thể chân tâm, nguyên không phải đất, nước,
gió, lửa thì sao lại chẳng dung hòa nhau được.
X.
Phật chỉ cái chân tâm tùy duyên biến hiện.
-Phú
Lâu Na ! Chân tâm của ông như thế, nếu ông phân biệt hư
không thì có hư không hiện, phân biệt đất, nước, gió,
lửa, thì đều có đất, nước, gió, lửa hiện.
Cũng
như hai người đồng xem mặt trăng dưới nước. Rồi một
nười đi qua phía Đông và một người đi qua phía Tây, thì
hai người đều thấy có mặt trăng đi theo mình cả, không
có chuẩn định.
Ông
không thể hỏi “mặt trăng tại sao đi theo cả hai người”;
Hay là nói “hai người đi riêng đều thấy cả hai mặt trăng,
tại sao hiện này chỉ thấy có một”. (khi hai người đứng
chung một chỗ).
Phú
Lâu Na ! Ông nên biết : vì các pháp hư huyễn, không thể lấy
đâu làm bằng cứ được.
XI.
Chúng sanh trái với Chân tâm sáng suốt và hiệp theo vọng
trần.
-Phú
Lâu Na ! Các ông vì trái với chân tâm sáng suốt, mê muội
hiệp theo vọng trần, nên chân tâm tùy duyên biến hiện ra
có hư không thế giới, các thứ trần lao trong thế gian, cùng
khắp cả pháp giới. Vì thế nên ông thấy có gió động,
hư không lặng, mặt trời sáng, mây mờ, sắc tướng và hư
không lấn nhau, nước và lửa diệt nhau v . v .
XII.
Phật hiệp với chân tâm sáng suốt.
-Còn
ta (Phật) thì trái với vọng trần, hiệp với chân tâm thường
trụ bất sanh bất diệt, biến khắp cả pháp giới. Cho nên
ta mới được tự tại vô ngại : Ở trong một hiện ra vô
lượng, vô lượng hiệp làm một, trong nhỏ hiện lớn, trong
lớn hiện nhỏ; không rời nơi đạo tràng mà hiện khắp cả
mười phương thế giới. Thân ta bao trùm mười phương hư
không vô tận. Trên đầu một mảy lông hiện ra các cõi nước;
ngồi trong hạt bụi, mà chuyển đại pháp luân. Vì ta diệt
hết vọng trần, trở lại với bản tâm thanh tịnh sáng suốt,
nên mới được như vậy.
Chú
Giải.
Vì
Phật đã ngộ chân tâm thanh tịnh, nên mới được tự tại
vô ngại, không còn bị các vật lớn, nhỏ, nhiều, ít v .
v . làm chướng ngại.
Trái
lại, chúng sanh vì mê chân tâm, hiệp theo vọng trần nên thấy
có các vật lớn, nhỏ, rộng, hẹp chướng ngại.
Bởi
tâm có chướng ngại (vọng phân biệt) nên thấy ngoài trần
cảnh có chướng ngại. Nếu trong tâm hết chướng ngại (không
vọng) thì không còn thấy có một vật gì làm chướng ngại
cả.