BÀI
THỨ SÁU.
I.
A Nan không hiểu, hỏi Phật.
A Nan
thưa Phật :
-Bạch
Thế Tôn, vừa rồi Phật nói cái nghĩa “nhân duyên, tự nhiên,
hòa hợp và bất hòa hợp” chúng con còn chưa hiểu, nay lại
nghe Phật nói đến nghĩa “tâm sanh ra cái thấy, cái thấy
không phải tâm v . v . “ chúng con lại càng thêm mù mịt nữa.
Cúi xin đức Như Lai duỗi lòng từ bi, chỉ dạy cho chúng con
ngộ được chân tâm thanh tịnh, sáng suốt này.
II.
Phật chỉ hai món vọng thấy.
Phật
dạy :
-A
Nan, ông phải chín chắn nghe, ta sẽ vì các ông phân biệt
chỉ dạy, cũng khiến cho chúng sanh đời sau ngộ được đạo
quả Bồ Đề.
Này
A Nan, tất cả chúng sanh bị sanh tử luân hồi trong thế gian,
đều do hai món điên đảo phân biệt vọng thấy, nó đương
xứ phát sanh ra nghiệp, rồi theo nghiệp đó mà chịu khổ
luân hồi.
Chú
Giải.
Từ
nơi tâm vọng động sanh ra các nghiệp, rồi theo các nghiệp
đó mà chịu quả khổ hay vui. Cũng như từ mê mà sanh ra ngủ,
rồi đương nơi ngủ đó, mà hiện ra có cảnh vật vui, buồn
rồi tự chịu lấy buồn, vui.
-Thế
nào là 2 món ?
1-Cái
điên đảo vọng thấy thuộc về nghiệp riêng của cá nhân.
2-Cái
điên đảo vọng thấy thuộc về nghiệp chung của đồng loại.
III.
Dụ về nghiệp riêng của cá nhân.
-A
Nan, sao gọi là cái điên đảo vọng thấy thuộc về nghiệp
riêng của cá nhân ? – Dụ như người nhặm con mắt, ban đêm
dòm đèn thấy có vòng tròn lòa đỏ năm màu (ngũ uẩn).
Ý
ông nghĩ sao ? Cái vầng đỏ năm màu ấy, của đèn hay của
cái “thấy” ?
A Nan,
nếu ông nói “của đèn” thì sao những người không nhặm
mắt, họ chẳng thấy vầng đỏ, mà duy có người nhặm mắt
mới thấy thôi ?
Nếu
nói “cái vầng đỏ đó của cái thấy”, thì cái thấy đã
thành vầng đỏ; vậy người nhặm con mắt thấy vầng đỏ,
thì bảo là thấy cái gì ? (vì cái thấy đã thành vầng đỏ
rồi, thì không thể nói thấy vầng đỏ được nữa).
Lại
nữa, nếu ông chấp “cái vầng đỏ rời đèn riêng có”,
thời đáng lẽ ông xem bàn ghế chung quanh đều có vầng đỏ
cả. Còn nói “vầng đỏ rời cái thấy riêng có”, thì không
cần con mắt thấy. Vậy tại sao người nhặm mắt thấy có
vầng đỏ ?
Thế
nên phải biết : Cái sáng là ở nơi đèn, cái thấy vì bệnh
mà có bóng lòa. Cái “bóng lòa” và “cái thấy lòa” đều
do nơi mắt nhặm. Còn cái thấy được lòa nhặm, thì “cái
thấy” đó không phải nhặm.
Nên
không thể nói : Cái vầng đỏ này là “đèn” hay “thấy”
và “không phải đèn” hay “không phải thấy”, mà chính
do nhặm mắt hiện ra.
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này Phật nói “Vì vô minh vọng động (nhặm) mà
thấy có các cảnh vật hiện ra như vậy (lòa đỏ). Chớ không
phải do chân lý (dụ đèn) hay chân trí (dụ cái thấy) và
cũng không thể nói nó ngoài chân lý và chân trí.
IV.Dụ
về nghiệp chung của đồng loại.
-A
Nan, sao gọi là nghiệp chung vọng thấy của đồng loại ?
Dụ như trong thế giới này có nhiều nước. Nhưng chỉ có
một nước vì dân chúng đồng tạo ác nghiệp nên đều cảm
thấy có các điềm không tốt, như sao chổi, sao phướn, hoặc
hai mặt trời, hai mặt trăng v . v . Còn dân chúng ở các nước
khác thời đều không thấy và cũng không nghe.
V.
Lấy nghiệp riêng để chỉ rõ nghiệp chung.
-Này,
A Nan, như người nhặm con mắt, vì nghiệp riêng của họ,
nên “vọng thấy” cái đèn có vầng đỏ hiện ra. Tại con
mắt nhặm thành ra lòa, chớ “cái thấy” đó không lòa.
So
sánh như các ông ngày hôm nay, thấy có núi sông, thế giới
và chúng sanh đó, đều do cái “nhặm lòa từ vô thỉ” (vô
minh vọng động từ vô thỉ) cho nên mới thấy có các cảnh
vật hiện ra như vậy.
Các
ông nên biết : “mắt thấy” (kiến) với “cảnh vật bị
thấy” (kiến duyên) hiện tiền đây, đều do cái “vọng
thấy” (giác minh ) hiện ra. Cái “vọng thấy” đó (giác
kiến) nó lòa nhặm, chớ cái chân tâm không có lòa nhặm.
Cái
chân tâm biết được cái lòa nhặm đó (giác sở- giác sảnh)
nó không phải ở trong lòa nhặm (giác phi sảnh trung
).
Như
thế thời làm sao bảo cái chân tâm đó là các cảm giác thấy,
nghe, hay, biết được ư ? Đây chính là cái nghĩa : “Tâm
sanh ra cái thấy, cái thấy không phải tâm v . v .” ông mới
vừa hỏi trước.
Thế
nên, nay ông thấy “tôi”, thấy “ông” cùng thấy “thế
giới” và “chúng sanh”, đều do ông lòa nhặm (vô minh vọng
động) mà thấy như vậy, chớ không phải cái thấy (tâm)
đó nó lòa nhặm. Bởi tánh nó không lòa nhặm, cho nên không
thể bảo nó (chân tâm) là “cái thấy”.
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này nói : Từ nơi chân tâm, vì vô minh vọng động
nên khởi ra có căn và cảnh (cái thấy và cái bị thấy).
Vì các cảm giác : thấy, nghe, hay, biết cùng với các cảnh
vật bị thấy, đều do vô minh vọng động hiện ra cả. Còn
“chân tâm” vì không phải là vô minh, nên không thể gọi
nó (chân tâm) là các cảm giác : thấy, nghe, hay, biết được.
Đây
là giải lại cái nghĩa ở đoạn trước nói : Chân tâm sanh
ra cái thấy v . v . (kiến kiến chi thời) cái thấy v . v . không
phải là chân tâm (kiến phi thị kiến). Cái thấy nó còn xa
cách chân tâm v . v .
Nên
nhớ : Lỗi tại vô minh vọng động, chớ không phải lỗi
tại cái thấy và cảnh bị thấy. Cũng như tại nhặm chớ
không phải lỗi tại “cái thấy” của mắt và “bóng lòa”.
VI.
Phật kết thúc lại.
-A
Nan, một người nhặm mắt, vì nghiệp riêng của họ, nên
họ thấy cái vầng đỏ; cũng như dân chúng trong một nước,
do ác nghiệp chung tạo của họ, nên đồng thấy có những
điềm không lành hiện ra.
Lên
một tầng nữa, là toàn cả chúng sanh trong mười phương thế
giới ngày nay đây, đều do “vô minh vọng động từ vô thỉ”
nên đồng vọng thấy có thế giới chúng sanh hiện ra vậy.
Từ
nơi chân tâm, vì hư vọng nên hiện ra các cảm giác thấy,
nghe, hay, biết. Do hòa hợp vọng sinh ra, rồi cũng do hòa hợp
vọng diệt đi.
Nếu
các ông xa lìa được các duyên hòa hợp cùng bất hòa hợp,
và trừ hết các nhân sanh tử rồi, thì cái chân tâm thường
trụ thanh tịnh, bất sanh bất diệt hiện ra, và các ông được
viên mãn đạo Bồ Đề.
Chú
giải.
Phật
lấy một người nhặm để dụ một nước thấy điều ác;
lấy một nước để dụ chúng sanh trong mười phương. Vì
vô minh vọng động từ vô thỉ, nên thấy có chúng sanh và
thế giới. Cũng như người nhặm mắt thấy có vầng đỏ.
Nếu hết nhặm thì vầng đỏ không còn, lúc bấy giờ con
mắt lành mạnh tự hiện.
Cũng
như vô minh vọng tưởng hết, thì thế giới chúng sanh chẳng
còn. Lúc bấy giờ chân tâm sáng suốt hiện ra, được viên
mãn đạo Bồ Đề, thế gọi là bậc Đại Giác.
VII.
Phật chỉ các pháp đều trở về chân tâm.
-A
Nan, ông còn chưa hiểu : các trần tướng huyễn hóa đó là
từ nơi tâm sinh ra, rồi cũng tùy tâm diệt mất. (Đương xứ
xuất sanh, tùy xứ diệt tận).
Cái
“tướng” (hiện tượng) của nó thì huyễn vọng, còn “tánh”
(bản thể) của nó lại chân thường.
Nào
là : năm ấm, sáu nhập, 12 xứ, 18 giới đều do nhân duyên
hư vọng hòa hợp tạm có sanh; nhân duyên biệt ly, hư vọng
tạm gọi là diệt.
Các
ông không biết : nào sanh, diệt, khứ, lai đều gốc ở nơi
chân tâm thường trụ. Trong thể tánh chân tâm thường trụ
nầy, tìm kiếm cái khứ, lai, mê, ngộ, sanh, tử v . v . quyết
không thể được.
Chú
Giải.
Hiện
tượng các pháp thì vọng, mà bản thể của các pháp lại
chân. Đứng về phần hình tướng (hiện tượng) các pháp
thì thấy có sanh, diệt, khứ, lai. Còn đứng về phần bản
tánh (bản thể) thì tìm cái khứ, lai, sanh, diệt, mê, ngộ
không thể được.
VIII.
A Nan nghi cái nghĩa bốn đại hòa hợp sanh.
A Nan
thưa Phật rằng :
-Bạch
Thế Tôn, trước kia Ngài thường nói “tất cả các vật
trong thế gian đều do bốn đại hòa hợp sanh”. Tại sao ngày
hôm nay, Như Lai bác bỏ cả thuyết ”nhân duyên” và “tự
nhiên”.Chúng con không biết nghĩa này như thế nào ? Cúi xin
đức Từ Tôn chỉ dạy nghĩa trung đạo rốt ráo cho chúng
con.
Chú
Giải.
Phật
đã nhiều lần bác cả nhân duyên và tự nhiên, mà A Nan vẫn
còn chấp mãi. Thật là lưới nghi nhiều lớp, không thể một
lần lột hết được !
IX.
Phật quở A Nan học nhiều mà không hiểu.
Phật
dạy rằng :
-Ông
trước kia nhàm chán quả Thanh Văn, Duyên Giác là thuộc về
Tiểu Thừa, phát tâm cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề, cho nên
ta mới vì ông chỉ bày nghĩa lý cao thượng thứ nhất (đệ
nhất nghĩa đế).
Tại
sao nay ông còn đem lời nói tầm thường trong thế gian, là
thuyết “nhân duyên” để tự ràng buộc lấy mình ?
Ông
tuy học nhiều mà không hiểu chi cả; cũng như người trong
thế gian nói tên món thuốc này, món thuốc kia, đến khi thuốc
thật đem trước mắt thì họ không thể phân biệt được,
thật đáng thương xót !
Ông
nên chăm chú nghe, ta sẽ vì các ông, cùng với những người
tu về Đại Thừa đời sau mà phân biệt chỉ dạy, để cho
các ông thông hiểu đuợc thật tướng (chân tâm).
A Nan
yên lặng, lóng nghe lời Phật dạy.
X.
Phật nói cái tánh của tứ đại phi hòa hợp.
-A
Nan, ông nói rằng : “Do bốn đại hòa hợp sanh ra tất cả
vật”. Này A Nan, nếu cái thể tánh (bản thể) của bốn
đại kia không có hòa hợp, thời không thể hòa với cái gì
được; cũng như hư không không hòa hợp với các vật biến
hòa (hiện tượng sanh diệt) nghĩa là : trước sau thành nhau,
như nước thành băng, băng trở lại thành nước. Sanh diệt
nối nhau, sanh tử, tử sanh, sanh sanh, tử tử, xoay tròn như
vòng lửa, không đứt đoạn.
Chú
Giải.
A
Nan lấy hình tướng (hiện tượng của tứ đại có hư vọng
hòa hợp mà hỏi. Còn Phật thì chỉ cái thể tánh (bản thể)
của tứ đại không hòa hợp, cũng như hư không mà giải thích.
Nếu nó (tánh) có hòa hợp thì cùng đồng như các tướng
(tứ đại) có sanh diệt.
XI.
Đất từ chân tâm biến hiện.
-A
Nan, ông xem đất kia, lớn là quả địa cầu, còn nhỏ là
hạt bụi (vi trần). Chẻ hạt bụi rất nhỏ (cực vi) ra làm
bẩy phần, thì thành hạt bụi lân hư (gần với hư không).
Cái giáp ranh của sắc tướng tột đến chừng đó. Nếu chẻ
hạt bụi nhỏ nhất này (lân hư) ra một lần nữa, thì thành
hư không. Thế thì rõ ràng hư không do chẻ bụi mà có, không
phải do hòa hợp sanh.
Này
A Nan, như lời ông nói “Do hòa hợp sanh ra các vật trong thế
gian”. Vậy ông thử xem một hạt bụi nhỏ nhất này (lân
hư), phải dùng bao nhiêu hư không hòa hợp lại mới thành
ra nó ? không lẽ hạt bụi nhỏ nhất này, hòa hợp lại thành
ra hạt bụi nhỏ nhất.
Chú
Giải.
Nếu
nói “các vật do hòa hợp thành” thì hạt bụi nhỏ nhất
này cũng phải do hòa hợp mà thành.
Vậy
thời lấy cái gì hòa hợp thành hạt bụi này. Nếu nói “lấy
hư không hòa hợp lại thành” thì phi lý. Còn không lấy hư
không thì lấy cái gì hòa hợp thành ra nó ? (Vì chấp các
pháp do hòa hợp mà sanh ). Nếu nói lấy “sắc tướng hòa
hợp” thì thành ra một vật lớn, chớ không phải là thành
hạt bụi nhỏ nhất (lân hư) nữa.
-Lại
nữa, nếu chẻ hạt bụi nhỏ nhất (lân hư) ra thành hư không,
thì rõ ràng hư không không phải do hòa hợp thành. Nều nói
do hòa hợp thành, thì phải dùng bao nhiêu sắc tướng hòa
hợp lại mới thành hư không ? Không lẽ hư không tự hòa
hợp thành ra hư không ?
Chú
Giải.
Vì
chấp “các pháp do hòa hợp mà có “ thì hư không cũng phải
do hòa hợp mà có. Vậy hư không lấy cái gì hòa hợp mà thành
? không lẽ lấy hư không hòa hợp lại thành hư không. Đoạn
trên Phật chỉ hạt bụi, đoạn này Phật chỉ hư không, đều
phi hòa hợp cả.
-Vậy
nên biết : khi sắc hòa hợp thì không phải hư không, khi hư
không hòa hợp thì không phải sắc. Cái sắc còn có thể chia
chẻ ra được, chớ hư không làm sao mà hòa hợp được ?
Chú
Giải.
Đại
ý đoạn này, Phật nói các pháp hư vọng như huyễn, như hóa,
phi hòa, phi hợp, do chúng sanh mê vọng mà thấy in tuồng như
thật.
-Các
ông không biết : trong chân tâm, tánh (bản thể) của sắc
là chân không (tâm); tánh (bản thể) của không là chân sắc
(tâm). Nó vốn sẵn thanh tịnh, khắp giáp cả pháp giới; tùy
theo tâm của chúng sanh tạo nghiệp và phân biệt như thế
nào, thì nó ứng hiện ra như thế nấy. Chúng sanh không biết,
chấp là nhân duyên sanh, hay tự nhiên có v . v . những
cái chấp đó, đều do thức tâm phân biệt so đo cả. Phàm
có nói năng, phân biệt, thì đều không đúng.
Chú
Giải.
Thật
ra các vật ở giữa này, không có nhất định vật gì thật
là vật gì cả. Tùy theo tâm của chúng sanh tạo nghiệp như
thế nào, thì nó hiện ra như thế nấy. Đối với chúng sanh
đó, nó thật hay đúng với loài đó mà thôi.
Như
chén nước đây, nếu đồng nghiệp loài người thì thấy
thật là nước; còn đối với con vi trùng trong chén nước,
thì không phải là nước nữa rồi, mà chính là nhà cửa của
nó.
Hay
như cái bàn gỗ này, đối với loài người thấy nó là cái
bàn thật, chớ đối với con mọt thì không thành cái bàn
nữa, mà thật là món ăn của chúng. Thêm một tỷ dụ nữa,
như thân này đối với loài người, thì thấy thật là thân
người, chớ đối với con vi trùng trong thân, thì không thành
cái thân nữa, mà thật là một thế giới bao la vô tận của
nó.
Vậy
thì thật thấy nước hay thật chỗ ở, thật cái bàn gỗ
hay thật món ăn, thấy thân người hay bầu thế giới, đều
tùy theo tâm niệm phân biệt, nhận định riêng của mỗi loài
như thế nào, thì nó thành ra thế nấy. Nên trong kinh nói
“Tùy tâm biến hiện”.
Chúng
ta thường thấy : Khi nào tâm niệm vui vẻ, thì thấy cảnh
vật chung quanh đều vui, cho đến ngủ chiêm bao cũng thấy
cảnh vui hiện ra. Mỗi mỗi đều do tâm mình biến hiện ra
cả, nên có câu :
Cảnh
nào cảnh chẳng reo sầu
Người
buồn cảnh có vui đâu bao giờ !
XII.
Lửa từ chân tâm biến hiện.
-A
Nan, lửa không có tự thể, nó chỉ gá các duyên mà sanh. Ông
hãy xem những nhà ở trong thành này, khi họ muốn nấu ăn,
thì họ cầm cái kiếng (dương toại) ra trước mặt trời
lấy lửa. Này A Nan, lửa ấy nếu nhân hòa hợp mà có, thì
nó từ trong cái kiếng sanh, từ bùi nhùi ra, hay từ nơi mặt
trời đến ?
Nếu
lửa từ mặt trời đến, cháy được bùi nhùi trong tay của
ông, thì những cây rừng và các cảnh vật nó vừa trải qua
đó, đáng lẽ đều phải bị cháy cả.
Còn
nói “lửa từ trong kiếng sanh ra cháy cái bùi nhùi” sao cái
kiếng người cầm đó không cháy ? và cả bàn tay của người
cầm cũng không cháy ?
Còn
nói “lửa từ trong bùi nhùi sanh” thì cần gì phải có bàn
tay cầm cái kiếng hứng ánh sáng mặt trời, mới có lửa
?
Ông
nên chín chắn xem xét : Cái kiếng ở nơi tay người cầm,
mặt nhựt thì ở trên trời, bùi nhùi nằm tại đất. Cái
kiếng với mặt trời vẫn xa nhau, không phải hòa, không phải
hợp. Vậy lửa này từ đâu mà đến cháy đây ? Không lẽ
lửa không từ đâu cả mà tự có ?
Các
ông không biết trong chân tâm, tánh (bản thể) của lửa (tâm)
là thật không; Tánh (bản thể) của không (tâm) mới là thật
lửa. Nó vẫn thanh tịnh khắp giáp cả pháp giới, tùy theo
tâm của chúng sanh phân biệt như thế nào, thì nó hiện ra
như thế nấy.
Nếu
một người cầm kiếng lấy lửa, thì một chỗ đó có lửa
hiện ra. Nếu tất cả người trong thế gian đều cầm kiếng
lấy lửa, thì khắp cả trong thế gian đều có lửa hiện
ra; chỉ tùy theo vọng nghiệp của chúng sanh mà hiện đó thôi,
chớ không có xứ sở gì. Người thế gian không biết, dùng
thức tâm hư vọng phân biệt, mê lầm chấp cho nhân duyên
sanh, hoặc tự nhiên có v . v . Phàm có nói năng, phân
biệt đều không đúng sự thật.
Chú
Giải.
Đại
ý như đoạn trên (đất).
XIII.
Nước từ chân tâm biến hiện.
-A
Nan, tánh nước không định, đứng chẩy chẳng thường. Như
ở trong thành Thất La, các vị đại huyễn sư, như ông Ca
Tỳ La Tiên, Chiết Ca La Tiên, Bác Đầu Na và Ha Tát Đa, v .
v . Các vị này thường lấy nước mặt trăng hòa với thuốc.
Họ chờ đêm nào trăng sáng tỏ, cầm hột châu phương chư
hứng dưới mặt trăng, thì có nước chẩy ra ở thau.
Vậy
nước ấy từ hột châu sanh ? Hay từ hư không ra ? hay từ
mặt trăng đến?
A Nan,
nếu từ mặt trăng đến, nó làm cho hột châu ra nước; vậy
thời từ phương xa đến đây, trong khi trải qua cây cối các
cảnh vật, nó phải đều làm cho ngập ướt cả, nếu thế
thời cần gì phải có hột châu phương chư (Hột châu lấy
nước) ? Xong sự thật các cảnh vật không ngập ướt, thì
rõ ràng nước ấy không phải từ mặt trăng đến.
Còn
nói “nước từ hột châu ra” thì hột châu nếu đã chẩy
ra được nước, đáng lẽ lúc nào nó cũng tự chẩy ra được
nước, cần gì phải chờ nửa đêm hứng mặt trăng sáng mới
có nước ?
Còn
nói “nước từ hư không sanh”, thì hư không vô biên, nước
cũng phải vô biên; vậy thì từ nhân gian cho đến thiên thượng,
tất cả cỏ cây, đất đai đều bị ngập lụt cả.
Ông
nên chín chắn xem xét : Mặt trăng ở trên trời, hột châu
ở tay người cầm, cái thau hứng nước lại để dưới đất.
Mặt trăng với hột châu cách xa nhau, không phải hòa
cũng không phải hợp, vậy nước đó từ đâu mà đến ? không
lẽ không nhân đâu mà tự có.
Ông
không biết trong chân tâm, tánh (bản thể) của nước (tâm)
thật không; tánh (bản thể) của không (tâm) thật nước,
vốn sẵn thanh tịnh, khắp giáp cả pháp giới, tùy tâm của
chúng sanh phân biệt như thế nào, thì nó ứng hiện như thế
ấy. Một người cầm hột châu lấy nước, thì một chỗ
đó có nước. Nếu tất cả người trong thế gian đều cầm
hột châu lấy nước; thì khắp cả trong thế gian đều có
nước. Nước tùy theo nghiệp của chúng sanh mà phát hiện
ra; nó không có phương hướng xứ sở gì. Người trong thế
gian không biết, lầm chấp nhân duyên sanh, hoặc tự nhiên
có, đều do thức tâm vọng chấp, phân biệt cả. Phàm có
nói năng, luận bàn thế nào, cũng đều không trúng cả.
XIV.Gió
từ chân tâm biến hiện.
-A
Nan, tánh gió không định, động và tịnh chẳng thường. Như
ông thường đắp y đi vào đại chúng, cái chéo y của ông
phất qua người gần bên, thì có một chút gió quạt đến
mặt người. Vậy gió này từ chéo y ra, hay từ hư không đến,
hay từ nơi mặt người sanh ?
A Nan,
nếu gió này từ cái y ra, thì cái y đã thành gió, vậy nó
phải bay bổng rời khỏi thân ông, và ông đắp y thành ra
đắp gió hay sao ? Ta nay xổ cái y ra, ông hãy thử xem coi gió
ở chỗ nào ? Chẳng lẽ trong y có chỗ cất (để) gió !
Nếu
gió từ hư không sanh, vậy thời khi ông không động cái y,
sao chẳng có gió ? Và hư không thường còn, thì gió cũng phải
thường sanh, nếu khi nào không có gió, thì hư không phải
diệt. Song thật ra gió có thể diệt (hết) chớ hư không làm
sao diệt được.
Nếu
hư không có sanh diệt, thời không gọi là hư không; còn gọi
là hư không thời làm sao lại sanh ra gió được.
Còn
ông nói “gió từ nơi mặt người bị phất sanh”; nếu
thật thế, thì gió phải phất đến mặt ông mới phải, tại
sao nó phất ngược trở lại mặt người bị phất.
Ông
nên chín chắn xem xét : Cái y là ở nơi ông, cái mặt là thuộc
về người kia (Bị phất), còn hư không thì tự yên lặng;
gió (động) với hư không (lặng) tánh khác nhau, không hòa
không hợp, vậy gió từ nơi đâu mà phát động đến đây
? không lẽ không từ nơi đâu mà tự có.
Các
ông không biết trong chân tâm, tánh (bản thể) của gió (tâm)
là thật không; tánh (bản thể) của không (tâm) là thật gió,
vốn sẵn thanh tịnh, khắp giáp cả pháp giới, tùy tâm chúng
sanh phân biệt như thế nào, thời nó hiện ra như thế nấy.
Một người phất y, thì cả thế giới đều có gió, theo nghiệp
của chúng sanh mà phát hiện, không có phương hướng, xứ
sở gì. Thế gian không biết, khởi thức tâm phân biệt so
đo, lầm chấp là nhân duyên sanh, hoặc tự nhiên có v . v .
đều không đúng cả.