THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học   Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả
Luận
Giảng Giải Kinh
.

 
TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT HAY LÀ
ĐẠI CƯƠNG KINH LĂNG NGHIÊM
Dịch Giả Thích Thiện Hoa
Giảng tại Phật Học Đường Nam Việt 7-11-1954 (12-10 Giáp-ngọ)
BÀI   THỨ   HAI

BẨY  ĐOẠN  PHẬT  HỎI  VỀ  TÂM.

Trước khi muốn chỉ chân tâm, Phật gạn hỏi cái vọng tâm. Khi đã hiểu vọng tâm rồi, thì về sau Phật chỉ cái Chân tâm, mới khỏi lầm. Cũng như người, trước phân biết được thau, đồng và vàng giả rồi, thì về sau chỉ đến vàng thiệt, họ mới nhận được chắc chắn, nên trước Phật hỏi về cái tâm.

Phật kêu A Nan hỏi rằng : 
-Trong giáo pháp ta, ông ngưỡng mộ cái gì mà phát tâm xuất gia ?

A Nan thưa :
-Vì thấy có 32 tướng tốt của Phật, sanh lòng hâm mộ nên phát tâm xuất gia.

Phật hỏi :
-Ông nói : “Vì thấy 32 tướng tốt của Phật, sanh lòng hâm mộ”. Vậy ông lấy cái gì để thấy, và cái gì để hâm mộ ?

A Nan thưa :
-Con lấy mắt để thấy và dùng tâm để hâm mộ.

Phật hỏi :
-Ông nói “lấy con mắt để thấy và cái tâm để hâm mộ “, vậy ông có biết cái tâm và con mắt ở chỗ nào không ?

Ông từ hồi nào đến giờ, nhiều kiếp luân hồi sanh tử, cũng vì tâm và mắt ! Nếu ông không biết nó ở chỗ nào, thì không bao giờ hàng phục được phiền não trần lao.

Cũng như vị quốc vương, bị giặc đến xâm chiếm, đem binh dẹp trừ, nếu không biết giặc trú ngụ ở chỗ nào thì không bao giờ dẹp được giặc.

I. A Nan chấp tâm ở trong thân.

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, không những một mình con hiểu, mà tất cả chúng sanh cũng đều cho “con mắt ở trên mặt, còn tâm ở trong thân !”

Phật hỏi :
-Ông ngồi trong giảng đường này, trước hết thấy cái gì ? và vì sao ông thấy được cây cối ngoải vườn ?

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, con ngồi trong giảng đường, trước thấy Phật cùng chư Tăng, và nhờ mở các cửa, nên con xem ra ngoài, thấy được cây cối, cảnh vật bên ngoài.

Phật hỏi :
-Có ai ngồi trong nhà, không thấy các vật trong nhà, mà lại thấy được cảnh vật bên ngoài không ?

A Nan thưa :
- Bạch Thế Tôn, người ngồi trong nhà, mà không thấy các vật trong nhà, lại thấy các vật bên ngoài là không có lý.

Phật nói :
-Tâm ông cũng thế, nếu thật ở trong thân ông, thì trước hết nó phải thấy tim, gan, ruột, phổi, hoặc móng tay ra, tóc dài, gân chuyển, mạch động ở trong, rồi sau do mở mắt, ông mới thấy được các cảnh vật bên ngoài. Cũng như người ngồi trong giảng đường này, trước hết thấy Phật cùng chúng Tăng và những vật trong giảng đường, rồi sau nhìn ra ngoài, mới thấy núi sông cây rừng  v . v .

Vậy có ai trước thấy tim, gan, ruột, phổi ở trong thân, rồi sau mới thấy các vật ở bên ngoài không ? nếu không, thì ông nói “Tâm ở trong thân” là phi lý.

II. A Nan chấp tâm ở ngoài thân.

A Nan bạch Phật :
-Bạch Thế Tôn, cứ theo lý luận trên thì con hiểu : tâm ở ngoài thân. Vì nếu tâm ở trong thân, sao không thấy được các vật ở bên trong, mà chỉ thấy cảnh vật ở bên ngoài. Vậy nên con biết tâm ở ngoài thân. Cũng như cái đèn đốt ngoài nhà, nên chẳng sáng được trong nhà. Nghĩa này đúng rồi, chắc không còn lầm lạc nữa.

Phật hỏi A Nan :
-Cái tâm của ông, nếu ở ngoài thân, thì thân và tâm ông không dính dấp với nhau. Vậy trong lúc tâm biết, thân phải không biết; còn khi thân biết, thì tâm phải không biết.

Cũng như ta với các thầy Tỳ kheo, vì thân thể khác nhau, nên khi ta thọ trai, các thầy không no được.
 

Vậy ông thử xem cánh tay của ta đây, trong lúc mắt (thân) ông thấy, tâm có phân biệt không?

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, trong lúc mắt con vừa thấy, thì tâm liền phân biệt.

Phật hỏi :
-Nếu mắt ông vừa thấy, tâm liền phân biệt, thì thân và tâm không thể rời nhau được. Như thế thì ông nói “Tâm ở ngoài thân” cũng không phải.

III. A Nan chấp tâm ẩn trong con mắt.

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, theo lời Phật bác : “Tâm không phải ở trong thân, vì nó chẳng thấy được bên trong; cũng không phải ở ngoài thân, vì mắt (thân) vừa thấy, tâm liền phân biệt, rõ ràng thân tâm không rời nhau”.

Cứ theo lý luận này, thì con hiểu : Tâm núp trong con mắt; cũng như con mắt của người mang kiếng, nên chỉ thấy các cảnh vật bên ngoài, mà không thấy được bên trong.

Phật bảo A Nan :
-Nếu tâm ông núp trong con mắt, cũng như con mắt người mang kiếng, vậy tôi hỏi ông : “Người mang kiếng, trong khi thấy cảnh vật, họ có thể thấy được cái kiếng mang đó không ?”

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, thấy.

Phật hỏi :
-Nếu tâm ông cũng như con mắt người mang kiếng,vậy sao người mang kiếng có thể thấy được cái kiếng mang, còn tâm ông lại không thấy được con mắt của ông ?

Nếu tâm ông thấy được con mắt của ông, thì con mắt của ông thành ra cảnh bị thấy, nó phải ở ngoài thân ông mới phải.

Nếu thân, tâm ngoài nhau, thì làm sao mắt ông vừa thấy, tâm liền phân biệt được ?

Nếu tâm ông không thấy được con mắt của ông, thì sao ông lại tỷ dụ như con mắt người mang kiếng ?

Thế nên ông nói “Tâm núp trong con mắt, như con mắt người mang kiếng núp sau cái kiếng”, cũng không phải.

IV. Ông A Nan chấp trở lại, Tâm ở trong thân.

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, bây giờ con nghĩ : Nhắm mắt thấy tối, là tâm thấy bên trong (gan, ruột); nhờ cửu khiếu, thất huyệt (các giác quan) trống hở, nên mở mắt thấy sáng, là tâm thấy các cảnh vật bên ngoài. Chẳng biết nghĩa này có đúng không ?

Phật hỏi A Nan :
-Ông nói “Nhắm mắt thấy tối là thấy bên trong”; vậy thì khi ông thấy tối, cảnh tối đó có đối trước mắt ông hay không ?

Nếu cái tối không đối trước mắt, thì không thành cái nghĩa thấy.

Còn có đối trước mắt, thì thấy tối là  thấy trước, sao ông lại nói thấy trong ?

Nếu ông cho thấy tối là thấy trong thân (gan, ruột) thì khi ở trong nhà tối không có ánh sáng, ông thấy tối đó, cũng là thấy gan ruột của ông sao ?

Lại nữa, nếu nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy trong thân, mở mắt thấy sáng là thấy ở ngoài, vậy sao ông không thấy được cái mặt ?

Cái mặt ở ngoài, ông mở mắt còn không thấy, thi khi nhắm mắt thấy tối, làm sao chắc là thấy trong thân ?

Nếu ông thấy được cái mặt ông, thì con mắt với tâm hiểu biết của ông, phải ở ngoài thân ông.

Nếu tâm và mắt ở ngoài thân, thì nó không phải là tâm mắt của ông rồi.

Nếu ông cho tâm, mắt (ngoài thân ông) đó cũng là ông, vậy thì nay ta thấy được mặt ông, thế ta đây cũng là tâm, mắt của ông sao ?

Lại nữa, trong lúc con mắt ông biết, thì thân ông phải không biết, khi thân ông biết, thì con mắt ông phải không biết (vì ông chấp nó rời nhau).

Nếu ông cho cả hai đều biết, thì một mình ông phải có hai cái biết, vậy khi tu hành chứng quả, ông sẽ thành hai vị Phật sao ?
Thế nên phải biết : Ông nói : “thấy tối là thấy bên trong”, cũng không có lẽ phải.

V. A Nan chấp tâm tùy chỗ hòa hợp mà có.

A Nan thưa :
-Bạch Thế Tôn, con thường nghe Phật dạy tứ chúng : “Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh. Do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh”. Nay con suy nghĩ, thì cái “suy nghĩ” đó là tâm của con; tuỳ hoà hợp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có, không phải ở trong, ngoài và chính giữa.

Phật hỏi A Nan :
-Ông nói tùy hòa hợp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có, như thế  thì cái tâm của ông không  có thật thể.

Nếu tâm ông không có hình thể (tức là không có ) thì lấy cái gì mà hoà hợp ?

Còn nói có hình thể, thì ông thử lấy tay mắt đánh qua tay trái, ông liền biết đau. Vậy cái tâm biết đau này, là từ trong thân chạy ra đó biết đau, hay từ bên ngoài chạy vào ?

Nếu ông nói nó từ trong thân chạy ra thì trước hết nó phải thấy gan ruột trong thân của ông.

Còn nếu nó từ ngoài hư không chạy vào, thì trước hết nó phải thấy cái mặt của ông..

A Nan thưa :
-Con mắt thì thấy, còn cái tâm thì biết; Phật nói “cái tâm thấy”, nghĩa đó không phải.

 Phật hỏi :
-Nếu con mắt thấy thì những người chết, con mắt vẫn còn, sao họ không thấy vật ?

Nếu người chết, mà vẫn còn thấy vật, thì sao gọi là người chết ?

Lại nữa, nếu cái tâm hiểu biết của ông có thật thể, thì có một thể hay nhiều thể ? Ở khắp cả thân ông, hay không khắp cả thân ?

Nếu tâm ông có một thể, và ở khắp cả thân, thì lấy tay đánh thử  một chỗ trên thân ông, đáng lẽ cả thân đều biết đau hết, vì tâm ở khắp cả thân và đồng một thể.

Nếu cả thân đều biết đau, thì cái đau đó lẽ ra không có nhất định ở chỗ nào.

Nếu cái đau có chỗ nhất định, thì ông nói : cái tâm một thể và ở khắp cả thân, cũng không phải.

Còn nói nó nhiều thể, thì thành ra nhiều người; vậy cái nào là tâm của ông ?

Nếu nó không ở khắp thân thể, vậy ông đồng thời vừa đụng trên đầu, vừa đụng dưới chân, khi ấy, nếu đầu biết đau, thì chân phải không biết, còn chân biết đau, thì đầu phải không biết.

Nhưng thật tế thì, đầu và chân của ông cả hai đều biết đau.

Thế nên ông nói “ tuỳ hòa hợp chỗ nào, thì tâm tùy theo đó mà có “ là không phải lý.

VI. A Nan chấp tâm ở chính giữa.

A Nan bạch Phật :
- Con nghe Phật cùng với ngài Văn Thù  v.  v . khi luận về “thật tướng” (chân tâm), Phật có nói rằng : “Tâm chẳng ở trong và cũng không ở ngoài”.

Nay con suy nghĩ : Nếu tâm ở trong thân, sao chẳng biết được bên trong ? còn nói tâm ở ngoài, thì sao thân tâm lại biết nhau ? Như thế thì “tâm “ chắc ở chính giữa.

Phật hỏi :
-Ông nói “Tâm ở chính giữa”, vậy cái “chính giữa” đó ở chỗ nào ? Phải có nhứt định và rõ ràng : ở nơi thân hay ở nơi cảnh?

Nếu ở nơi thân, thì ở một bên thân, hay ở giữa thân ?

Nếu ở một bên thì không phải “chính giữa”; còn ở chính giữa thân, thì đồng với ở trong thân như đã nói trước. nghĩa là : tâm phải trước thấy tim, gan, ruột, phổi ở bên trong.

Còn như ở về cảnh, thì có thể nêu (cái giữa) ra được, hay không nêu ra được ?
Nếu không nêu ra được, thì đồng như không có, còn nêu ra được, thì không thể nhứt định chỗ nào là chính giữa. Vì sao ? Như người lấy cây cắm chính giữa, nếu người ở phía Đông thì xem thấy cây ấy cắm ở phía Tây; còn người ở phía Nam thì thấy cây cắm ở phía Bắc.

Cái cây cắm nêu đó đã không nhất định chỗ nào là chính giữa, thì cái tâm của ông cũng phải lộn lạo không định.

A Nan thưa :
-Con nói “chính giữa” không phải hai chỗ ấy. Như Phật thường nói “con mắt đối với sắc trần, sanh ra nhãn thức”; một bên con mắt thì có phân biệt, một bên sắc trần lại không phân biệt, cái thức sanh chính giữa, đó là chỗ của tâm ở.

Phật hỏi :
-Ông nói “tâm ông sanh chính căn và trần cảnh. Vậy thì cái tâm thể này, gồm cả căn và cảnh, hay không gồm cả hai.

Nếu gồm cả hai, thì căn với cảnh lộn lạo (căn không thành căn, và cảnh không thành cảnh ; vì vừa biết mà cũng vừa không biết). Xong trần cảnh thì không có tri giác, còn căn lại có tri giác, hai bên đối lập riêng khác, vậy lấy chỗ nào làm giữa.

Còn như không gồm cả căn và cảnh, thì tâm không có thật thể. Vậy lấy cái gì làm chính giữa ?

Thế nên phải biết : Ông nói “tâm ở chính giữa” cũng không phải.

VII. A Nan chấp cái “không trước” làm tâm.

A Nan thưa :
- Bạch Thế Tôn,  ngày trước con thấy khi Phật cùng với ông Đại Mục Kiền Liên, Tu Bồ Đề,  v .   v .  nói pháp, có dạy rằng : “Cái tâm hiểu biết phân biệt, không ở trong thân, không ở ngoài thân, không ở chính giữa, không ở chỗ nào cả; “không trước tất cả” đó gọi là tâm”. Vậy nay con lấy cái “không trước” đó làm tâm, chẳng biết có được hay không?

Phật hỏi :
-Ông nói lấy cái “không trước” tất cả làm tâm. Vậy tôi hỏi ông : tất cả các vật tượng trong thế gian này, nào là hư không, thế giới, v . v . Vậy các vật tượng ấy có, mà ông không trước, hay là không, mà ông không trước ?

Nếu các vật tượng ấy không có, thì cũng như lông rùa, sừng thỏ : nó đã không, thời có gì mà trước.
Còn có cái “không trước” thì ông không thể nói rằng “không trước” được. Vì cái gì không có hình tướng thì không, còn cái gì có hình tướng là có. Nếu có hình tướng thì không sao khỏi “không trước” được.

Thế nên ông nói “không trước tất cả làm tâm” cũng không phải.

Chú  Giải

Đã 7 lần gạn về tâm, ông A nan đều không nói trúng. Vậy nên biết : Nếu chưa ngộ được thể tánh chân tâm, thì dù nói cách nào cũng sai cả. Chẳng khác nào như trong nhiếp Đại Thừa luận có cái dụ “kẻ mù sờ voi”. Người sờ nhằm cái chân thì nói con voi như cột nhà, người sờ nhằm cái tai, thì nói voi như ki hốt rác, người sờ nhằm đuôi, thì nói voi như cây chổi quét nhà v . v . Mặc dù sờ đúng nhưng nói và nghĩ thế nào cũng đều sai cả. Phải thấy được chân tướng của con voi, thì nói mới không sai. Chúng ta cũng nên lưu ý : trong kinh này ngài A Nan đại diện cho tất cả chúng sanh mê lầm hiện tại cũng như tuơng lai mà đứng ra thưa hỏi .
Có những đoạn ngài tự trình bày hoặc thưa hỏi rất thấp, là vì những chúng sanh mê lầm bực hạ căn. Có những đoạn sự trình bày hoặc thưa hỏi thâm thúy, là ngài vì những chúng sanh căn tánh bực thượng. Vậy chúng ta không nên căn cứ lời trình bày trên mặt văn tự mà phê phán trình độ của ngài.
 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap
Xx
Xx