PHẦN
BỐN :
NÂNG
CẤP SỰ THỰC HÀNH CỦA CON
PHỐI
HỢP ĐẠI ẤN
VỚI
NHỮNG THỰC HÀNH KHÁC
VÀ
BỐN HOẠT ĐỘNG
Phần
ba là phần kết, nói về việc nâng cấp sự thực hành của
con. Trong thời hành thiền của con, hãy chánh niệm kiểm soát
để không có vọng tưởng lang thang. Nếu những tư tưởng
của con thêm nhiều, hãy bỏ sự hành thiền qua một bên và
nghỉ ngơi. Trong thời kỳ xuất định, nếu con sa vào phóng
dật, hãy xen kẽ với những thời hành thiền để trau dồi
tâm không phóng dật.
Như
thế bạn phải tự đánh giá và biết khi nào cần nghỉ ngơi
một lát nếu bạn tự thúc đẩy quá sức trong hành thiền
và khi nào cần hành thiền nếu tâm bạn quá phân tán trong
hoạt động hàng ngày. Nhờ một sự luân phiên như vậy bạn
sẽ nâng cấp sự phát triển chứng ngộ Đại Ấn của bạn
mọi lúc.
Khi
nghĩ về cái chết và vô thường, con cần có một tâm thái
thế này, “Về phần cái chết, thân, ngữ, tâm phối hợp
của mình đang đi đến cái chết”. Bấy giờ, con cần nhận
biết bản tánh của cái chết và của tâm nghĩ về cái chết
và như thế thoát khỏi bám níu vào thường và vô thường,
chúng không là gì cả ngoài sự đặt tên do tâm mà ra. Tương
tự khi nghĩ về mọi tai hại của sanh tử luân hồi, con cần
chứng ngộ rằng sanh tử và Niết Bàn giống như hai ngọn
núi gần và xa trong một giấc mộng.
Với
những thực hành như vậy bạn nâng cấp sự chứng ngộ tính
đồng thời của hai cấp độ của chân lý. Trên cấp độ
tương đối hay quy ước, bạn có cái chết, vô thường, khổ
đau của sanh tử..., tất cả đều là những hình tướng hư
vọng nhưng được kinh nghiệm như vậy. Trên cấp độ tối
hậu, cách thế hiện hữu của những hình tướng này là tánh
Không ; chúng không có tự tánh. Hai cấp độ của chân lý,
tương đối và tối hậu, hình tướng và tánh Không, là không
thể tách lìa. Bạn cần sự chứng ngộ đồng thời của cả
hai như hai cánh để bay.
Chớ
đi đến cực đoan rằng những hình tướng này là hoàn toàn
không hiện hữu hay thực sự hiện hữu. Cái trước là chấp
đoạn hay chấp không, cái sau là cực đoan của xác định,
hay chấp hữu. Chứng ngộ tánh Không nhiều đến đâu cũng
không làm cho bạn kém chánh niệm về những thực hành sơ
bộ chung như hành thiền về cái chết.
Hơn
nữa, khi con hành thiền về từ hay bi căn cứ trên sự thấu
hiểu rằng tất cả chúng sanh đã từng là cha mẹ của con,
và tương tự khi con hành thiền về ước muốn và gan dạ
của Động Lực Giác Ngộ của Bồ đề tâm cho đến khi đạt
đến Tâm Giác Ngộ, con cần nhận biết bản tánh của tất
cả những cái ấy. An trụ trong một trạng thái không tạo
tác, hãy đặt mình vào một trạng thái chứng ngộ trong đó
có hai phương diện là Bồ đề tâm tương đối và Bồ đề
tâm tối hậu không do tạo tác và vượt khỏi mọi tác ý.
Làm như vậy là sự không thể tách lìa của tánh Không và
đại bi.
Từ
là ước muốn cho mỗi người được hạnh phúc và bi là cho
họ thoát khỏi khổ. Vì bạn đã chịu những tái sanh từ
vô thủy, lúc nào đó mỗi người từng là cha mẹ của bạn.
Nhớ lòng tốt của họ và muốn đền đáp, bạn cần khai
triển Bồ đề tâm nguyện, tư tưởng đạt đến Phật tánh
để có thể giúp đỡ họ một cách hiệu quả nhất. Sự
gan dạ của Bồ đề tâm là dấn thân vào những thực hành
sẽ đem lại cho bạn Giác Ngộ, như sáu ba la mật v.v... Tất
cả các cái ấy là Bồ đề tâm tương đối. Bồ đề tâm
tối hậu là sự chứng ngộ tánh Không.
Điều
được đòi hỏi là một chứng ngộ đồng thời Bồ đề
tâm tương đối và Bồ đề tâm tối hậu cùng như nhau như
hai cấp độ của chân lý. Như khi bạn thiền định về Guru
Yoga bạn quán tưởng Guru của bạn trong hình dạng Phật Vajradhara
với bản tánh của đức Phật Vajradhara, bạn làm điều như
nhau đó ở đây. Có hình dạng cho thiền định của bạn là
lòng bi, trong khi thấu hiểu bản tánh của hình dạng đó là
tánh Không. Đây là cách để khai triển sự chứng ngộ tính
bất nhị của lòng bi và tánh Không.
Cũng
thế, khi con nhận quán đảnh cái bình trong bốn quán đảnh
tantra, bấy giờ con được cho phép thực hành giai đoạn phát
triển và quán tưởng bản thân con là một bổn tôn. Bấy
giờ khi con nghĩ về bản thân con như vị nào trong bốn hóa
thần bổn tôn thiền định chánh và con thành tựu sự sáng
tỏ trong thiền định của con về quang cảnh chung quanh và
mọi chúng sanh trong đó như là những hóa thần và mọi âm
thanh là thần chú, hãy nhìn vào bản tánh của điều này.
Thực hành trong một trạng thái hợp nhất hai giai đoạn phát
triển và thành tựu, thoát khỏi mọi tư tưởng ý niệm là
Đại Ấn của giai đoạn phát triển.
Có
nhiều hóa thần bổn tôn thiền định tantra hay những Yidam
như Heruka hay Cakrasamvara, Hevajra, Guhyasamaja và Kalacakra. Ở giai
đoạn phát triển bạn quán tưởng bản thân bạn như những
hóa thần bổn tôn, quang cảnh chung quanh là mạn đà la nơi
cư ngụ cõi tịnh độ của các ngài, lời của bạn là thần
chú của các ngài, những tư tưởng của bạn là tánh giác
nguyên sơ, những hành động của bạn là hoạt động giác
ngộ của đức hạnh của các ngài v.v... Điều này để loại
bỏ sự bám chấp ám ảnh vào những hình tướng bình thường
và sự bám trụ vào chúng cho là thật có và hiện hữu tự
thân.
Giai
đoạn thành tựu, theo sự xếp loại của Đại Ấn, được
chia thành giai đoạn có dấu hiệu và giai đoạn không có dấu
hiệu. Cái trước là những thiền định về những hệ thống
năng lực của thân vi tế trong bối cảnh của những quán
tưởng thuộc giai đoạn phát triển và được làm để dẫn
mọi khí-năng lực vào kinh mạch trung ương cho sự chứng nghiệm
phúc lạc của tánh Không. Cái sau là những thiền định Đại
Ấn được làm trong trạng thái này.
Trong
thiền định, có hình tướng hay hình dạng sáng tỏ của một
bổn tôn hay thần chú trong khi thấu hiểu bản tánh Không của
nó, đó là sự phối hợp giai đoạn phát triển và giai đoạn
thành tựu hay sự hỗn hợp của Đại Ấn với giai đoạn
phát triển. Bất cứ cái gì bạn quán tưởng đều là sự
hợp nhất không thể phân của hình tướng và tánh Không.
Bấy
giờ con cần thiền định bằng cách áp dụng Tịnh Quang. Nhận
biết tự tánh mọi lúc, đi, ngồi, nằm hay nói, đó là sự
hỗn hợp của mọi sự với Đại Ấn.
Bạn
cần áp dụng sự chứng ngộ Tịnh Quang của mọi sự như
là một giấc mộng vào bất cứ điều gì bạn làm. Nếu trong
một giấc mộng bạn thấu hiểu bạn đang mộng, thì bạn
có thể kiểm soát hoàn toàn giấc mộng của bạn. Bạn có
thể bay hay làm điều gì bạn muốn. Cũng thế trạng thái
thức của bạn chỉ là một giấc mộng đánh lừa. Khi bạn
thấu hiểu rằng không có cái gì có hiện hữu tự thân thật
sự, thì không có giới hạn nào cho điều bạn có thể làm.
Với sự xác tín tuyệt đối sự bất nhị của tánh Không
và hình tướng, thoát khỏi mọi nghi ngờ nhỏ nhất, bạn
sẽ không còn vô minh giới hạn và có thể kiểm soát các
nguyên tố và v.v...
Hơn
nữa, thực hành nhất tâm trong một trạng thái hai giai đoạn
phát triển và thành tựu không tách biệt, hay định và quán
bất nhị, là hoàn hảo. Khi điều này trở nên vững chắc,
bấy giờ con có thể ẩn mình trong những nơi hoang vắng đáng
sợ và với tỉnh giác hãy tu theo cái thấy (tri kiến), những
thiền định và những hoạt động. Thực hành như vậy gọi
là hoạt động bí mật.
Hoạt
động bí mật là đến những nơi như nghĩa địa, sa mạc
hay núi hoang, và ngủ gối đầu lên một xác chết hay phơi
ra giữa chốn hoang dã. Điều này để tự kiểm chứng bạn
xem những trạng thái mê tín và mê lầm của tâm có còn khởi
lên không, và để có thể khảo sát chúng. Thử thách với
hoạt động như vậy mà chưa đạt đến định tâm và quán
chiếu thấu suốt là dại dột và có nguy cơ là bạn sẽ điên.
Bởi thế đòi hỏi phải thận trọng cùng cực.
Khi
con đã trở nên rất vững vàng trong đó, không xao lãng phóng
dật, bấy giờ con có thể rong chơi và hòa nhập với những
đám đông. Việc dùng điều này như con đường và thực hành
nó được gọi là hoạt động trong những đám đông.
Đây
là một loại thực hành tương tự với cái trước theo nghĩa
nó tạo ra một cơ hội để kiểm tra sự tiến bộ của bạn
và khảo sát những mê lầm, bám luyến và những ác cảm khởi
lên trong cảnh ồn ào, đông đúc và hỗn độn.
Theo
những khác biệt này của hoàn cảnh, tâm con vững vàng an
trụ hay không, mà có ba loại người : lớn, trung bình và nhỏ.
Có
một số người có thể ở một mình nhưng không thể giáp
mặt với những đám đông và sự bận rộn. Những người
khác sung sức trong hoạt động với nhiều người, nhưng không
thể chịu đựng được sự cô đơn một mình. Cốt yếu là
có thể ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào với an định và quán
chiếu phối hợp.
Không
có dấu hiệu đặc biệt nào phân biệt những người loại
lớn. Nhưng khi họ đạt đến con đường lớn lao của sự
chuẩn bị và thực hành với sự hiển xuất của những hình
tướng, họ có phong cách của Heruka và hòa lẫn với hoàn
cảnh đáng sợ mà không có bất kỳ tư tưởng nào về cái
nên ăn hay không, cái sạch hay dơ, cái đúng hay sai. Thực hành
theo cách này, họ tiến bộ dần dần qua con đường chuẩn
bị, và khi họ đạt đến con đường thấy họ chiến thắng
những thúc đẩy của Ma, những mê lầm và những phát tâm
theo thừa nhỏ. Như thế, đấy được gọi là hoạt động
đem lại chiến thắng khắp mười phương.
Theo
sự diễn tả chung của Đại thừa, có năm con đường tiệm
tiến đến Giác Ngộ. Với sự khai triển của Bồ đề tâm,
bạn đi vào con đường thứ nhất, con đường tích tập trên
đó bạn khai triển định tâm. Trên con đường thứ hai của
sự chuẩn bị bạn hoàn thiện quán chiếu để cho trên con
đường thấy bạn có được một thấu hiểu trần trụi không
ý niệm về tánh Không trong thời tham thiền. Đến đây bạn
đi vào địa thứ nhất của mười địa Bồ tát. Trong con
đường thứ tư, con đường tham thiền, bạn hành thiền hơn
nữa để loại bỏ những chướng ngại ngăn cản bạn thấy
tánh Không suốt mọi thời. Ở con đường không học nữa,
bạn đạt được trạng thái giác ngộ của một vị Phật.
Heruka
là một danh từ chung cho bất kỳ hóa thần thiền định nam
giới nào, hay có thể ám chỉ riêng Cakrasamvara. Những người
căn cơ lớn nhất, như Tilopa và Naropa, có đồ trang sức bằng
xương và y phục da cọp của một Heruka khi ở trên con đường
chuẩn bị. Các ngài hành động như những người điên, ăn
bất kỳ thứ gì đến, không khác con heo. Có nhiều câu chuyện
của các Đại Thành Tựu giả (Mahasiddha), ăn những đồ bị
cự tuyệt hay ruột cá. Thực hành theo cách ấy, các ngài chiến
thắng đối với mọi mê tín, thành kiến và bám chấp vào
hiện hữu nội tại, gồm chung là “những quỷ Ma”. Đây
là một thực hành cực kỳ cao cấp để có thể đạt được
tri giác trần trụi về tánh Không.
Về
mặt những người khác, họ làm việc cực kỳ năng nổ cho
sự lợi lạc của chúng sanh khi dấn thân vào hoạt động
ở trong những đám đông. Bởi thế hoạt động này cũng được
xem là tiến bộ với chính bản thân Đại Ấn.
Đối
với những người bén nhậy đặc biệt, không cần phải nâng
cấp (sự thực hành của họ), vì họ ở trong Pháp thân, trong
đó không có cái gì để tham thiền về hay có ai để tham
thiền. Đối với những người không như vậy, có nhiều phương
pháp để nâng cấp sự thực hành của họ và cần học chúng
từ miệng Guru của họ. Những phương pháp chung là luân phiên
giữa thiền định và xuất định (sau thiền định), thực
hành con đường của thừa chung (tham thiền về vô thường
v.v... theo Đại Ấn), theo đuổi những phương pháp tantra (theo
Đại Ấn), và dấn thân vào bốn loại hoạt động. Nỗ lực
và thực hành theo cách này là điểm thứ nhất để nâng cấp.
NĂM
TÀ KIẾN, BA THIỆN XẢO
VÀ
BỐN THÂN PHẬT
Hơn
nữa, để loại bỏ những nhiễu loạn con cần xa lìa sự
hấp dẫn ám ảnh với những sự vật như những đối tượng
tốt và xấu.
Một
cách quy ước, quả là có những hành động thiện và bất
thiện. Nhưng một cách tối hậu, những sự vật này không
có hiện hữu nội tại, chân thật như vậy. Nếu bạn nhìn
một số hành động tự thân là thiện, bạn bị lôi cuốn
ám ảnh bởi chúng, hay những cái khác là “tội lỗi”, bạn
cố đẩy xa chúng, sự bám chấp như vậy sẽ ngăn chặn tiến
bộ của bạn.
Cũng
thế, vì ba thời quá khứ, hiện tại, tương lai không thể
kiến lập được (như là thực có), con phải từ bỏ dù một
ý nghĩ, “Tôi sẽ làm việc từ ngay lúc này cho đến khi Giác
Ngộ.” Hãy xác quyết rằng có Giác Ngộ (tức thời) ở trong
mỗi khoảnh khắc.
Một
cách quy ước, có quá khứ, hiện tại, tương lai. Nhưng nếu
những phạm trù này có thực thể như vậy, bấy giờ quá
khứ vẫn luôn luôn ở trong quá khứ và không bao giờ đã
xảy ra. Tương lai thì luôn luôn chưa tới và không bao giờ
tới. Và hiện tại phải mãi mãi như vậy và không bao giờ
chấm dứt. Bởi thế, dầu bắt buộc phải phát Bồ đề tâm,
bạn không nên quan niệm làm việc từ bây giờ cho đến Giác
Ngộ khi điều này đặt nền trên một ý tưởng bạn đang
thực ở trong một “hiện tại” và Giác Ngộ là ở đâu
xa “ngoài kia” trong một tương lai có thực xa xôi.
Do
chính sự kiện những tư tưởng khởi lên và tan biến đúng
trong cùng một khoảnh khắc, Giác Ngộ là ở trong mỗi khoảnh
khắc. Nếu bạn rõ biết về điều này, đó gọi là “Giác
Ngộ trong khoảnh khắc, Giác Ngộ tức thời”. Trong những
thừa khác, bạn đạt đến Giác Ngộ bằng một tiến trình
kéo dài tích tập công đức trải qua ba vô số kiếp. Đã
hẳn sự chứng ngộ tánh Không và Giác Ngộ là kết quả của
tích tập công đức, nhưng vì tâm điều khiển thân và ngữ,
thiền định Đại Ấn về tâm là một thừa tối thượng
để tích tập công đức lớn lao một cách nhanh chóng. Giác
Ngộ tức thời hay trong khoảnh khắc không có nghĩa rằng vô
minh bị trừ diệt một cách thần diệu mà không có nguyên
nhân và rằng bạn không cần thực hành đức hạnh, thiền
định hay không làm cái gì để trở nên Giác Ngộ. Nó có
nghĩa rằng trong mỗi khoảnh khắc bạn có thể Giác Ngộ nếu
bạn rõ biết tánh thường trụ chân thật của thực tại
trong khoảnh khắc đó. Và nếu bạn không biết, bạn rớt
lại trong sanh tử.
Chớ
có chấp tâm con là tầm thường và đời thường. Hãy nhận
ra rằng từ thời vô thủy nó vốn là bản tánh của năm trí
huệ nguyên sơ.
Trí
huệ nguyên sơ biết sự bất nhị của hình tướng và tánh
Không, biết hai cấp độ của chân lý, biết tánh thường
trụ của thực tại. Nó là hiện trạng tự nhiên của tâm
bạn và có năm phương diện hay chức năng, tức là năm loại
trí huệ nguyên sơ. Khi bạn không rõ biết chúng và phủ lên
chúng sự chấp vào thực có, chúng biến thành những mê lầm
chánh.
Trí
huệ nguyên sơ biết tánh Không của thực tại thì phân biệt
đúng đắn giữa cái giả dối và cái chân thật. Bị che phủ
bởi chấp thật, bạn muốn thoát khỏi những đối vật mà
bạn cho là có thật và như thế bạn có tức giận. Không
biết trí huệ nguyên sơ như tấm gương bạn tự che phủ mình
thành nhỏ hẹp và làm mờ tối những đối vật thay vì rõ
ràng phản chiếu hình tướng của chúng, và như thế bạn
có vô minh ngu si. Không biết trí huệ nguyên sơ thấy tự tánh
của sự vật là tánh Không, bạn chọn một số đối vật
là có bản chất đáng ưa hơn những vật khác. Đó là tham
muốn. Không biết trí huệ nguyên sơ thấy sự bình đẳng
của những sự vật trong sự bất nhị của tánh Không và
hình tướng..., bạn tự xem mình tốt hơn những người khác
và như thế là kiêu mạn. Không biết trí huệ nguyên sơ thành
tựu không nỗ lực mọi sự, bạn bị ám ảnh bởi sự thành
công của những người khác và tự mình không làm gì. Đó
là đố kỵ. Hay bạn giữ những sở hữu cho riêng bạn và
không chia xẻ hay để cho những sự vật trôi chảy. Tuy nhiên,
khi bạn thấy rằng tánh của những mê lầm khác nhau này là
một với tánh của năm trí huệ nguyên sơ – và tất cả
năm trí huệ đó trọn đủ trong một mê lầm – bạn chuyển
hóa được mê lầm thành trí huệ nguyên sơ.
Chớ
chấp vào những uẩn, những xứ, những giới như là bất
tịnh. Hãy chắc chắn rằng từ vô thủy chúng đã là những
hóa thần thiền định nam và nữ và những Bồ tát nam và
nữ.
Những
uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Những xứ là sáu
căn và những đối tượng của chúng. Những giới là sáu
căn, sáu trần, sáu thức.
Trong
những tantra khác nhau có nhiều hệ thống liên kết, xem mỗi
một cái trên tương đương với một hóa thần thiền định
nam hay nữ. Một hệ thống như vậy về một trăm hóa thần
được tìm thấy trong “Tử Thư Tây Tạng” (Bardo Thodol).
Vào lúc chết những hóa thần này được phát hiện và xuất
hiện rõ ràng. Nếu bạn nhận ra bản tánh thật sự của các
ngài, bạn được giải thoát, nhưng nếu bạn sợ hãi bạn
sẽ chạy trốn vào một trong những tái sanh bất hạnh.
Hãy
từ bỏ mong muốn được giải thoát chỉ từ nghe và tư duy.
Hãy quyết tâm được giải thoát từ sức mạnh của tham thiền
và của những ban phước của Guru.
Để
tu hành tâm thức của bạn và chiến thắng khổ đau, bạn
phải dựa vào sức mạnh của nghe, tư duy và tham thiền. Trước
hết bạn phải nghe một giải thích đúng đắn về những
giáo lý, chẳng hạn về bản tánh của tâm, và rồi tư duy
về chúng để xác định nghĩa của chúng. Tư duy là giống
như nhìn vào tâm và chất vấn, phân tích về nó tận cùng.
Cuối cùng, khi bạn đã đạt được một xác quyết về bản
tánh của tâm, bạn phải tham thiền và thực sự kinh nghiệm
nó là thế nào. Nhờ sự giúp đỡ của Guru của bạn, bạn
tiến đến chỗ nhận ra nó từ tham thiền của bạn. Như thế
cả ba cái ấy (Văn, Tư, Tu) cần thiết để Giác Ngộ.
Nói
cách khác, hãy từ bỏ năm ý niệm méo mó sai lầm về những
đối tượng, thời gian, bản tánh (của những mê lầm của
con), hiện trạng thực sự của năm uẩn và trí huệ phân
biệt (đến từ nghe, tư duy và tham thiền).
Có
thân trong tư thế căn bản và tâm ban đầu nhất niệm tập
trung, nhìn vào bản tánh của tâm an định khi nó an định
và của tâm chuyển động khi nó chuyển động, đó gọi là
thiện xảo lúc bắt đầu tham thiền. Thoát khỏi mệt mỏi
(bằng cách nghỉ ngơi một tí) khi có sự hợp nhất trọn
vẹn của tâm tập trung và thân trong tư thế căn bản thì
gọi là sự thiện xảo cắt đứt khỏi sự phân tán ở chặng
giữa. Không bị ám ảnh hay hấp dẫn bởi bất cứ ân điển
tuyệt vời nào khởi lên (như lạc, sáng tỏ hay vô niệm)
thì gọi là thiện xảo trong sự trau dồi những ân điển
vào lúc chót. Con cần tự tu hành ba thiện xảo này.
Bốn
thân Phật có thể được hiểu theo tâm.
Những
hình tướng khác nhau đến với tâm và từ tâm là Hóa thân.
Trí huệ của Hóa thân là Báo thân. Tánh Không của Hóa thân
là Tự Tánh thân hay Thân Tự Nhiên và sự không tách biệt
của cả ba cái là Pháp thân hay Thân Chân Lý.
Rất
thường, những định nghĩa Pháp thân và Tự Tánh thân đổi
lẫn nhau. Một thí dụ tương tự nổi tiếng để hiểu ba
thân này là Pháp thân như hư không, Báo thân như mặt trăng
và Hóa thân như ảnh phản chiếu của mặt trăng trong nước.
Bạn không thể có mặt trăng mà không có hư không và không
thể có ảnh mặt trăng phản chiếu độc lập với mặt trăng.
Cũng thế tánh Không, tánh giác và hình tướng xuất hiện
của tâm là tương quan và không thể tách lìa.
Khi
con đã xác định rằng đây là hiện trạng thực sự của
mọi sự vật – hình tướng, hiện hữu, sanh tử, Niết Bàn
– và đã xác quyết rằng mọi sự thoát khỏi mọi cực biên
hiện hữu do tâm tạo tác ra và lìa sanh, diệt và trụ, bấy
giờ hãy đặt tâm con nhất niệm vào một trạng thái thoát
khỏi mọi mong cầu và lo toan, lấy và bỏ. Đây là điểm
thứ hai của nâng cấp thực hành.
BA
CHỖ CON CÓ THỂ LẠC
VÀ
BỐN CHỖ CON CÓ THỂ MẤT
TÁNH
KHÔNG
Hơn
nữa, vì con sẽõ lạc vào Ba Cõi nếu con bị ám ảnh bởi
ba thứ lạc, sáng tỏ và vô niệm, thế nên chớ bám níu vào
những ân điển này như là tối thượng, bất kể cái gì
khởi lên, tốt hay xấu.
Nếu
bạn bị hấp dẫn bởi ân điển lạc và bám nắm nó cho là
thật, bạn sẽ tái sanh làm một vị trời trong cõi dục ;
nếu với sáng tỏ, trong cõi sắc ; và nếu với vô niệm trần
trụi, trong cõi vô sắc.
Một
khi con đã xác quyết tánh Không nhờ quán chiếu rằng những
sự vật vốn không phải một cũng không phải nhiều (chẳng
hạn tâm và thân không phải hoàn toàn là một cũng không hẳn
là khác), con có thể nghĩ rằng mọi sự bản chất trọn vẹn
là không hay phủ định theo trí thức rằng mọi sự hoàn toàn
là không và không có cái gì hiện hữu dù một cách quy ước.
Nếu con lấy quan điểm này làm sự tham thiền, con lạc mất
tánh Không về mặt thực tánh của nó. Bởi vì con có thể
trở nên bác bỏ nhân quả, con phải từ bỏ những thiền
định bám vào mọi sự hoàn toàn không và đặt nền trên
một cái không do trí thức tạo ra như vậy. Hãy nhìn vào bản
tánh của sự bám chấp hoàn toàn không này và không kiến
lập một cách giả tạo bất cứ loại tưởng nào.
Nếu
bạn nhìn vào bản tánh của tư tưởng bám chấp vào hoàn
toàn không, nó sẽ tự động chìm lặng và tan biến ngay tại
chỗ của nó như bất kỳ tư tưởng nào khác. Bản tánh của
mọi tư tưởng, dầu vi tế như chấp không, chính là tánh
tỉnh giác trong sáng, sống động.
Khi
con không có quán chiếu rằng mọi sự là trống không – cả
những vọng tưởng cần đoạn trừ cũng như đối thủ của
chúng (tức là tánh Không), bấy giờ khi nhiều vọng tưởng
hay tư tưởng xấu khởi lên trên dòng tâm thức, con có thể
xem chúng như kẻ thù và nghĩ, “Chúng đang giết chết cơ
hội giải thoát của ta.” Rồi con nghĩ, “Những cái này
cần được hủy diệt bởi tánh Không”, con chấp cả hai
thứ ấy là vật có thật cần phải đoạn trừ và cái có
thật để giúp đỡ. Thiền định về tánh Không như thế
này là lạc mất tánh Không do tạo ra cho nó một đối thủ.
Hãy nhận biết bản tánh của chính tư tưởng bám chấp vào
những vọng tưởng hay cái cần đoạn trừ và cái giúp đoạn
trừ như là tách biệt trong bản chất, và hãy tự đặt con
vào trong một trạng thái trong đó không có gì thật sự có
để phủ nhận hay kiến lập.
Khi
con không có quán chiếu rằng nền tảng (tức là bản tánh
thường trụ của thực tại), con đường (hay tham thiền về
bản tánh ấy) và quả (sự chứng ngộ Pháp Thân) cả ba đều
Không (tự bản chất), con có thể nghĩ rằng tánh Không là
con đường tối thượng để đạt Phật quả. Con có thể
nghĩ rằng nếu con hiểu tánh Không, đó là con đường tối
thượng và ngoài nó ra, mọi con đường khác của Phật giáo
đều thấp kém. Không nghĩ những con đường khác này thuộc
về những phương tiện được đức Phật dạy là lạc mất
tánh Không với tư cách nó là một con đường. Hãy nhận ra
bản tánh của chính tư tưởng bị tánh Không ám ảnh và bám
chấp vào nó như con đường tối thượng. Do nhìn thẳng vào
nó như vậy con sẽ thấu hiểu rằng mọi sự là Không (nền
tảng, con đường, cũng như quả) và rằng trong tánh Không
không có tối thượng hay thấp, không có cái gì để đoạn
trừ hay giúp đỡ.
Chỗ
tiếp theo bạn có thể lạc mất tánh Không là khi làm những
thực hành giai đoạn phát triển của tantra làm tan biến mọi
sự vào tánh Không với một thần chú trước khi quán tưởng
một hóa thần thiền định.
Nếu
con không có kinh nghiệm vững chắc về tánh Không, con có thể
tưởng tượng một hình ảnh về nó do trí thức tạo dựng
hay thần chú của nó tản ra trên mọi sự (như thể đó là
một vật). Rồi vì con nghĩ riêng rằng mọi vật là tánh Không
này hay không có cái gì có thể được kiến lập một cách
quy ước bởi vì mọi sự là không, con có thể bác bỏ nghiệp
báo nhân quả, nghĩ rằng, “Những thiện hạnh có thể đem
lại gì khi chúng chỉ là những hiện tượng hữu vi.” Đây
là lạc mất tánh Không do tản nó ra như thể nó là một vật.
Hãy nhìn vào chính tư tưởng “Đây là tánh Không” và một
khi con đã nhận ra bản tánh của nó, hãy tự đặt mình nhất
tâm vào bản tánh trống không thực sự của bản thân tánh
Không và không có những tư tưởng ý niệm.
Đây
là những ý niệm được tạo tác một cách trí thức về
tánh Không, tuy nhiên, không phải là hoàn toàn sai trong mọi
trường hợp. Nếu người mới học không tham thiền với những
diễn đạt trí thức, họ sẽ không thể có được quán chiếu
về tánh Không dù họ có được dạy nó từ ban đầu. Nhưng
do quen với ý niệm tánh Không, cuối cùng họ sẽ có được
một quán chiếu không ý niệm, không cố gắng vào tánh Không.
Bởi thế dù tham thiền về một tánh Không được tạo tác
một cách trí thức thì sự việc ấy vẫn được cho phép.
Tuy nhiên, cuối cùng một cái hiểu theo ý niệm như vậy phải
được từ bỏ vì nó có thể là một cơ hội cho sự lạc
mất Đại Ấn.
Một
người mới học ám chỉ người chưa hoàn thành con đường
thấy và tri giác vô niệm trần trụi về tánh Không, nói cách
khác, một con người chưa vào bậc Thánh. Nếu có người đã
tích tập một số công đức khổng lồ trong những đời trước,
người ấy có thể nhảy thẳng vào và có được tri giác
trần trụi tức thời khi tham thiền. Điều này hiếm hoi. Tiến
trình thông thường hơn là như sau.
Trước
tiên bạn phát triển một cái hiểu giả định về tánh Không
dựa trên sự nghe một giải thích đúng. Giả định là đi
đến một kết luận đúng cho một lý luận đúng hay thậm
chí sai nhưng bạn không hiểu kết luận đó. Guru của bạn
dạy bạn về tánh Không và dù cho bạn không thật sự hiểu
điều ngài dạy, bạn lập lại lời ngài và có một ý niệm
về tánh Không căn cứ trên điều được nghe.
Tiếp
theo, bằng cách không ngừng suy nghĩ và phân tích một cách
hợp lý điều ngài nói, bạn có được một cái hiểu do suy
luận vững chắc về tánh Không căn cứ trên tiến trình trí
thức, ý niệm của lý luận hợp lý. Lập đi lập lại tiến
trình lý luận này và tập trung vào tánh Không bằng cách hòa
lẫn cái hiểu thật sự về tánh Không với một cái hiểu
ý niệm hỗ trợ, như một hình ảnh tâm thức về hư không,
để bạn có một đối tượng sẵn sàng thuận lợi hơn cho
sự tập trung vào tánh Không, cuối cùng bạn sẽ thành tựu
cái tri giác vô niệm, trần trụi về nó. Điều này xảy ra
không phải bởi một cái nhảy huyền bí của đức tin, mà
nhờ luật nhân quả như kết quả của sự tích tập công
đức. Bởi thế một hình ảnh tâm thức về tánh Không như
một hình ảnh về hư không và một cái hiểu ý niệm đặt
nền trên lý luận là những hỗ trợ cần thiết cho sự chứng
ngộ trọn vẹn tánh Không. Nhưng cuối cùng chúng phải được
từ bỏ, vì chúng có khuynh hướng làm cho tánh Không thành
một “vật” và có thể là một chỗ làm lạc mất nó khi
mở rộng hình ảnh được tạo dựng một cách trí thức như
vậy như thể nó là một vật.
Đấy
là bốn chỗ con có thể lạc mất tánh Không. Bởi vì chúng
là những can thiệp gây nhiễu (cho tham thiền Đại Ấn đích
thực), con phải không lầm lẫn cái cần từ bỏ và cái cần
thâu nhận theo những lời dạy này. Rồi trong trạng thái này,
không có bất kỳ cái hiểu giả định nào, hãy chú tâm không
giả tạo trên bất cứ cái gì khởi lên. Chớ lạc khỏi cái
bây giờ và ở đây. Phải mẫn cảm, lưu thông mà không giữ
thân trong một tư thế cứng ngắt hay giữ hơi thở v.v...
Những
phương pháp này, như được tìm thấy trong “Sáu Yoga của
Naropa”, là ích lợi để thành tựu cái quán chiếu Đại
Ấn, nhưng một khi thành tựu rồi thì không cần đến nữa.
Bất
kỳ tư tưởng nào khởi lên – tốt, xấu hay trung tính –
chớ ngăn chặn chúng hay thiết lập chúng, chớ bỏ hay lấy.
Bất cứ cái gì khởi lên, chớ theo nó, mà hơn nữa đặt
chú ý của con vào nó mà không nắm bắt. Đây là điểm thứ
ba để nâng cấp thực hành.
NHỮNG
ĐIỂM NGUY HIỂM NƠI SỰ VẬT
CÓ
THỂ KHỞI LÊN NHƯ KẺ THÙ
VÀ
NHỮNG NHIỄU LOẠN KHÁC
Hơn
nữa, hãy giả thiết rằng con đang mãn nguyện và sung sướng
vì những tư tưởng và những mê lầm không làm đứt đoạn
tham thiền của con. Rồi thình lình nhiều tư tưởng thô làm
đảo lộn con dữ dội và con không thể kiểm soát chúng trong
tham thiền. Con có thể nhìn những tư tưởng này như những
kẻ thù đã sanh ra. Hãy cố gắng nhận chân những tư tưởng
này và bản tánh của chúng. Chớ nhìn chúng như những lỗi
lầm. Mà nghĩ về chúng với tâm từ.
Chẳng
hạn, nếu một tư tưởng sân hận khởi lên, hãy nhìn nó
như một cơ hội để tu hành nhẫn nhục hay nếu là tham muốn,
để tham thiền về tính vô thường của cái bạn muốn. Tuy
nhiên, một cách rốt ráo, nếu bạn chỉ chú tâm vào chúng,
chúng sẽ tự nhiên lặng mất.
Đem
chúng vào lĩnh vực tham thiền của con, hãy thấy rằng bản
tánh của chúng là thoát khỏi mọi tạo tác của tâm thức
(những cực biên) và chúng khởi lên như trò chơi của Pháp
Thân. Hãy trau dồi (cái quán chiếu) rằng chúng là như thế.
Giả
thiết rằng trước kia bất kỳ vọng tưởng nào khởi lên,
con có thể xóa sạch nó bằng tánh Không.
Điều
này ám chỉ có thể loại bỏ một vọng tưởng nhờ một
phân tích lý luận, tạo ra một cách trí thức về tánh Không
của vọng tưởng đó. Chẳng hạn, nếu bạn tham muốn một
người hay một đồ vật. Sau khi phân tích nó là một hay khác
về phần nó, bạn kết luận rằng nó là không cả hai và
do vậy không có tự tánh, sự tham muốn của bạn sẽ rơi
rụng khi bạn thấy không có đối tượng cứng đặc, cụ
thể nào cho tham muốn đó.
Nhưng
rồi bỗng nhiên một vọng tưởng khởi lên như một tham muốn.
Con có thể nhìn vọng tưởng đó như một kẻ thù. Về việc
này, bất cứ vọng tưởng nào khởi lên, hãy nhận ra bản
tánh của nó. Đặt mình trong một trạng thái không ngăn cản
cũng không thiết lập, chúng trở nên thanh tịnh và lặng tan
vào chính nơi của chúng mà con không cần đoạn trừ chúng.
Nói cách khác, hãy đi vào tánh thanh tịnh của chúng như đã
được giải thích trong những phương pháp dùng những tư tưởng
như là một con đường, tức là chú tâm vào bản tánh trống
không của hình tướng tư tưởng. Bản tánh ấy là lạc, sáng
tỏ và vô niệm trần trụi. Hãy tự tu hành theo cách này.
Khi
con tìm kiếm tâm bằng cách phân tích và thấy rằng nó không
thể tìm thấy và rằng mọi sự vật không thể được kiến
lập như thực có, bây giờ con có thể bác bỏ sự hiện hữu
quy ước của mọi sự, cái cần đoạn trừ và cái cần hỗ
trợ, cái thiện và cái bất thiện. Xem ân điển kinh nghiệm
được về sự trần trụi là cái chính, con có thể cảm thấy
rằng bản thân con và tất cả những người khác đã tan biến
vào một hư không và bởi thế con không nên làm cái gì cả.
Sự bám chấp vào tánh Không như vậy gọi là tánh Không khởi
lên như một kẻ thù hay như một sự đen tối lan tỏa rộng
khắp.
Cả
hai cực đoan có và không cần phải được bác bỏ. Nhưng
nếu bạn phải chọn, thì tốt hơn rơi vào chấp có thay vì
chấp không. Nagarjuna đã nói tánh Không bác bỏ mọi hiện
hữu thật có, nhưng nếu bạn không hiểu nó, thì tốt hơn
hãy hiểu thế giới hiện tượng. Hãy xem thí dụ một con
rắn. Nếu bạn nói nó là không, không có gì cả, và không
tôn trọng bản chất tương đối của nó, nó có thể cắn
bạn và bạn sẽ chết. Cũng thế bạn có thể rơi vào một
tái sanh thấp hơn ở địa ngục do bất chấp sự kiện những
hành động bất thiện sẽ đem lại những kết quả tai hại.
Vì
thế, con cần nhận ra bản tánh của sự chấp thủ vào bản
thân tánh Không. Tự đặt mình vào một trạng thái không ngăn
chặn hay kiến lập, con sẽ loại bỏ cái chấp này. Thế nên
hãy tập trung nhất tâm như vậy.
Nói
cách khác, trong cùng một cách như trước, hãy chú tâm vào
bản tánh của tư tưởng bám nắm tánh Không hay chấp không,
và nó sẽ tự nhiên lặng mất.
Cho
dù con có một cái hiểu còn vấn vương trí thức rằng những
hình tướng là những duyên sanh tương thuộc, con có thể còn
bị ám ảnh hấp dẫn bởi những hình tướng trống không
này, bám nắm chúng cho là vật có thật. Nếu như vậy, con
sẽ trở nên bồn chồn và hoặc sợ hãi hoặc bị lôi cuốn
bởi những hình tướng khác nhau mà con thấy. Đối với người
bất hạnh và kích động như vậy, (chứng hoang tưởng của
tâm) này gọi là những hình tướng khởi lên như một kẻ
thù. Để chữa trị con cần nhận ra bản tánh của những
hình tướng và của sự bám nắm chúng cho là thật có. Đặt
mình vào một trạng thái không ngăn cản cũng không thiết
lập chúng, con sẽ loại bỏ chúng.
Bạn
có thể có một cái hiểu trí thức, giả định rằng, chẳng
hạn một người cha và người con là tương thuộc : không
thể có con nếu không có cha... Tuy nhiên bạn còn có thể bám
níu chúng là hiện hữu tự thân như những duyên sanh tương
thuộc. Từ sự chấp thủ này, những đối tượng bắt đầu
xuất hiện như những kẻ thù. Đối với chúng sanh địa ngục
bị khổ đau do bệnh hoang tưởng tột độ, họ thấy mọi
người là kẻ thù của họ và mọi vật là vũ khí.
Một
thí dụ cổ điển là một người thợ may mất cây kim, và
cảm thấy rằng anh đã nuốt nó, phát sanh đau bao tử dữ
dội. Bạn anh thấy anh chỉ đánh rơi cây kim trên mặt đất,
nhưng không làm anh tin đó là cây kim đã mất. Bởi thế người
bạn bảo người thợ may chuyển bụng, và kín đáo bỏ cây
kim trong phân. Vừa thấy cây kim, bao tử anh hết đau. Cũng
thế, khi bạn thấy thật tánh của sự bám chấp của bạn
vào những hình tướng, chúng và sự khổ đau của bạn biến
mất.
Khi
con tham thiền như thế, dù con có phát triển niềm tin, lòng
bi ái kiến nhiều hơn các cái khác, thì chúng cũng tan biến
vào chính chỗ của chúng, nếu chúng chưa được tịnh hóa
bởi Đại Ấn (sự thấu hiểu tính không thể phân của lòng
bi và tánh Không). Hãy giả thiết con phát triển lòng bi (xúc
tình phiền não) với người nào đó không có những tính tốt
của Pháp và trong trạng thái (xúc tình) đó con nghĩ rất cần
giúp y. Dù điều này không đem lại lợi lạc tối hậu nào,
nếu con buông bỏ những phẩm tính tốt của Pháp của chính
con và cố gắng giúp đỡ nó, bấy giờ lòng bi khởi lên như
một kẻ thù.
Một
thí dụ được giả thiết là khi bạn thấy một thợ săn
đang khó khăn khi giết một con hươu và cảm thấy lòng bi
với người độc ác này, bạn quyết định giúp y. Nếu bạn
từ bỏ lòng bi của bạn cho thú vật và lời nguyện không
giết hại của bạn và giúp đỡ anh ta bắn con vật, bấy
giờ lòng bi xúc tình khởi lên như một kẻ thù.
Với
điều này cũng như vậy, con cần nhận ra bản tánh của thái
độ lòng bi ái kiến này. Đặt mình vào một trạng thái không
ngăn cản cũng không thiết lập, hãy rõ ràng về bản tánh
của lòng bi theo Đại Ấn. Rồi bằng cách dâng những lời
cầu nguyện lớn rộng vì tất cả những chúng sanh khác trong
khi ở trong trạng thái ấy, con sẽ loại bỏ lòng bi khởi
lên như một kẻ thù và đem đến lợi lạc cho những người
khác phù hợp với lý duyên sanh (tương thuộc).
Có
thể giúp đỡ một cách không cố gắng những người khác
có duyên gặp gỡ theo nhân quả bằng kết quả của sự cầu
nguyện, cũng như từ sự chứng ngộ lòng bi nối kết với
tánh Không. Khi bạn đang tu hành hướng tới Giác Ngộ, thiết
yếu phải có lòng bi và giúp đỡ những người khác, nhưng
bạn phải dùng trí huệ.
Có
một sự khác biệt lớn lao giữa một Bồ tát dùng cách cư
xử khác quy ước để giúp đỡ ai đó vì ngài thấy cái gì
là lợi lạc tối hậu và một người mới học không có chứng
ngộ, người này rất bị ảnh hưởng bởi xúc tình, giúp
đỡ những người khác theo một cách vụng về và chỉ làm
hại cho sự thực hành riêng của mình. Chớ giả tưởng là
một Bồ tát khi bạn không phải và dùng sự bi mẫn như một
lý do để hành động một cách nông nổi theo những xúc tình
phiền não của bạn. Nhưng dĩ nhiên nếu có ai sắp ngã, bạn
phải giúp đỡ nó. Bạn phải dùng lương tri thông thường.
Hơn
nữa, giả sử con không xác quyết cái thấy đúng về tánh
Không, mà cảm thấy nhờ học văn phạm, luận lý học... một
cách chi tiết, nhờ đó con có được quán chiếu vào cái thấy
đúng đắn, ban sơ. Lúc đó nếu con bỏ tham thiền, điều
này gọi là nhân và quả khởi lên như một kẻ thù.
Sai
lầm khi cảm thấy rằng kết quả của sự học những khoa
học thế gian sẽ là cái hiểu của bạn về tánh Không. Đó
là một cách lòng vòng khác. Khi bạn đã có được quán chiếu
vào tánh Không, mọi cái hiểu biết khác sẽ theo sau. Điều
này không có nghĩa là bạn không nên nghiên cứu cái gì cả
cho đến khi nào bạn có được sự thấu hiểu trọn vẹn
tánh Không, mà bạn cần giữ những cái ưu tiên cho cái quan
trọng.
Về
điều này con cần nỗ lực xác quyết cho được cái thấy
đúng và tham thiền về cái thấy đó. Tu hành như vậy mà
không có bất kỳ hy vọng hay lo toan nào, con sẽ loại bỏ
chướng ngại này. Thế nên con cần thực hành như vậy.
Thêm
nữa, bất kỳ khi nào bệnh tật, ma quỷ và những nhiễu loạn
như vậy cản trở sự tập trung nhất tâm cũng như hôn trầm,
loạn động, mù mờ khởi lên – dù đó là cái gì, hãy khảo
sát bản tánh cá thể của nó để xem nó có màu sắc gì,
hình dạng gì hay có sanh, trụ, diệt chăng. Không ngăn cản
hay thiết lập chúng, hãy kết luận rằng chúng không thể
được kiến lập như có thật, nội tại.
Cũng
hãy thực hành cho đi (hạnh phúc của con) và nhận lấy (sự
khổ đau của những người khác). Không hy vọng hay lo toan,
không sợ con sẽ bệnh hoạn hay hy vọng con sẽ làm lợi lạc
cho người khác, hãy thực hành bằng cách đem bệnh tật và
sự tác hại của ma quỷ thành một con đường để chứng
ngộ bốn thân của Phật.
Tánh
Không của bệnh tật là Tự Tánh thân, sự sáng tỏ và tỉnh
giác của nó là Báo thân, hình thể của nó là Hóa thân và
sự không thể tách lìa của ba cái ấy là Pháp thân.
Đối
với hôn trầm và xao động, nếu con trở nên hôn trầm về
những đối tượng... trong hoạt động hàng ngày của con,
hãy dùng xao động như là một phương tiện để làm sinh động
con trở lại và đối với xao động hãy dùng hôn trầm như
một phương tiện để an định.
Đây
là những phương thuốc tạm thời và giống như Santideva trong
Bồ tát hạnh dùng ghen tỵ như một đối thủ cho kiêu mạn
và v.v... Nếu bạn cảm thấy kiêu mạn, hãy đặt mình vào
vị thế người nào khác và ghen tỵ với chính bạn. Theo cách
này bạn sẽ hàng phục sự kiêu mạn của bạn. Cũng thế
nếu bạn có hôn trầm, hãy kích thích một số xao động để
đem bạn lại sự quân bình.
Hơn
nữa, nếu con nhìn vào bản tánh của hôn trầm hay xao động
và chú tâm vào nó, chúng sẽ bị loại bỏ.
Dù
có nhiều cách loại bỏ những nhiễu loạn như vậy, ta không
viết hết chúng ra vì sẽ lắm lời. Những cái ấy nên học
từ miệng của Thầy con. Cũng như đối với những người
bén nhạy không cần loại bỏ những nhiễu loạn vì họ có
quán chiếu rằng mọi sự vốn thoát khỏi mọi tạo tác của
tâm thức.
Những
điểm nguy hiểm này xảy ra vào lúc con đang ở trong giai đoạn
gọi là “Độc vị”.
Giai
đoạn này sau khi bạn đã vào dòng Thánh với tri giác trần
trụi vô niệm về tánh Không và khi bạn đang ở trong bảy
giai đoạn đầu của Bồ tát trên con đường thiền định.
Nói cách khác, những điểm nguy hiểm này xảy ra khi bạn đã
thấy tánh Không, nhưng bởi vì những bản năng của mê lầm
và vô minh, những tư tưởng quấy nhiễu và sự chấp thủ
tiếp tục sanh khởi, đặc biệt là trong thời kỳ sau thiền
định (xuất định).
Đại
Ấn nói rằng những mê lầm v.v... tiếp tục khởi lên do bản
năng của vô minh trong dòng tâm thức và khi chúng khởi, chúng
phải được xem như là những dấu hiệu (của Hóa thân) cần
tẩy sạch bởi tánh Không.
Một
xâu chuỗi làm bằng những hạt, tuy nhiên không có hạt nào
là xâu chuỗi, cũng không phải tất cả hạt gom đống thành
xâu chuỗi. Một xâu chuỗi là một đặt tên hay gán nhãn của
tâm thức cho một tập hợp các hạt xâu lại với nhau. Cũng
thế cái gì là một tập khí thói quen hay những bản năng
không ngừng làm khởi sanh một khuôn mẫu tính khí quen thuộc
? Một tập khí chỉ là một đặt tên, một dán nhãn của
tâm thức trên một lô biến cố tương tự mà nếu bạn bám
nắm vào như là thật, sẽ làm cho sự tiếp diễn của nó
trở thành kinh niên.
Bởi
thế hãy thấy tánh Không của những tập khí thói quen và
những bản năng của sự mê vọng. Khi một vọng tưởng khởi
lên, hãy hiểu rằng hình thể của nó là Hóa thân, phương
diện giác của nó là Báo thân, tánh Không của nó là Tự
Tánh thân và sự không thể phân chia của nó là Pháp thân.
Theo cách này chúng có thể được “tẩy sạch” bởi tánh
Không.
Về
những giáo lý tổng quát của những con đường và những
kết quả của chúng v.v... chung cho mọi truyền thống Phật
giáo, có nói rằng vào lúc con đang thực hành giai đoạn thành
tựu anuttarayoga tantra với những dấu hiệu, mọi phẩm tánh
tốt đẹp sẽ khởi lên từ sức mạnh của những mê lầm
và những tư tưởng được hòa lẫn với chúng trong phạm
trù của chúng và những phẩm tính ấy sẽ xảy đến như
một duyên khởi tương thuộc từ sự hỗn hợp đó bằng những
thực hành kinh mạch-năng lực, khí-năng lực, những năng lực
sáng tạo và tâm.
Điều
này ám chỉ đến những phương pháp khác được sử dụng
để chiến thắng những tư tưởng và mê lầm quấy nhiễu.
Ở giai đoạn thành tựu của anuttarayoga tantra với những dấu
hiệu, bạn tiếp xúc và điều phục hệ thống năng lực của
thân vi tế. Hệ thống này bao gồm những kinh mạch-năng lực
(nadi) tương đương với thân, những khí-năng lực (prana) tương
đương với ngữ, và những năng lực sáng tạo (bindu) tương
đương với tâm.
Thức
cỡi trên những khí-năng lực của hệ thống này và khi khí
chạy vô trật tự tạo ra những tư tưởng mê lầm của bạn.
Khi những khí này được dẫn vào kinh mạch trung ương ở
trung tâm trái tim, những tư tưởng ấy sẽ tự động lặng
mất.
Hơn
nữa, mỗi sự mê lầm tương đồng với một phẩm tính tốt
tương ứng. Như thế có một số thực hành như “Sáu Yoga
của Naropa” trong đó một mê lầm và phẩm tính tốt trong
phạm trù của nó trở nên hòa lẫn và như thế trở nên năng
lực của sự mê lầm thật sự được chuyển hóa thành cái
gì hữu ích. Điều này xảy ra theo duyên khởi tương thuộc,
nói cách khác như một kết quả của sự thực hành đặc
biệt được sử dụng. Như thế tham được hòa lẫn với
lạc nhờ những thực hành nhiệt tâm linh (tummo), sân với
sự chứng ngộ vô tự tánh nhờ những kỹ thuật thân huyễn,
si với Tịnh Quang nhờ yoga giấc mộng v.v... Những thực hành
như vậy dùng hệ thống năng lực như phác họa ở trên.
Dầu
có nhiều thứ như vậy – những chỗ con có thể lạc mất
tánh Không, những điểm nguy hiểm (nơi sự vật có thể khởi
lên như kẻ thù), bệnh tật, ma quỷ gây hại, những nhiễu
loạn xảy đến với tập trung nhất tâm... – ở đây chỉ
tổng lược. Con cần biết những cách thức này, những phương
tiện để loại bỏ những lỗi lầm như vậy khỏi sự tham
thiền của con.
Chúng
là những giai đoạn để loại bỏ ba chỗ con có thể lạc
hướng, bốn chỗ con có thể lạc mất tánh Không, năm điểm
nguy hiểm và ba nhiễu loạn. Thấu hiểu những lỗi lầm của
các thứ ấy và những lợi lạc khi loại bỏ chúng như được
giải thích ở trên, con cần nỗ lực và không lầm lẫn giữa
cái cần nhận lấy và cái cần trừ bỏ. Đây là điểm thứ
năm trong nâng cấp sự thực hành.
NHỮNG
LỢI LẠC CỦA NHỮNG
THỰC
HÀNH VÀ NHỮNG GIAI ĐOẠN
VÀ
NHỮNG CON ĐƯỜNG THEO ĐẠI ẤN
Về
những lợi lạc (hay những phẩm tính tốt đẹp), thì những
lợi lạc của những thực hành sơ bộ đem lại sự thành
tựu những mục tiêu tạm thời và tối hậu cho con. Đó là
vì chúng là nền tảng cho con đạt được một tái sanh tương
lai tốt hơn cũng như những con đường đến Giác Ngộ.
Tham
thiền về sự khó khăn có được thân người và về cái
chết và vô thường, con sẽ xoay tâm con khỏi những tư tưởng
về cuộc đời này. Suy nghĩ về nghiệp và nhân quả, con sẽ
có được sự tin chắc sâu xa vào chúng và năng lực bảo
vệ (những lời nguyện giới luật) dù với cái giá mạng
sống của con. Suy nghĩ về những tai hại của sanh tử, con
sẽ phát triển sự chán sợ sanh tử và ba cõi của nó. Đã
phát triển từ bỏ, con sẽ mong đạt đến duy nhất trạng
thái Giác Ngộ của Phật. Tham thiền về từ, bi và Bồ đề
tâm, con sẽ thoát khỏi những tham muốn hạnh phúc cho riêng
mình và sẽ có những tư tưởng chỉ vì lợi lạc của chúng
sanh.
Nỗ
lực trong yoga thần chú một trăm âm, con sẽ nhận được
những dấu hiệu thật sự và ở trong giấc mộng, biết rằng
con đã được tịnh hóa để khỏi phải trải qua những nghiệp
xấu của những hành vi các đời trước. Nhờ đó con dễ
dàng khai triển những kinh nghiệm và những quán chiếu. Cúng
dường mạn đà la, thân thể con sẽ hoan lạc, tâm thức con
trong sáng, tham muốn ít và con sẽ được công đức vô lượng.
Thiền định về guru yoga, mong cầu thành khẩn và sự tôn
kính thương yêu của con sẽ sáng mạnh hơn nhiều nữa. Con
sẽ nhận những ban phước và cảm ứng của ngài cũng như
sự tập trung. Con sẽ khai triển không cần cố gắng những
kinh nghiệm và quán chiếu. Sự tiến bộ của những thực
hành có hay không tùy thuộc vào sự sùng mộ Guru của con.
Đối
với những thực hành thật sự (so với những thực hành sơ
bộ), những lợi lạc của định tâm là con khai triển không
lầm lỗi những ân điển lạc, sáng tỏ và vô niệm trần
trụi. Sự khao khát thức ăn và đồ mặc của con sẽ giảm.
Thân con sẽ trở nên rực rỡ và chiếu sáng, tâm con uyển
chuyển và con sẽ đạt được những cái như các năng lực
siêu giác quan và năm nhãn. Những mê lầm và vọng tưởng
sẽ mờ đi và biến mất.
Chúng
sẽ mờ đi bởi ánh sáng rực rỡ của định tâm, như những
ngôi sao không còn xuất hiện bởi có mặt trời.
Năm
nhãn là : (1) nhục nhãn thấy những vật ở xa,
(2)
thiên nhãn thấy những tái sanh quá khứ và tương lai, (3) huệ
nhãn tri giác trần trụi về tánh Không, (4) pháp nhãn thấy
căn cơ của những người khác khiến bạn biết làm sao và
dùng cái gì để dạy họ, (5) Phật nhãn hiểu thấu mọi sự
một cách toàn giác. Theo Abhisamayalamkara của Maitreya, mỗi nhãn
này được đạt đến một cách tuần tự trên năm con đường
đến Giác Ngộ.
Về
những lợi lạc của quán chiếu, những người bén nhạy sẽ
vượt qua những giai đoạn và những con đường tất cả một
lần (đốn giác). Những người trung bình đôi khi đi thẳng
hết một lần và đôi khi đi theo những giai đoạn, tiệm tiến
theo cách nhảy vọt. Những người kém thì tiến bộ dần dần
theo những giai đoạn, đi từ người mới học đến địa
thứ mười của Bồ tát. Con đường họ đi phù hợp với
con đường họ khai triển bốn lần ba, tức mười hai yoga.
Năm
con đường và mười giai đoạn (địa) của Bồ tát đến
Giác Ngộ, như đã phác họa ở trước, có thể chia thành
nhiều đường và được vượt qua bằng nhiều kỹ thuật.
Có những phương pháp tổng quát của mỗi đường của những
phái Phật giáo Ấn Độ và những loại khác nhau của tantra.
Theo hệ thống do Gampopa vạch ra trong “Trang Hoàng Châu Báu
của Giải Thoát”, những giai đoạn này có thể chia thành
mười ba : ước nguyện, thành khẩn mong cầu, mười địa
Bồ tát và Phật quả. Trong hệ thống Đại Toàøn Thiện lại
có cách chia khác. Ở đây trong Đại Ấn năm con đường và
mười địa được chia thành mười hai yoga. Nhưng bất kể
cái bánh được cắt như thế nào, chất nền tảng, những
quán chiếu và quả thành tựu là như nhau.
(Tổng
quát khi con đạt được định tâm) con có thể đặt mình
trong bao lâu tùy ý muốn trong một trạng thái lạc, sáng tỏ
và vô niệm trần trụi. Dù con có thể an trụ trong một trạng
thái tham thiền như vậy, nếu đôi khi chúng không đến mặc
dù con đang thiền định và vào lúc khác chúng lại đến khi
con không tham thiền, đó là bởi vì con chưa đạt được sự
kiểm soát lớn đối với tập trung nhất tâm. Đây là giai
đoạn sơ cấp hay nhỏ của nhất tâm. Nếu con có một sự
an định tâm trong đó con không bị quấy nhiễu bởi bất kỳ
sự xao lãng nào và bất kỳ khi nào con tham thiền (những ân
điển – lạc, sáng tỏ và vô niệm) đều đến, bấy giờ
con đã làm chủ đối với tập trung nhất tâm. Đây là giai
đoạn giữa của nhất tâm. Nếu (sự tập trung của con) không
có gián đoạn và con không xao lãng ngay cả trong những trường
hợp dữ dội, nếu tất cả tư tưởng của con được bình
lặng trong trạng thái này, nếu con hòa lẫn vào trạng thái
này khi ngủ và không bao giờ rời khỏi nó trong tất cả các
hoạt động của con, đây là giai đoạn cao cấp hay lớn của
nhất tâm.
Đến
đây bởi vì những ân điển hiện diện trong mọi lúc, con
có thể nghĩ rằng đó là giai đoạn vĩ đại của “không
tham thiền nữa” (nói cách khác là Giác Ngộ). Nhưng ngoài
việc thấy có những ân điển ấy, đó không phải là một
quán chiếu thật sự (tánh Không). Những giai đoạn nhất tâm
ấy còn ở trên con đường tích tập và chuẩn bị. Bởi vì
con chưa hoàn toàn chứng ngộ bản tánh của tâm, ân điển
mà con bám lấy như sự trần trụi trống không chỉ là đặc
trưng chính của sự định tâm. Do tu hành một thời gian lâu
không bị hấp dẫn ám ảnh bởi ân điển ấy, những kinh
nghiệm ấy sẽ trở nên thanh tịnh. Mọi phương diện kéo
dài của lạc, sáng tỏ và vô niệm trần trụi sẽ tan rã,
tiêu tan, (đến nỗi trạng thái ấy khởi lên và lặng mất
đồng thời trong mỗi khoảnh khắc) và rồi con thấy chân
lý (tối hậu) của bản tánh trống không của sự vật. Nói
cách khác, khi (sự ám ảnh và bám chấp vào sự thực có của
những ân điển) đã được bình lặng vào trong một trạng
thái không đối tượng hóa của tánh Không có ba đức tính
lạc, sáng tỏ và vô niệm trần trụi, thật tánh của tánh
giác (hay của tâm) hiển lộ nơi con một cách thanh tịnh như
một trái cây lột vỏ, hay như một kho tàng được tìm thấy.
Ở
đây vỏ là sự ám ảnh của bạn đối với những ân điển
hay những kinh nghiệm chớp sáng và sự bám níu vào sự hiện
hữu thực của chúng. Khi những cái đó tan rã và được lột
bỏ, bạn đạt đến quả bên trong, tức là bản tánh trống
không của tâm, có đặc tính là lạc, sáng tỏ và vô niệm
trần trụi, tuy trống không nhưng khởi và lặng đồng thời
trong từng khoảnh khắc.
Đây
là sự đạt đến con đường thấy (tánh) của Đại thừa
và cũng gọi là trạng thái tự do khỏi những tạo tác tâm
thức. Đến đây, nếu con còn chưa hoàn toàn tách lìa thói
quen bám chấp vào sự trống trơn và bị nó ám ảnh và nếu
con chỉ thực thấy thật tánh của tâm một chút ít, đây
là giai đoạn sơ cấp thoát khỏi những tạo tác tâm thức.
Khi con đã tịnh hóa điều này từ gốc rễ của nó, nếu
trạng thái bình thường của thức trở nên không có đối
tượng mà sáng rỡ tương hợp với huệ quán của con, đây
là giai đoạn giải thoát khỏi những tạo tác tâm thức. Khi
điều này đã trở thành vững chắc và con đã được tịnh
hóa khỏi trạng thái ấy, sự thanh tịnh dễ có về mặt những
tư tưởng nhưng khó có về mặt những hình tướng, bấy giờ
con đã đạt được huệ quán rằng mọi sự là không và không
có một vật gì không là không. Khi con đã cắt mọi đánh
giá so đo cao thấp về tánh Không của tất cả những hiện
tượng bên ngoài và bên trong, đây là giai đoạn cao cấp thoát
khỏi những tạo tác tâm thức.
Trong
những thời kỳ sau thiền định của những giai đoạn này,
những hình tướng xuất hiện đều giống như ảo ảnh. Con
có được huệ quán (thấy) thật tánh của của Bồ đề tâm
và trừ bỏ tám mươi hai mê lầm thô được đoạn trừ trong
con đường thấy. Con không còn tái sanh trong ba cõi của sanh
tử luân hồi bằng bốn loại sanh trừ khi bởi nguyện lực
(tiếp tục sanh để giúp đỡ chúng sanh). Đây gọi là sự
chứng đắc con đường thấy hay sự chứng đắc địa thứ
nhất của Bồ tát gọi là Hoan hỷ địa. Tiếp tục trau dồi
con đường thấy này một thời gian lâu, con sẽ đến giai
đoạn Độc vị.
Ở
bước đầu của giai đoạn Độc vị này, vẫn còn một ít
khó khăn để trụ trong cái bây giờ và ở đây (cái hiện
tiền) tự động lặng dứt, trong đó bất kỳ tư tưởng nào
khởi lên đều là một phúc lạc và vô tự tánh. Nhưng khi
điều này đã được tịnh hóa, bấy giờ dù con đã thoát
hay chưa thoát khỏi sự tạo tác của tâm thức rằng những
sự vật thật sự là không hay không phải là không, chỉ cần
nhận ra lại bản tánh của cái bây giờ và ở đây này.
Dầu
bạn phải thoát khỏi mọi cực đoan như chấp tánh Không,
đó là đoạn kiến, hay chấp không phải là tánh Không, đó
là chấp có, thường kiến, thì những tạo tác tâm thức cách
nào cũng chỉ được tịnh hóa bằng việc nhìn thấy tánh
của cái ở đây và bây giờ, trong đó những tư tưởng méo
mó như vậy đồng thời khởi và lặng như những bánh vẽ
trên mặt nước.
Khi
con đã đạt được quán chiếu thật tánh của mọi sự, bấy
giờ con thấy mọi sự đều là một vị trong bản tánh và
con có thể hiểu trọn vẹn về mặt hình tướng hay về mặt
tánh Không, bất cứ giáo lý nào có thể có của những con
đường.
Nền
tảng thường trụ của cái ở đây và bây giờ là cái một
vị độc nhất của cả hình tướng và tánh Không trong trí
huệ nguyên sơ của sự bất nhị của hai cái ấy. Như thế
dù bạn đang tỉnh giác về một hình tướng hay tánh Không
của nó, bạn thấy cái độc vị của cả hai, tức là nền
tảng thường trụ của trí huệ nguyên sơ trong mọi giáo lý
của những con đường.
Đây
là giai đoạn sơ cấp của độc vị.
Ở
giai đoạn này, kinh nghiệm (về vị độc nhất của tướng
và tánh này) vẫn còn trộn lẫn với một ít ý niệm.
Ý
niệm này là “đây là kinh nghiệm về cái ở đây và bây
giờ”, như thế có chứa sự bám chấp của bạn vào nó như
là một “vật”.
Khi
kinh nghiệm đó được tịnh hóa, bấy giờ mọi sự đều
hòa tan thành một vị độc nhất của bản tánh thanh tịnh
của mọi sự vật – thức và trí, tướng và tâm, không có
gì là ở ngoài, ở trong. Khi tánh bình đẳng của sanh tử
và giải thoát, sự bất nhị của sanh tử và Niết Bàn, xuất
hiện trực tiếp và chân thật, đây là giai đoạn giữa của
độc vị.
Khi
mọi sự đã xuất hiện như là độc vị, bấy giờ một vị
độc nhất này xuất hiện trở lại như là nhiều qua những
hình tướng phát hiện bởi một tiến trình duyên khởi như
là phương tiện thiện xảo, đây là giai đoạn cao cấp của
độc vị.
Trong
quá trình tan biến của những nguyên tố thân thể như phác
họa ở trước, thức tuần tự nương dựa vào ít nguyên tố
hơn. Như thế nếu tan biến vào nước, nghĩa là thức không
còn nương dựa vào nguyên tố đặc biệt là đất nữa. Rồi
nước tan vào lửa, lửa vào không khí hay gió-năng lực và
gió vào không gian. Ba giai đoạn tiếp theo đó : những kinh
nghiệm màu trắng, đỏ và đen khi những năng lực sáng tạo
trắng và đỏ hay chất Bồ đề tâm rơi xuống từ trung tâm
đỉnh đầu, khởi từ trung tâm rốn và gặp nhau ở trung tâm
trái tim. Sau đó là kinh nghiệm Pháp thân Tịnh Quang, nó có
thể có vào lúc chết, khi đi vào giấc ngủ, bất tỉnh hay
trong những thiền định tantra cao cấp. Qua tiến trình này
bạn đến chỗ chứng ngộ một vị độc nhất của mọi sự
trong Pháp thân.
Sau
đó tiến trình tiến hóa trở lại của những nguyên tố xảy
ra trong đó thức trải qua những kinh nghiệm màu đen, đỏ
và trắng và rồi dần dần nương dựa vào những nguyên tố
như gió-năng lực, lửa, nước và đất khởi lên trở lại
trong quá trình đi vào trung ấm, tái sanh, thức dậy và một
số thực hành tantra cao cấp. Điều này xảy ra nhờ duyên
sanh, ở đây ám chỉ đến nhân quả, và được thúc đẩy
bởi những phương tiện thiện xảo để bảo đảm cho một
sắc tướng hầu làm lợi lạc cho những người khác.
Chứng
ngộ một vị của hình tướng và tánh Không qua cả hai tiến
trình tan biến và tiến hóa trở lại là giai đoạn cao cấp
của độc vị.
Giờ
đây con đã đạt được nhẫn với mọi sự bởi vì con đã
hoàn toàn chứng ngộ thực sự không có sự sanh khởi. Việc
này bao trùm từ địa thứ hai đến địa thứ bảy, với một
số tác giả thì nó gồm cả địa thứ tám.
Có
nhiều cách định nghĩa mười hai yoga của hệ thống Đại
Ấn. Theo những giải thích tổng quát trong những công trình
của Kongtrul Rinpoche thứ Ba, cách định nghĩa đơn giản hơn
là như sau.
Những
giai đoạn tập trung nhất tâm có sự thành tựu định tâm.
Ở giai đoạn sơ cấp, những ân điển xuất hiện lần lượt,
khi có khi không. Ở giai đoạn giữa chúng đến một cách tự
động và ở giai đoạn cao cấp chúng trộn lẫn không thể
tách lìa với Tịnh Quang dù trong giấc mộng.
Những
giai đoạn thoát khỏi tạo tác của tâm thức là thoát khỏi
bám chấp vào tâm như là thuộc bốn cực đoan – thực có,
hoàn toàn không có, vừa có vừa không, không có cũng không
không. Cặp cực đoan vừa có vừa không nói lên sự bám chấp
vào những hiện tượng là có thật trên góc độ tương đối
và hoàn toàn không có trên cấp độ tối hậu. Dù những hiện
tượng không thật cũng không hoàn toàn không có, cặp cực
đoan không có cũng không không là bám chấp một cách ý niệm
vào sự kiện này như nó là một “vật”. Ở giai đoạn
sơ cấp thoát khỏi tạo tác của tâm thức bạn chứng ngộ
tâm là không có sự sanh khởi nội tại, sự trụ và diệt
nội tại. Ở giai đoạn giữa, bạn không có bám níu vào cả
hình tướng lẫn tánh Không. Ở giai đoạn cao cấp bạn hoàn
toàn cắt đứt vọng tưởng so đo có không, thường đoạn
tạo tác bởi tâm thức.
Trên
những giai đoạn một vị độc nhất, những hình tướng và
tâm trở nên hoàn toàn hòa lẫn. Ở những giai đoạn sơ cấp
tất cả những sự vật nhị nguyên hòa lẫn với một vị
bình đẳng của tánh Không. Ở giai đoạn giữa, những hình
tướng và tâm như nước hòa lẫn với nước. Ở giai đoạn
cao cấp bạn thấy sự khởi lên của năm trí huệ nguyên sơ
từ cùng một vị.
Mọi
định nghĩa như vậy không mâu thuẫn và căn cứ trên kinh
nghiệm cá nhân của một thiền sư.
Hơn
nữa dù có nhiều đặc tính phân biệt trong mỗi địa trong
mười địa của Bồ tát, một đặc tính ấy là ở mỗi địa
bạn hoàn thiện trọn vẹn một trong mười ba la mật. Như
thế ở địa thứ nhất là bố thí và tiếp theo trì giới,
nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ phân biệt, phương
tiện thiện xảo, năng lực, nguyện và trí huệ nguyên sơ.
Trí huệ phân biệt (prajna) biết về tánh Không, phân biệt
đúng và sai giữa những cách thế hiện hữu. Trí huệ nguyên
sơ (jnana) biết tính bất nhị của hai cấp độ chân lý, của
hình tướng và tánh Không. Đôi khi được nói mơ hồ là trí
huệ.
Giờ
đây những trạng thái thiền định và sau thiền định trở
nên hòa lẫn. Trước kia vẫn còn một số dấu vết nhiễm
ô của sự bám chấp vào sự trống không trong thời gian sau
thiền định. Nhưng khi điều đó đã được tịnh hóa, mọi
sự trở nên thanh tịnh trong cõi giới trống trải bao la trong
đó không có gì để chứng đắc, không có một chút khác
biệt nào giữa động niệm và vô niệm trong khi thiền định
và sau thiền định. Khi con thoát khỏi mọi dấu vết của
nhị nguyên giữa cái được tham thiền và người tham thiền,
đây là giai đoạn sơ cấp của “không thiền định nữa”.
Đây là đệ bát địa Bồ tát.
Đến
đây đôi khi vẫn có thể có những dấu vết nhiễm ô nhẹ
của sự bám chấp năng sở khởi lên khi ngủ. Khi điều này
đã được tịnh hóa, và mọi sự trở nên nhất như giống
như trạng thái đại định của trí huệ nguyên sơ, đây là
giai đoạn giữa của không-thiền định. Đây là địa thứ
chín và thứ mười.
Bấy
giờ khi lưỡi kiếm của trí huệ phân biệt và nguyên sơ
cắt sạch tận gốc những chướng ngại tiềm ẩn ngăn che
Toàn Giác (những bản năng của tất cả vô minh), Tịnh Quang
mẹ, cõi giới hoàn toàn thanh tịnh rỗng rang của mọi sự,
và Tịnh Quang con, trí huệ nguyên sơ như tấm gương, hòa lẫn
thành một. Đây là sự chuyển hóa hoàn toàn thành Giác Ngộ
viên mãn của một vị Phật, trạng thái Hợp Nhất không còn
gì để học nữa. Đây là giai đoạn cao cấp của không thiền
định nữa hay Phật quả.
Do
đi qua địa thứ tám, thứ chín và thứ mười đến địa
thứ mười một này, tánh thanh tịnh tự nhiên của trạng
thái bổn nguyên (sự hợp nhất đồng thời cõi giới của
tánh Không và trí huệ nguyên sơ như tấm gương) là Pháp thân
mà con đã làm hiển lộ.
Những
thân Phật có thể chia thành hai : Pháp thân và Sắc thân, hay
thân Trí huệ và thân Sắc tướng. Cái trước là kết quả
của sự đoạn trừ rốt ráo mọi ngăn chướng của một vị
Phật và đáp ứng cho những mục tiêu riêng của ngài. Cái
sau là do sự hoàn thành rốt ráo mọi phẩm tính tốt và từ
Bồ đề tâm của ngài để đáp ứng những mục tiêu của
những chúng sanh khác.
Pháp
thân thoát khỏi sanh, trụ, diệt. Nó là bản tánh thường
trụ, tự nhiên thanh tịnh, thường hằng, không do duyên của
tâm và mọi trần cảnh. Trí huệ nguyên sơ của cõi giới
rỗng rang của mọi sự luôn luôn thấy tánh Không. Trí huệ
nguyên sơ của cõi giới nguyên sơ như tấm gương thì phản
chiếu mọi hiện tượng không chướng ngại. Như thế Pháp
thân là sự hợp nhất đồng thời của hai trí huệ nguyên
sơ này, Tịnh Quang mẹ và con, trong những bản văn khác là
tâm toàn giác của một vị Phật và tánh Không của tâm ấy.
Tánh
thanh tịnh tự nhiên của tư tưởng, nó là tâm thức của
chúng sanh, là Báo thân mà con đã làm hiển lộ.
Sự
định nghĩa kinh điển chung về Báo thân là Sắc thân với
năm đặc tính chắc chắn. (1) Sắc tướng, thân thể có một
trăm hai mươi tướng chánh và phụ của một vị Phật. (2)
Giáo lý, luôn luôn dạy giáo lý Đại thừa. (3) Đệ tử, chư
thánh Bồ tát. (4) Nơi chốn, luôn luôn trong cõi Tịnh độ.
(5) Thời gian, cho đến khi sanh tử chấm dứt. Ở đây Báo
thân được định nghĩa là tánh thanh tịnh tự nhiên của
tư tưởng. Hai định nghĩa này không đồng nhất.
Các
thánh Bồ tát là những vị với Bồ đề tâm, có tri giác
trần trụi, không ý niệm về tánh Không. Do đức hạnh của
một huệ quán như vậy, môi trường chung quanh của các ngài
trở thành một cõi Tịnh độ của Phật. Tánh thanh tịnh tự
nhiên của tư tưởng là cái gì chỉ có những vị như vậy
có thể tri giác được. Bởi thế Báo thân là sự thanh tịnh
này của tư tưởng chỉ có những thánh Bồ tát thấy. Tuy
nhiên, nếu bạn mê mờ về tánh thanh tịnh tự nhiên này,
bấy giờ những tư tưởng đánh lừa bạn khiến bạn tin chúng
thực có và như thế bạn không thể thấy Báo thân.
Và
tánh thanh tịnh của những hình tướng như là những đối
vật tùy duyên là Hóa thân mà con đã làm hiển lộ.
Cũng
như nếu một sàn bằng đá da trời mà không được lau bóng
láng, sự xuất hiện của vua Trời Đế Thích không xuất hiện
trong đó được, nếu tâm của chúng sanh không thanh tịnh,
họ sẽ không thấy Phật dù ngài đang đứng trước mặt họ.
Như thế những Hóa thân của một vị Phật là sự thanh tịnh
tự nhiên của những hình tướng xuất hiện đối với tâm
của chúng sanh bình thường. Chúng xuất hiện như những hiện
tượng khởi lên từ những nhân duyên và có thể xếp thành
ba phạm trù.
Những
Hóa thân tối thượng, như Phật Thích Ca Mâu Ni, có đủ tướng
chánh và tướng phụ, thực hiện mười hai công hạnh của
một vị Phật : xuống từ cõi trời Đâu Xuất, sanh ra trong
một gia đình hoàng tộc, giỏi việc thế gian, từ bỏ, khổ
hạnh, Giác Ngộ dưới cây Bồ đề, chuyển pháp luân v.v...
Nếu không đầy đủ công đức và sự thanh tịnh, có thể
thấy Thích Ca Mâu Ni là một vị Phật, ngài chỉ xuất hiện
như một người cao lớn với hai tai dài. Nếu có đầy đủ
tâm thanh tịnh, Guru của bạn sẽ xuất hiện với bạn như
một vị Phật.
Những
Hóa thân bình thường xuất hiện dưới hình thức khỉ, chim...
Vì những mục tiêu đặc biệt để dạy những chúng sanh đặc
biệt. Một số Hóa thân xuất hiện như những bậc thầy nghệ
sĩ, y sĩ, nhạc sĩ... Để dạy qua trung gian nghề đặc biệt
của họ. Như thế hình tướng thanh tịnh của một Hóa thân
tùy thuộc vào sự thanh tịnh của tâm của người nhìn.
Ba
thân Phật và sự hóa hiện vô số thân từ đó thì vượt
khỏi mọi tưởng tượng và hóa độ cho chúng sanh mà không
có tạo tác tư tưởng và không có cố gắng. Vì không cố
gắng mà đáp ứng những mục tiêu của tất cả chúng sanh
vô biên như không gian và làm như thế cho đến khi sanh tử
luân hồi trống trơn, đây là phẩm tính thiện tối hậu.
Có
nhiều cách liệt kê và định nghĩa những thân Phật. Trong
những giáo lý tantra tổng quát, thân, ngữ, tâm giác ngộ được
giải thích là Hóa thân, Báo thân và Pháp thân. Trong một số
hệ thống ngoài bốn thân thường được biết, còn thêm vào
Kim cương thân (tánh bất biến của Giác Ngộ), Trí Huệ thân...
Nhưng dù có nhiều thân được diễn tả, đức hạnh của
chúng trong việc giúp đỡ chúng sanh là như nhau.
Một
vị Phật thì thoát khỏi mọi tư tưởng, mọi tiến trình
ý niệm. Ngài biết mọi sự qua tri giác trần trụi. Như thế
khi giúp đỡ những người khác, ngài làm như thế một cách
tự phát không có tư tưởng. Thiện hạnh của ngài, bởi thế,
là không cố gắng. Điều ấy bởi vì khi một vị Phật còn
trên những con đường đến Giác Ngộ ngài đã phát vô số
nguyện có thể làm lợi lạc cho tất cả chúng sanh. Thành
thử khi Giác Ngộ, khả năng đó của ngài là kết quả của
những lời nguyện này và không cần sự cố gắng của thức
hay tư tưởng nữa. Như một đám mây không có ý làm lợi
lạc cho cây cỏ, tuy nhiên khi mưa điều đó tự động xảy
ra, cũng thế một vị Phật làm lợi lạc cho tất cả chúng
sanh.
Có
vài khía cạnh của thiện hạnh của một vị Phật, là giải
thoát nhờ thấy, nhờ nghe, nhớ lại và nhờ xúc chạm. Chỉ
thấy một vị Phật, nghe lời ngài, nhớ lại chúng hay được
tay ngài xúc chạm, bạn có thể được giải thoát khỏi khổ.
Điều này không có gì thần bí và về phần bạn không cần
làm gì cả. Một giải thoát tức thời như vậy có thể xảy
ra trong những trường hợp rất hiếm hoi nhờ sự tích tập
công đức khổng lồ trước kia. Nhưng một sự thấy, nghe...
như vậy nhất định gieo hạt giống nghiệp lành nối kết
với Giác Ngộ và gây cảm hứng cho bạn nỗ lực đạt đến
trạng thái ấy.
Tuy
nhiên, mọi sự như vậy xảy ra không có nỗ lực cố ý về
phần Phật. Chẳng hạn, chỉ nhìn thấy đức Dalai Lama có
thể làm bạn tràn đầy cảm hứng để thực hành Pháp, mà
về phần ngài không cần phải làm điều gì cả. Tháp hay
công trình kỷ niệm ở Bồ Đề đạo tràng nơi đức Phật
Thích Ca biểu lộ Giác Ngộ thì không có tư tưởng hay cố
gắng nào, nhưng nhiều người thấy nó đã xúc động đi nhiễu
quanh và được những tư tưởng tôn giáo gây cảm ứng.
Thí
dụ cổ điển của việc giải thoát qua thấy và nghe là của
vua Trời Đế Thích. Đế Thích ngồi trong cung điện pha lê
của mình và không làm gì cả nhưng hình tướng của ngài
phản chiếu trên mọi khía cạnh của những bức tường cung
điện. Người trên trái đất thấy hình ảnh phản chiếu
đẹp đẽ của ngài và được cảm hứng để làm việc cho
sự thành tựu trạng thái của ngài. Cũng thế, Đế Thích
có một cái trống trời, âm thanh của nó gây xúc động đến
độ người ta phát triển những quán chiếu sâu xa khi nghe
tiếng trống.
Như
mặt trời mặt trăng không có ý định làm lợi lạc cho con
người, một vị Phật đáp ứng những nguyện vọng của chúng
sanh không cần cố gắng, qua thiện hạnh không có tư tưởng
của ngài.
Những
cái trên là những lợi lạc từ những thực hành sơ bộ suốt
hết con đường cho đến giai đoạn không còn thiền định.
Nếu con cố gắng khai triển những chứng đắc đó lần lượt,
không để cho cái nào đã có bị suy thoái mà bao giờ cũng
tăng trưởng, những lợi lạc ấy sẽ đến. Tăng trưởng
sự tinh tấn của con như vậy và thực hành là điểm thứ
sáu để nâng cấp.
NHỮNG
ĐỊNH NGHĨA KẾT THÚC
Từ
ban sơ vô thủy cho đến tối hậu vô chung, mỗi người đều
có phần riêng của mình là cái được gọi là bản tánh của
tự tâm, thực tánh của sự vật hay Đại Ấn của tánh Không,
tánh đó không sai khác gì dù con có chứng ngộ hai sự thanh
tịnh của nó hay không.
Bản
tánh của tâm cũng là Phật tánh. Hai sự thanh tịnh của nó
là sự thanh tịnh tự nhiên của bản tánh thường trụ –
vốn thanh tịnh từ vô thủy – và sự thanh tịnh được viên
thành khi những dấu vết nhiễm ô tạm thời che mờ được
loại bỏ. Nó giống như vàng có hai sự thanh tịnh là trạng
thái tự nhiên của nó cũng như sự thanh tịnh được hoàn
thành khi mọi cấu bẩn được loại trừ.
Cái
mà mọi chúng sanh đều sở hữu như phần của nó là cái
nền tảng (Đại Ấn nền tảng). Trên nền tảng đó con đi
vào những thiền định trên những con đường và bản tánh
của tự tâm suốt từ lúc thực hành đến địa thứ mười
là con đường. Rồi khi con đã thức giấc khỏi giấc ngủ
vô minh, bản tánh thanh tịnh tối hậu được chứng ngộ là
Đại Ấn quả.
Nền
tảng, con đường và quả là tương thuộc và không thể hiện
hữu một mình, như trường hợp một đứa bé, thành người
trưởng thành và người già. Bạn không thể là một người
già mà chưa từng là một đứa bé hay một người trưởng
thành. Cũng thế, Đại Ấn quả đến qua nền tảng và con
đường.
Thấy
tánh thường trụ, thanh tịnh, hiện tiền của thực tại và
thoát khỏi mọi ý niệm năng sở bám nắm là Đại Ấn kiến
(cái thấy Đại Ấn). Tham thiền về ý nghĩa của cái thấy
này không có tư tưởng xao lãng là tham thiền (Đại Ấn).
Bạn
cần một sự hợp nhất của cái thấy và tham thiền. Có tham
thiền mà không có cái thấy thì giống như một người mù
đi trên đồng trống, bạn không thể đi đâu cả. Chỉ có
cái thấy đúng nhưng không tham thiền thì giống như một người
keo kiệt ; cái hiểu biết của bạn không đem lại lợi lạc
cho chính bạn hay cho những người khác. Nhưng với cả hai,
bạn có hai cánh để bay đến Giác Ngộ.
Làm
bốn hoạt động thích hợp và hoàn toàn thoát khỏi mọi ý
niệm có cái được làm và có người làm là hoạt động
(Đại Ấn).
Bốn
hoạt động này là hoạt động toàn thiện, hoạt động bí
mật, trong đám đông và chiến thắng trong khắp mọi hướng,
như đã giải thích ở trên.
Thoát
khỏi mọi ý niệm có cái để tham thiền và người tham thiền,
không có hy vọng và lo lắng như sợ rơi vào sanh tử, hay muốn
chứng đắc Phật quả là quả (Đại Ấn). Khi con đã chứng
ngộ theo cách này nghĩa của cái thấy, tham thiền, hoạt động
và quả, con cần nâng cấp nỗ lực tinh tấn nhiệt thành của
con.
Hãy
kính mến nhiệt thành và kính trọng thương yêu đối với
những Guru, với đức tin trọn vẹn, hoàn toàn đặt bản thân
con vào trong đó. Hãy xa lìa những ám ảnh bằng cách thoát
khỏi sự hấp dẫn của sanh tử và cuộc đời này. Trong mọi
lúc hãy nương dựa vào chánh niệm để không có bất kỳ
sự lang thang nào của tư tưởng. Hãy có những chương trình
ngắn hạn và thực thi chúng đều đặn như cái ống bễ lên
xuống. Bất cứ khi nào những thái độ như muốn giữ thể
diện hay những tư tưởng về cuộc đời hay tám cảm giác
thế gian khởi lên, chúng hoàn toàn vô bổ, hãy triệt hạ
chúng. Hãy chặt đứt mạnh mẽ sợi dây mối quan tâm ích
kỷ của con đối với đời này. Và bất cứ cái gì con khai
triển trong tham thiền, chớ nhàm chán nó, mà hãy nỗ lực
trau dồi nó trong mọi lúc.
Như
thế bạn cần luôn luôn chánh niệm và cảnh giác. Nếu học
mà không có thực hành thì ích lợi gì ? Nếu bạn đòi hỏi
một vật quý giá mà không chăm sóc nó, nó sẽ hư hoại hay
bị mất.
Có
nhiều khác biệt giữa một kinh nghiệm lóe sáng và một huệ
quán. Nếu thiền giả cảm thấy có tâm bên này và đối tượng
của tham thiền bên kia, tức là tánh Không an lạc, sáng tỏ,
vô niệm trần trụi, cái mà nó đang tham thiền hay kinh nghiệm,
đây là một kinh nghiệm chớp sáng nhất thời.
Cần
chú ý rằng cùng một từ kỹ thuật được dùng cho những
kinh nghiệm nhất thời và những ân điển. Chúng đầy tính
nhị nguyên và dù đẹp đẽ hấp dẫn, chúng vô thường như
những đóa hoa trên sườn núi. Những quán chiếu hay huệ quán,
ngược lại, là vững chắc kiên cố hơn.
Nếu
con chứng ngộ, thấu hiểu với tri giác trần trụi và không
giả định rằng không có người tham thiền và cái để tham
thiền, đó là một huệ quán. Bởi thế, đã phân biệt giữa
một kinh nghiệm chớp sáng nhất thời hay ân điển với một
huệ quán, con hãy tự đặt mình trong một trạng thái không
bị ám ảnh với những ân điển này và không bám chấp chúng
như là tối thượng. Bấy giờ hãy trau dồi chúng với nỗ
lực trong mọi lúc. Điều này quan trọng.
Dù
những ân điển (lạc, sáng tỏ, vô niệm) không là tối thượng,
chúng là nền tảng cho quán chiếu thấu suốt. Bởi thế bằng
cách tăng cường và trau dồi chúng mà không bám luyến, những
huệ quán nhất định sẽ đến.
Trong
bốn loại ấn, ấn hoạt động là con đường cho những người
căn cơ cùn lụt. Qua nó con hoàn thành những chứng đắc thần
lực của Dục giới.
Có
nhiều mức độ ý nghĩa về bốn ấn. Đây là ấn hoạt động,
karmamudra, ám chỉ thực hành (1) những hoạt động an bình
làm bình lặng bệnh tật và những quấy nhiễu, (2) những
hoạt động làm tăng tuổi thọ, những phẩm tính tốt và
công đức, (3) những hoạt động có quyền năng đối với
các đại, và (4) những hoạt động hung nộ để trừ sự
làm hại và những chướng ngại. Kết quả của những hoạt
động này là bạn có thể có được sức khỏe tốt, sống
thọ, giàu có, thần lực... chúng là những chứng đắc thần
lực của Dục giới.
Ấn
những cam kết và ấn của Pháp là những con đường cho những
người căn cơ trung bình. Qua chúng con hoàn thành những chứng
đắc thần lực tối hậu của cõi cao nhất của sanh tử,
cõi trời Akanistha (Og-min), ở trên tất cả các cõi khác.
Ấn
những cam kết, samayamudra, là sự giữ gìn những lời nguyện
và cam kết của các bộ Phật. Ấn của Pháp, dharma-mudra, là
quán tưởng chính bạn là một hóa thần thiền định. Áp
dụng những cái này mà không có sự chứng ngộ tánh Không
thì chỉ có thể đem bạn đến đỉnh của sanh tử, nhưng
không đến Giác Ngộ. Bạn có thể hoàn thành những chứng
đắc thần lực thông thường và v.v..., nhưng không phải là
cái tối thượng.
Nhưng
Đại Ấn của tánh Không là con đường cho những người căn
cơ sắc bén. Nó là phương tiện để hoàn thành sự chứng
đắc tối thượng (Giác Ngộ).
Bởi
thế, do áp dụng tất cả bốn ấn lần lượt cho sự thực
hành của bạn, bạn sẽ đạt đến trạng thái toàn giác của
một vị Phật.
Đại
Ấn là sự bất nhị của hình tướng và tánh Không, lạc
và Không, giác và Không, sáng tỏ và Không, thoát khỏi mọi
cực đoan do tâm thức tạo tác. Nó không phải là cái gì có
thể chỉ ra được bởi một Guru, hiểu một cách trí thức
bởi một đệ tử, hay có thể làm cho hiểu được bằng lời.
Nó thoát khỏi tất cả mọi ý niệm “cái này và không phải
cái kia”. Không có cái gì mà nó không thấu suốt, hình tướng,
hiện hữu, sanh tử hay Niết Bàn. Nó là trạng thái vĩ đại
siêu vượt trí thức (hay tâm thức quy ước). Tính đồng thời
của tâm, tư tưởng và Pháp thân đã có từ vô thủy. Nhưng
bởi vì nó không được thấu hiểu, các vị Guru bèn giải
thích bằng những chỉ dạy truyền khẩu rằng cả ba cái ấy
phải được hòa lẫn làm một như một nhất thể không thể
phân lìa. Điều này được biết như là Đại Ấn của đồng
thời khởi lên và lặng mất.
Khi
bạn hòa lẫn tâm, tư tưởng và Pháp thân, đó không phải
giống như trộn bột với xi măng, mà hơn nữa như rót nước
vào trong nước. Bản tánh của tư tưởng chính là bản tánh
của tâm : cả hai cùng là Pháp thân. Những tư tưởng dù gây
ra mê lầm nhưng không phải để đoạn trừ cũng không cần
cố gắng dứt diệt. Bằng cách nhận ra bản tánh của chúng,
chúng tự nhiên thanh tịnh và bạn chứng ngộ Pháp thân và
là một vị Phật. Khi không hiểu chúng, bạn mê lầm đối
với những tư tưởng và là một chúng sanh.
Những
tư tưởng, tâm và Pháp thân đồng thời từ vô thủy. Nếu
đặt câu hỏi, mê lầm hay Giác Ngộ cái nào có trước, thì
cũng chẳng khác gì hỏi, gà con hay trứng có trước ? Không
phải trước tiên bạn có Giác Ngộ rồi sau đó trở nên vô
minh về nó, cũng không phải trước tiên bạn vô minh rồi
sau đó Giác Ngộ. Chúng đồng thời và không có lúc bắt đầu.
Tuy nhiên, một vị Phật không có tư tưởng và không mê lầm.
Thế nghĩa là gì ?
Tư
tưởng tỏa khắp cùng Pháp thân, bởi thế không thể nói
rằng một vị Phật đã đoạn trừ tư tưởng, vì như thế
có nghĩa là ngài đã đoạn trừ Pháp thân. Nhưng bởi vì một
vị Phật nhận biết tư tưởng là Pháp thân nên những tư
tưởng không khởi lên nơi dòng tâm của ngài và mọi hoạt
động và biểu lộ là thiện hạnh tự nhiên không có tư tưởng.
Dòng
Đại Ấn bắt nguồn từ đức Phật Vajradhara đến Tilopa,
Naropa, Marpa, Milarepa và rồi đến Gampopa, dòng thiền định
từ những đệ tử trực tiếp của Gampopa là những dòng Đại
Ấn Zhang, Barom và Drikung Kagyu, dòng sau là từ Pagmo Drupa. Những
dòng trực tiếp từ Pagmo Drupa là Đại Ấn Taglung, Channga,
Marye, Shubsewa, Tropu, Yazang và Drugpa Kagyu, dòng sau này là dòng
từ Lingrapa và Gyarapa. Đặc biệt có dòng Karma Kamtsang Kagyu
không suy hoại của hơi thở chư vị Dakini và hơi ấm của
những ban phước không đứt đoạn từ Gampopa qua Karmapa thứ
Nhất Dusum Kyenpa xuống đến Guru của tôi (Shamar Rinpoche thứ
Năm) là Konchog Yenlag. Đó là một dòng truyền thừa phối hợp
thành một những đặc trưng của tất cả giáo lý Đại Ấn.
Được biết như là Đại Ấn của đồng thời khởi lên và
lặng dứt, nguồn của mọi phẩm tính tốt lành, nó sáng danh
trong thế giới như mặt trời và mặt trăng. Nếu thực hành
nó một cách có ý thức, chắc chắn hành giả sẽ tự động
khai triển những kinh nghiệm và huệ quán. Thực hành theo cách
này là điểm thứ bảy.
LỜI
CHÚ CỦA TÁC GIẢ
Không
gom những trích dẫn kinh điển..., tôi đã giải nghĩa Đại
Ấn bằng cách xem điều chính yếu là việc nhận ra bản tánh
của tâm, chỉ thẳng vào sự thực hành. Dù bản thân không
có kinh nghiệm, tôi, Mipham Cho-wang hay Vajresvara (Karmapa thứ
Chín Wangchug Dorje, 1556-1603), đã mượn lời của chư Guru đời
trước viết ra bản văn này ở tu viện Zhokawor trong những
thời thiền định theo sự yêu cầu khẩn khoản của Samde
Lama Rabjam Mawa Samtan Kunga. Nó gồm hai mươi, hai mươi hay hai
mươi lăm chủ đề tham thiền.
Công
đức này, nguyện tôi và tất cả chúng sanh là cha mẹ nhiều
đời của tôi thoát khỏi sự hấp dẫn ám ảnh của hình
tướng thế gian và thấy tánh.
Shubham
satu sarvajagatam, nguyện toàn thế giới được thanh tịnh.
Bản
văn này đã được giải thích với sự bình giảng miệng
của Jamyang Khyentse Wangpo Rinpoche thứ Ba, hợp theo những lời
dạy của Guru của mình là Đức Karmapa thứ Mười Sáu, Rangjung
Rigpai Dorje. Nó được dịch sang tiếng Anh và kết tập bởi
Alexander Berzin, và được dạy bằng tiếng Tây Tạng ở Bồ
Đề đạo tràng, Ấn Độ, giữa tháng Mười Hai năm 1976 và
tháng Giêng 1977.
BÀI
NGUYỆN ĐẠI ẤN
Karmapa
thứ Ba Rangjung Dorje
Những
Lời Dạy của những Thành tựu giả Tối Thượng
BÀI
NGUYỆN ĐẠI ẤN(1)
1.
Kính lễ Guru ! Chư lama và yidam
chư
Phật ba thời mười phương và Phật tử
thương
tưởng đến con, ban phước những lời cầu nguyện
giúp
chúng được thành tựu đúng như ý nguyện.
2.
Nguyện công đức con lìa dơ nhiễm tam luân(2)
tuôn
ra từ ngọn núi tuyết của chính con
và
những tâm hạnh trọn sạch của thảy chúng sanh
chảy
vào đại dương bốn thân của chư Phật.
3.
Dù có lâu dài bao nhiêu để thành tựu
trong
mọi kiếp kia sự tiếp nối nhiều đời
nguyện
âm thanh “ác”, “khổ” không còn nghe được,
nguyện
thường được thọ hưởng biển pháp thiện lạc.
4.
Đủ rảnh rang, tín, thiện xảo và trí huệ
gặp
đạo sư, nguyện được giáo huấn khẩu truyền,
không
chướng ngại trong việc như pháp tu trì
nguyện
đời đời thực hành pháp tối thượng.
5.
Học thánh pháp giải thoát khỏi vô minh chướng.
Suy
nghĩ những lời dạy xua tan nghi ám.
Thiền
định, phóng ánh sáng soi chiếu tâm địa.
Nguyện
ánh sáng của ba bát nhã (trí huệ) tăng trưởng.
6.
Nghĩa “nền tảng” là hai đế, lìa có-không.
“Con
đường” hai sự tích tập, lìa tăng giảm.
“Quả”
vượt khỏi sanh tử Niết Bàn đạt được.
Nguyện
gặp pháp không lầm cũng không lạc lối.
7.
Gốc tịnh hóa là Tánh (của tâm) : Trí-Không hợp nhất.
Yoga
kim cương Đại Ấn, thường làm tịnh.
Nguyện
những nhiễm ô huyễn hóa vô căn được tịnh,
Pháp
thân không vết nhơ rõ ràng hiển lộ.
8.
Nơi nền tảng, bỏ thêm thắt : “kiến” bảo đảm.
Hộ
trì “kiến” không xao lãng là tham thiền.
Trọn
thành thạo trong tham thiền là tối hạnh.
Nguyện
kiến, thiền, hạnh xác thực như tánh.
9.
Mọi hiện tượng là những xuất hiện của tâm.
Nhưng
tâm không có đó, vì tâm vốn không,
không
mà không đoạn, không gì chẳng hiển hiện.
Nguyện
khéo quán sát, đoạn gốc rễ căn bản.
10.
Vốn không, tự hiện mà mê cho là cảnh.