PHẦN
MỘT:
NHỮNG
SƠ BỘ
QUY
Y, LỄ LẠY VÀ BỒ ĐỀ TÂM
Sự
giải thích làm thế nào để thực hành Đại Ấn này của
dòng Kagyu quý báu không biến chất chia làm ba phần : những
sơ bộ, phần chính và kết luận.
Phần
thứ nhất bắt đầu bằng quy y và khai triển Động Lực Giác
Ngộ của Bồ đề tâm.
Những
thực hành sơ bộ có phần phổ thông và phần đặc biệt.
Phần phổ thông là thiền định về thân người khó được,
cái chết và vô thường, nghiệp báo hay luật nhân quả, những
tai hại của sanh tử luân hồi. Là một nền chung, chúng là
bối cảnh cho mọi thực hành và phát tâm của mọi trường
phái Phật giáo. Những sơ bộ đặc biệt (ngošn-dro) là vừa
lễ lạy vừa quy y, tịnh hóa Vajrasattva, cúng dường mạn đà
la và Guru yoga.
Bốn
pháp này có thể thực hành theo nhiều kiểu, nhưng thông thường
nhất là thực hiện 100.000 lần mỗi pháp lần lượt nối
tiếp nhau trong một nỗ lực liên tục. Một cách khác là làm
một số lượng của mỗi pháp mỗi ngày như là sự thực
hành hàng ngày của bạn. Số lượng này không nhất định
và đôi khi cần đếm xem bao nhiêu, đôi khi không cần, nhưng
phải tiếp tục cho đến khi nào bạn có những dấu hiệu
thành công. Bốn pháp này có thể được lập lại trong một
khoảng thời gian ở nhiều dịp khác nhau hay tiếp tục từng
bước chậm cho đến suốt đời. Hơn nữa, những thực hành
thật sự mà bạn làm như những sơ bộ có thể thay đổi.
Guru của bạn sẽ quyết định cái nào là tốt nhất cho bạn.
Sau đây là một diễn tả tổng quát những sơ bộ tiêu chuẩn
như được thực hành trong dòng Karma Kagyu. Những giáo huấn
đặc biệt, chi tiết nên nhận từ Guru của bạn.
Mục
tiêu của những thực hành sơ bộ là loại bỏ hay tịnh hóa
những chướng ngại nơi tự thân bạn cản trở thực hành
và tích tập công đức để đưa đến thành công. Lễ lạy
và thiền định Vajrasattva hoàn thành cái trước, trong khi cúng
dường mạn đà la và Guru yoga hoàn thành cái sau. Nghĩ về
luật nhân quả và về mọi hành động xấu đã phạm phải
trong quá khứ và sẽ chịu khổ đau như hậu quả của chúng,
bạn sẽ rất hối hận và quay về quy y Tam Bảo. Tự giao phó
cho Phật, Pháp, Tăng, bạn cần cúng dường lễ lạy để làm
sạch những khổ đau chưa chín tới.
Hơn
nữa, bạn cần thấu hiểu tất cả chúng sanh chỉ muốn hạnh
phúc và không bao giờ muốn khổ đau, nhưng không biết làm
thế nào có được điều ấy. Họ không biết rằng những
hành động tốt đem lại hạnh phúc, trong khi những hành động
xấu, ác chỉ đem lại khổ đau. Bởi thế hãy khai triển lòng
bi cho họ và ước muốn cũng tịnh hóa họ bằng chính sự
thực hành của bạn. Và cuối cùng bạn cần phát Bồ đề
tâm, Động Lực Giác Ngộ, mong muốn rằng do quy y và lễ lạy
bạn sẽ loại bỏ mọi chướng ngại để có thể đạt đến
trạng thái giác ngộ của một vị Phật hầu thực sự làm
lợi lạc cho tất cả chúng sanh khác.
Trong
không gian trước mặt con, hãy quán tưởng một cây ban cho
ước nguyện với một thân và phân thành năm nhánh. Trên nhánh
giữa là Guru của con (trong hình thức Vajradhara), nhánh trước
mặt là những bổn tôn thiền định (yidam), bên phải là chư
Phật, phía sau là kinh điển Pháp và bên trái là Tăng. Mỗi
nhánh được bao quanh bởi đông đảo nhân vật cùng loại.
Con cần quy y (trong lúc lễ lạy), đọc kinh kệ và quán tưởng
mình được vô số chúng sanh-là-mẹ bao quanh sau lưng và cùng
quy y lễ lạy như con.
Đây
là Pháp quán tưởng ruộng công đức hay cây những Guru tụ
hội. Hãy tưởng tượng chung quanh bạn là một vườn hoa đẹp
đẽ, cỏ mềm mại và thú hiền từ. Giữa cái hồ tuyệt
đẹp là một cây ban cho ước nguyện như tả ở trên. Vajradhara
(TT. Dorje Chang) là hình tướng đức Phật dùng trong những
tantra. Những hóa thần bổn tôn thiền định (yidam), gồm Vajrayogini,
Heruka v.v... ; chư Phật là những vị Phật quá khứ, hiện
tại và tương lai ; Pháp là ba tạng kinh điển và Tăng là
những bồ tát như Quán Thế Âm và Tara, cũng như những Độc
Giác Phật và Thanh Văn như Xá Lợi Phất... Xung quanh phần
dưới của cây là những hộ pháp như Maha-kala. Nếu bạn không
biết tất cả những nhân vật này như thế nào hay không thể
quán tưởng các vị một cách rõ ràng, chớ có lo ngại. Ít
nhất hãy tin rằng các vị ở trước mặt bạn. Với sự quen
dần và tranh ảnh bạn sẽ học thấy được các vị.
Hãy
quán tưởng bạn trong hình thức bình thường, với tất cả
bà con thân thuộc nam ở bên phải và nữ ở bên trái bạn.
Hãy tưởng tượng bạn đang ở trong một đám đông người
và thú, bạn như người lãnh đạo của họ, và tất cả lễ
lạy và quy y. Lạy bằng cách chắp tay, từ đỉnh đầu, đến
giữa hai mày, cổ họng và trái tim, rồi sấp xuống đất
và duỗi dài, hai tay đưa tới trước. Hãy khởi dậy nhanh
chóng. Hãy lạy như thế khi lập lại những câu kệ như “Con
và tất cả chúng sanh-là-mẹ rộng lớn như không gian... quy
y những Guru tôn thánh. Chúng con quy y những Yidam và chư hóa
thần trong mạn đà la. Chúng con quy y chư Phật Thế Tôn. Chúng
con quy y Thánh Pháp. Chúng con quy y chư Thánh Tăng. Chúng con
quy y chư Daka, Dakini, chư Hộ pháp và Hộ mạng có con mắt
của trí huệ nguyên sơ. Hãy duy trì trọn vẹn sự tập trung,
niềm tin và thành tâm mạnh mẽ. Ba cái này – lạy, đọc
tụng và tập trung – là sự lễ lạy thân, ngữ, tâm. Bạn
cần lập lại bài tụng và lễ lạy 100.000 lần, cũng như
hãy bắt đầu bất kỳ thời thiền nào với ít nhất bảy
lần lạy.
Khi
lễ lạy bạn có thể kinh nghiệm nhiều khổ sở, nhọc mệt.
Hãy chấp nhận chuyện đó như một cái đau của một mũi
thuốc chích mà bạn vui vẻ chịu đựng để khỏi bệnh. Sự
khó khăn của bạn tỷ lệ với số nghiệp và khổ đau chưa
chín tới mà bạn cần tẩy sạch. Khi bạn bị đau, hãy cảm
thấy bạn không chỉ loại trừ bằng cách trải nghiệm sự
khổ đau đáng lý bạn phải có còn mạnh hơn trong những tái
sanh tới, mà bạn còn cất đi sự khổ đau này khỏi những
người khác. Nếu bạn cảm thấy nóng hay lạnh, hãy cầu nguyện
rằng điều đó trừ bỏ cho chúng sanh địa ngục thoát khỏi
khổ đau ấy. Hãy nhận lấy đói khát từ những ngạ quỷ
và nếu tâm thức bạn hôn trầm trống rỗng vì mệt mỏi,
hãy quán tưởng những súc sanh được thoát khỏi sự ngu si
của chúng. Với niềm tin mạnh mẽ và thường xuyên tái xác
định sự phát tâm, bạn sẽ không có nghi ngờ về điều
bạn đang làm. Nếu có những tư tưởng khởi lên bảo ta ngưng
bỏ sự tu hành và làm điều khác, hãy xem chúng như một đám
phá phách, không nhìn đến chúng.
Con
cũng cần đọc tụng, “Từ nay cho đến khi giác ngộ, con
quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng...” và nghĩ, “Biết rằng
tất cả chúng sanh đã từng là mẹ cha của con, con quy y và
khai triển Bồ đề tâm.” Thêm vào đó con cần thiền định
về Bốn Vô Lượng Tâm, “Nguyện tất cả chung sanh có hạnh
phúc và những nguyên nhân của hạnh phúc...” Và v.v...
Câu
“Con quy y chư Phật, Pháp, Tăng cho đến khi con giác ngộ.
Từ công đức con gom góp do thực hành bố thí và các ba la
mật khác, nguyện con đạt được trạng thái Phật để làm
lợi lạc cho tất cả chúng sanh”, thường được đọc tụng
để nâng cấp sự khai triển Bồ đề tâm.
Bốn
tâm vô lượng là (1) Từ, mong tất cả chúng sanh có được
hạnh phúc và những nguyên nhân của hạnh phúc, (2) Bi, mong
họ lìa bỏ khổ đau và những nguyên nhân của đau buồn,
(3) Hỷ, mong họ không bao giờ lìa khỏi hạnh phúc họ có,
(4) Xả, mong rằng họ thoát khỏi tất cả những bám luyến
và ghét bỏ và khỏi tất cả ý niệm thân gần và xa lạ.
Lúc
kết thúc con cần thiền định rằng những đối tượng để
quy y tan thành ánh sáng và tan biến vào con và như thế dòng
tâm thức của con được tịnh hóa.
Khi
bạn đã hoàn tất thời lễ lạy, hãy làm tan tất cả hình
tướng vào Guru của bạn như là Phật Vajradhara và cuối cùng
hòa tan ngài vào trong chính bạn. Hãy an trụ trong một trạng
thái không năng sở của tánh Không và sáng tỏ bất nhị,
không lệch về một cực đoan (có không, đoạn thường...)
nào cả. Nói cách khác, chớ có phóng hiện bất cứ hình tướng,
ý tưởng nào cả. Hãy an trụ trong cái bây giờ và ở đây
(cái hiện tiền), và cảm thấy bạn là sự thanh tịnh bổn
nhiên rốt ráo.
Đây
là thực hành sơ bộ thứ nhất, những thiền định về quy
y và khai triển Bồ đề tâm.
THIỀN
ĐỊNH VAJRASATTVA
Vajrasattva,
tiếng Tây Tạng Dorje Sempa, là một hiện tướng của chư Phật
có mục đích để tịnh hóa và trừ bỏ khổ đau, bệnh tật
và nghiệp xấu đã tạo. Ngài xuất hiện dưới nhiều hình
tướng, an bình hay như là Heruka Vajrasattva, một mình hay với
phối ngẫu. Thực hành về ngài có thể chi tiết nhiều hay
ít. Sau đây là phương pháp tịnh hóa với Vajra-sattva một
mình.
Trên
đỉnh đầu con, hãy quán tưởng Guru của con như là Vajrasattva,
màu trắng, tay phải cầm một chày Kim cương ở trái tim và
tay trái cầm một cái chuông ở ngang hông, đầy đủ 32 tướng
chánh và 80 tướng phụ của một vị Phật.
Trên
đỉnh đầu thân tướng bình thường của bạn hãy quán tưởng
một chữ PAM. Chữ này chuyển hóa thành một hoa sen trắng
và trên đó từ một chữ AH xuất hiện một dĩa mặt trăng
tròn. Trên dĩa mặt trăng, một chữ HUM biến thành một chày
Kim cương năm đỉnh, ở giữa chày Kim cương này lại có một
chữ HUM. Ánh sáng phát ra và thu lại hai lần từ chữ HUM này
hai lần : lần đầu cúng dường cho chư Phật chư Bồ tát
và lần sau trừ diệt khổ đau cho tất cả chúng sanh. Bấy
giờ chày Kim cương chuyển hóa thành Vajrasattva đơn, như tả
ở trên. Chân trái ở trên đùi phải và chân phải duỗi ra
thõng xuống. Nơi tim ngài là một dĩa mặt trăng với một
chữ HUM đứng thẳng, màu trắng ở giữa.
Vajrasattva
có một thần chú một trăm âm và một thần chú sáu âm chúng
có thể được xếp theo các cách, hoặc theo chiều kim đồng
hồ hoặc ngược chiều, hoặc quay tròn hoặc đứng yên. Riêng
trong thiền định này, thần chú trăm âm của ngài được
trì tụng 100.000 lần, được xếp đặt ngược chiều kim đồng
hồ dọc theo vành ngoài của dĩa mặt trăng trong trái tim ngài.
Những chữ màu trắng, thẳng đứng, hướng vào trong và không
chuyển động.
Sau
khi thiền định như vậy, con tụng đọc, “Nam mô Guru Vajrasattva,
xin ngài rửa sạch cho con mọi chướng ngại và nghiệp xấu
chưa chín tới con đã mắc phải trong quá khứ.” Thêm nữa,
con cần áp dụng bốn năng lực đối trị trong khi phát lồ
sám hối.
Để
thiền định này hiệu quả nhất, phải làm với bốn năng
lực đối trị khi phát lồ sám hối. Thứ nhất, bạn phải
nhớ lại mọi mọi lỗi lầm và thành tâm hối hận. Thứ
hai là hứa hết sức không tái phạm. Thứ ba, bạn phải nương
dựa vào cái nền tảng chống lại những bất thiện hạnh
bạn đã mắc, tức là sự cam kết quy y và Bồ đề tâm. Như
thế do quy y lập lại và nâng cấp Động Lực Giác Ngộ, bạn
củng cố lại nền tảng cho đạo đức của bạn. Cuối cùng,
bạn áp dụng những thực hành tịnh hóa như pháp Vajrasattva
để xóa sạch mọi nhiễm ô. Nếu không hội đủ bốn điều
này thì bất cứ sự tịnh hóa nào bạn làm chỉ là một sự
quét phủ màu trắng bề ngoài tạm bợ. Nhưng với bốn cái
đối trị này và tin tưởng thành tâm vào khả năng tịnh
hóa của chúng, chúng sẽ tác dụng không nghi ngờ gì.
Rồi
quán tưởng cam lồ màu trắng chảy từ ngón chân cái bên
phải của Vajrasattva, đi vào đỉnh đầu của con và ngập
đầy thân con. Tất cả mọi chướng ngại và nghiệp duyên
chưa chín tới thoát ra khỏi thân con và toàn thân con đầy
khắp cam lồ.
Khi
bạn trì tụng thần chú trăm âm, ánh sáng trắng và cam lồ
tịnh hóa từ dĩa mặt trăng, chủng tự HUM và thần chú ở
tim ngài hoàn toàn tràn đầy thân ngài, chảy tràn ra đi vào
thân bạn như nói ở trên. Hãy tưởng tượng rằng từ những
lỗ chân lông và các lỗ của thân bạn những nghiệp chướng
thoát ra trong hình thức bồ hóng và nhựa đen, bệnh tật đau
ốm như mủ máu lầy nhầy, tà khí, ma quỷ như rắn, bò cạp,
nhện và côn trùng. Tất cả các thứ này tan biến vào trong
đất và thay vào đó là ánh sáng và cam lồ trắng ngập đầy
thân thể. Hãy quán tưởng tiến trình này cũng xảy ra với
tất cả chúng sanh chung quanh bạn, mỗi chúng sanh có một Vajrasattva
trên đầu hay mọi người đều chia nhau lãnh nhận một Vajrasattva
vĩ đại.
Guru
của con (Vajrasattva) hài lòng, tan thành ánh sáng rồi tan vào
trong con. Con cần thiền định rằng thân, ngữ, tâm của con
và thân, ngữ, tâm của Vajrasattva hòa lẫn không thể tách
lìa và con được xóa sạch mọi nghiệp chướng. Đây là sự
thực hành sơ bộ thứ hai : thiền định Vajrasattva và trì
thần chú.
CÚNG
DƯỜNG MẠN ĐÀ LA
Cúng
dường nói chung không phải để làm hài lòng hay đút lót
cho người được cúng dường. Chúng là một biểu tượng
thể hiện sự quy hướng hoàn toàn của bạn đến Giác Ngộ
mà đại diện là những Guru và Tam Bảo, và được cúng để
có công đức hầu đem bạn đến trạng thái của các ngài.
Khi gieo những hạt giống vào một cánh đồng, không phải
đất đai được lợi lạc, mà là chính bạn. Cũng thế cúng
dường cho hội các Guru như là ruộng công đức đem bạn đến
Giác Ngộ để bạn có thể làm lợi lạc tất cả.
Có
nhiều loại mạn đà la. Một cách xếp đặt là những lâu
đài cõi trời, nơi ở của các hóa thần thiền định. Đây
là những cấu trúc ba chiều, những tầng nền được vẽ
trong mạn đà la. Loại khác được dùng trong cúng dường,
gồm một nền phẳng như cái dĩa, những vòng tròn, một chóp
đỉnh, và gạo, hạt hoặc ngọc, tất cả tượng trưng cho
vũ trụ.
Con
hãy quán tưởng trước mặt con là một lâu đài mạn đà
la với năm loại nhân vật bên trong. Ở trung tâm là Guru của
con (như là Vajrasattva), trước ngài là những hóa thần của
bổn tôn, bên phải ngài là chư Phật, bên trái ngài là chư
Tăng và đàng sau là kinh điển Pháp. Đây là mạn đà là được
quán tưởng trước mặt con.
Tổng
quát, những lâu đài mạn đà la thì vuông với một mặt nền
và cấu trúc như cái tháp. Ở giữa mỗi bức tường là một
cửa, hành lang đi vào, cổng vòm, trên vòm có hai con nai và
bánh xe Pháp. Kiến trúc và tỷ lệ khác nhau chút ít đối
với mỗi hóa thần thiền định và có thể rất phức tạp.
Ở
trung tâm của một tòa nhà trong suốt làm bằng ánh sáng như
vậy, là Guru của bạn trong hình thức Vajradhara. Ngài ngồi
trên một tòa ngồi có hoa sen và mặt trăng làm chỗ ngồi,
do những con sư tử nâng đỡ. Ở trên ngài là tất cả dòng
các bậc Guru, từ Vajradhara qua Tilopa, Naropa... cho đến Guru
gốc của bạn. Xung quanh ngài là bốn nhóm nhân vật như nói
ở trên, tương tự với khi quán tưởng quy y và lễ lạy.
Đây là ruộng công đức để cho bạn cúng dường.
Bấy
giờ hãy làm một mạn đà la khác với những ụ đống của
nó và cúng dường nó với câu tụng “...một mạn đà la
được xây trên một nền rực rỡ với hoa, nước màu vàng
nghệ và hương...” và v.v..., cùng với phần còn lại của
chất liệu cấu thành mạn đà la. Như thế con dâng cúng cả
hai mạn đà la, một bằng vật chất thực sự và một do tâm
thức tạo nên.
Với
một mạn đà la để cúng dường đủ tiêu chuẩn, trước
hết cầm mặt dĩa và chùi sạch nó trong khi tụng một lần
thần chú một trăm âm để tịnh hóa những nhiễm ô phiền
não. Tiếp theo nhỏ một giọt nước lên đó để bày tỏ
sự phát Bồ đề tâm của bạn và sự thấm ướt của lòng
bi. Rồi đặt cái vành đai đầu tiên lên mặt dĩa, đổ gạo,
đậu... Thành các ụ đống theo những hướng thích hợp cho
từng nơi chốn, kho tàng và thiên nữ cho đến khi tất cả
những vành đai đều đầy và được hoàn thành với chót
đỉnh được trang hoàng với chất liệu quý báu. Đây là
sự cúng dường mạn đà la vật chất trong khi đọc tụng
những câu kệ.
Mạn
đà la do tâm thức tạo nên là sự quán tưởng của bạn như
được diễn tả bởi những câu kệ này. Cái bạn đang cúng
dường là toàn thể vũ trụ và tất cả sự giàu có của
nó như đức Phật đã nói trong những giáo lý Abhidharma (A
tỳ đàm). Đức Phật diễn tả vũ trụ theo nhiều cách khác
nhau, bởi vì tùy theo trạng thái thanh tịnh của bạn, bạn
thấy sự vật một cách khác nhau. Theo sự diễn tả riêng
ở đây, có đất bằng vàng với một vành đai hay hàng rào
bằng sắt làm chu vi và một đại dương nước mặn ở bên
ngoài. Bên trong hàng rào, nơi mỗi hướng chính là bốn châu
lục, mỗi châu có hai tiểu lục địa ở giữa châu đó với
hàng rào, tất cả tách rời nhau bởi những đại dương. Trên
bờ kia của những đại dương, đi dần vào trung tâm là những
hàng rào lần lượt của bảy núi vàng và bảy hồ nước
trong. Ở trung tâm là Núi Tu Di, vuông, hình cái tháp, với bốn
tầng từ dưới đáy lên trên. Mặt phía đông của núi bằng
pha lê trắng, mặt nam ngọc da trời màu xanh, mặt tây hồng
ngọc màu đỏ và mặt bắc ngọc bích màu lục. Biển và trời
mỗi phương có màu tương ứng. Châu phía đông và các tiểu
lục địa hình bán nguyệt mặt thẳng đối diện núi Tu Di,
châu phía nam hình bốn cạnh cong, với những mặt lõm, đỉnh
mặt lõm dài hơn thì xa núi Tu Di và đáy mặt lồi ngắn hơn
gần núi Tu Di, châu phía tây hình tròn và châu phía bắc hình
vuông.
Con
người ở châu phía nam (Nam Thiệm Bộ Châu), nơi những đại
dương và bầu trời màu xanh. Những châu khác không nên nghĩ
như những nơi chốn ở không gian bên ngoài có thể đi đến
bằng phi thuyền. Bạn chỉ có thể đến đó nếu bạn tích
tập đủ nghiệp cho một tái sanh ở chỗ ấy.
Câu
kệ mà bạn lập lại 100.000 lần trong phần sơ bộ này là,
“Hướng đến những cõi Phật sự cúng dường mạn đà la
này, xây trên một nền rực rỡ bằng hoa, nước màu nghệ
và hương, trang nghiêm với núi Tu Di và bốn châu lục, cũng
như mặt trời mặt trăng, nguyện tất cả chúng sanh đều
được sanh về các cõi Tịnh Độ.”
Do
sức mạnh của những cúng dường như vậy, con tích tập hai
thứ công đức và huệ quán và nhận những ban phước để
khai triển những kinh nghiệm và huệ quán cao siêu. Đã cầu
xin những ban phước, con quán tưởng tất cả hội các hóa
thần trong mạn đà la làm ra trước mặt con tan thành ánh sáng
và tan vào trong con. Theo cách đó, con làm đầy đủ hai sự
tích tập.
Bằng
cách cúng dường mạn đà la vật chất và vũ trụ được
quán tưởng, bạn tích tập công đức. Khi làm thế, vừa thiền
định về trạng thái không năng sở của tánh Không về những
sự cúng dường, bạn tích tập huệ quán. Do sức mạnh của
hai sự tích tập này bạn chiến thắng hai loại chướng ngại,
những chướng ngại ngăn trở Giải Thoát và những chướng
ngại ngăn trở Toàn Trí. Sự tích tập công đức làm cho đạt
được những Sắc thân của một vị Phật, và tích tập huệ
quán là những thân Trí Huệ. Những Sắc thân là Hóa thân
và Báo thân. Hóa thân xuất hiện cho những chúng sanh bình
thường, trong khi Báo thân chỉ các Thánh Bồ tát mới thấy
được, đó là những vị với Bồ đề tâm và có tri giác
trần trụi về tánh Không. Những thân Trí Huệ là Tự Tánh
thân và Pháp thân. Theo bản văn này, thì Tự Tánh thân là
tâm Toàn Giác của một vị Phật và tánh Không của tâm ấy,
còn Pháp thân là tính bất nhị của ba thân trước. Tuy nhiên
những định nghĩa của hai Tự Tánh thân và Pháp thân thường
đổi ngược và đôi khi Pháp thân chỉ được như một từ
chung cho cả hai. Hơn nữa, có nhiều cấp độ khác để hiểu
và định nghĩa những thân khác nhau của một vị Phật.
Đây
là sự thực hành sơ bộ thứ ba : cúng dường mạn đà la.
GURU
YOGA
Sự
thực hành chót của những sơ bộ đặc biệt, cũng để tích
tập công đức và để được những ban phước, là Guru yoga.
Để thực hành nó, bạn cần quán tưởng bản thân bạn trong
hình tướng một hóa thần thiền định. Có thể theo bất
cứ hóa thần nào, nhưng thường người ta chọn Vajrayogini.
Ngài màu đỏ, có một mặt. Hai tay, hai chân và đứng trên
một chân, với chân trái trên một hoa sen, một xác chết và
một dĩa mặt trời, và chân phải gối xếp cong bàn chân hướng
về đùi trái. Ngài cầm trong tay phải một cây dao ở trên
đầu và trong tay trái một cái chén sọ người ở tim. Một
cây giáo khatvanga dựa trên vai trái. Với bản thân bạn trong
hình tướng này, hãy tiến hành những thực hành.
Con
thiền định trên đỉnh đầu con là Guru gốc của con, hoặc
trong thân tướng bình thường hoặc dưới hình dạng một
hóa thần thiền định. Con quán tưởng tất cả dòng những
Guru ngược đến Vajradhara, vị này ngồi trên đầu vị kia
ở trên đầu Guru gốc hoặc chư vị vân tập chung quanh ngài.
Con cầu nguyện các ngài rất mãnh liệt và thật lâu với
lòng thành khẩn, tôn kính thương yêu, chân thật vô biên.
Khi tâm thức của con đã biến đổi tốt hơn, hãy làm cho
tâm thái đó vững chắc. Rồi tất cả chư Phật, Bồ tát,
Daka, Dakini, Hộ pháp, Hộ mạng cùng với chúng hội của các
vị tan vào trong Guru gốc của con. Con phải thiền định về
Guru gốc như là hiện thân của tất cả các vị trên.
Như
nói ở trước, có nhiều loại Guru yoga – quán tưởng Guru
gốc của bạn dưới hình dạng thông thường của ngài, hoặc
như Vajradhara, Marpa, Milarepa, Gampopa, Karmapa... Guru của bạn
có thể nói bạn chọn Vajradhara, trong trường hợp này ngài
ngồi trên một ngai sư tử nâng đỡ, hoa sen và dĩa mặt trời,
bao quanh bởi bốn bộ nhân vật như trong những quán tưởng
quy y và cúng dường mạn đà la. Tuy nhiên, một hình tướng
của Guru của bạn bao quanh bởi dòng Guru là đủ, bởi vì
Guru gốc của bạn hiện thân cho Tam Bảo.
Hãy
làm sự cúng dường bên ngoài, bên trong và bí mật và cầu
nguyện gồm bảy phần.
Những
cúng dường bên ngoài là những vật ưa thích đối với những
giác quan, hoặc vật chất do tâm thức tạo ra và sắp đặt.
Những cúng dường bên trong là những vật được tịnh hóa
tượng trưng cho sự chuyển hóa những mê lầm, các uẩn v.v...
của bạn. Những cúng dường bí mật là những hoàn cảnh
làm phát sinh tâm thức lạc phúc để cho sự chứng ngộ mạnh
mẽ nhất về tánh Không.
Bảy
phần cầu nguyện là : (1) lễ lạy, (2) cúng dường,
(3)
sám hối, (4) tùy hỷ công đức, (5) thỉnh chư Guru chỉ dạy,
(6) thỉnh cầu các vị ở lại đời này, (7) hồi hướng công
đức của bạn. Một phần thứ tám là quy y đôi khi được
thêm vào giữa phần thứ hai và thứ ba.
Khởi
tâm quy y mạnh mẽ, nâng cấp Động Lực Giác Ngộ và cầu
nguyện với những câu kệ như : “Tất cả chúng sanh-là-mẹ
nhiều như không gian hướng nguyện đến Guru như Phật Bảo.
... như Pháp thân toàn khắp, ... như Báo thân của Đại Lạc,
... như Hóa thân bi mẫn...” Và v.v...
Cầu
nguyện Guru như chư Phật tôn quý nghĩa là ngài hiện thân
của Tam Bảo quy y. Thân của ngài đại diện cho Tăng, ngữ
của ngài cho Pháp và tâm của ngài cho chư Phật. Như thế
câu kệ này hướng đến Guru như thân, ngữ, tâm của chư
Phật, ngài là Tam Bảo, cũng như ngài là ba thân Phật. Câu
này được lập lại 100.000 lần, hay thường hơn, sáu dòng
kệ sau đây của Karmapa thứ Nhất được tụng nhiều lần
cộng thêm với một triệu lần thần chú của ngài :
“Con
cầu nguyện đến Guru tôn kính. Xin ban phước cho con làm tâm
con trong sáng không bám nắm chấp thực các tướng. Xin ban
phước cho con để khai triển trên dòng tâm thức của con huệ
quán để thấy tất cả những tư tưởng thế gian đều vô
ích. Xin ban phước cho con để những tư tưởng phi-Pháp dừng
tắt. Xin ban phước cho con để chứng ngộ tâm là vô sanh.
Xin ban phước cho con để vọng tưởng tiêu tan ngay nơi chỗ
của chúng. Xin ban phước cho con để chứng ngộ mọi hình
tướng xuất hiện là Pháp thân.”
Bấy
giờ Guru của con tan vào trong con và con cần nghĩ rằng thân,
ngữ, tâm của Guru hòa lẫn không thể tách lìa với tâm con.
Làm như vậy xong, hãy an định trong một trạng thái thoát
khỏi những tạo tác tâm thức.
Lúc
kết thúc thời trì tụng, bạn cần quán tưởng Guru của bạn
ban cho bạn bốn quán đảnh như sau. Thứ nhất ánh sáng trắng
phát từ trán ngài đến trán của bạn, xóa tan những chướng
ngại do những hành động xấu của thân bạn. Nó ban cho bạn
quán đảnh cái bình, cho phép bạn đi vào những thực hành
giai đoạn phát triển, và gieo hạt giống cho sự đạt được
Hóa thân của một vị Phật.
Ánh
sáng đỏ phát từ cổ họng ngài đến cổ họng bạn, xóa
tan những chướng ngại do lời nói bất thiện của bạn. Nó
ban cho quán đảnh bí mật, cho phép bạn thiền định về thực
hành giai đoạn thành tựu bao gồm hệ thống năng lực vi tế
của thân và gieo hạt giống cho Báo thân.
Ánh
sáng xanh từ trái tim ngài đến trái tim bạn xóa tan những
chướng ngại của ý bất thiện, ban cho quán đảnh trí huệ,
cho phép bạn đi vào những thực hành của hợp nhất, và gieo
hạt giống cho Pháp thân.
Cuối
cùng, cả ba ánh sáng trắng, đỏ, xanh phát từ tất cả ba
chỗ đồng thời đến trán, cổ họng, trái tim của bạn,
xóa tan cùng lúc những chướng ngại của thân, ngữ, tâm,
ban cho quán đảnh Lời, cho phép bạn thực hành Đại Ấn hay
giai đoạn thành tựu không có dấu hiệu và gieo hạt giống
cho Tự Tánh thân.
Sau
tất cả những cái ấy, hãy quán tưởng dòng những Guru gốc
của bạn và rồi ngài tan vào trong bạn. Hãy an trụ trong trạng
thái không năng sở của tánh Không, sau đó hồi hướng công
đức cho sự Giác Ngộ của tất cả.
Nếu
con nỗ lực tu hành pháp này để có được những quán chiếu
vào Đại Ấn, con sẽ nhận được những ban phước và cảm
ứng của chư Guru. Đây là sự thực hành sơ bộ thứ tư :
thiền định về Guru yoga.
CÁI
CHẾT VÀ VÔ THƯỜNG
Nếu
con không thiền định về vô thường con sẽ không xoay chuyển
tâm con khỏi sự quan tâm vào cuộc đời này. Nếu con không
xoay chuyển tâm con, con sẽ không thoát khỏi sanh tử luân hồi.
Về vấn đề này, Nagarjuna đã nói trong Suhrïllekha, “Có nhiều
thứ có thể làm hại đời sống của chúng ta, vì nó vô thường
như một cái bọt trên mặt nước có thể tan vỡ vì gió.
Thật là một phép lạ vĩ đại, sau khi thở ra chúng ta còn
thở vào được một hơi khác và sau khi ngủ chúng ta còn thức
dậy.”
Nói
chung, mọi hiện tượng do duyên đều vô thường và đặc
biệt đời sống của chúng sanh hữu tình thì vô thường như
bọt nước. Con không bao giờ biết khi nào con sẽ chết. Không
chắc chắn con sẽ không chết ngay bây giờ. Hơn nữa, vào
lúc chết không có gì cứu giúp con được ngoại trừ Pháp.
Nếu con làm việc cho những việc vô nghĩa của thế gian, con
sẽ không thể vượt khỏi những nguyên nhân tạo ra khổ đau.
Thế nên con hãy phát nguyện rằng bất cứ khi nào tâm con
lang thang dù chỉ một khoảnh khắc theo những tư tưởng về
thức ăn, y phục v.v... cho cuộc đời này, thì con sẽ nghĩ
về cái chết.
Mọi
hiện tượng hữu vi (do duyên), tùy thuộc vào những nhân duyên,
thì vô thường. Điều này bao gồm cả động vật và bất
động vật, chúng sanh và môi trường chung quanh. Một công
trình kiên cố hôm nay có thể sụp đổ thành bụi ngày mai.
Riêng sự sống của chúng ta thì cực kỳ mong manh và rất
dễ dàng mất đi. Không có ai dám bảo đảm mình sẽ còn sống
vào ngày mai và khi thời gian đã hết, không có bạn bè, y
sĩ, thuốc thang, tiền bạc hay danh tiếng nào có thể ngăn
chặn cái chết của bạn. Điều duy nhất có thể giúp đỡ
là sự thực hành Pháp. Nếu bạn tích tập nhiều thiện nghiệp
trong đời bạn, bạn có thể chết bình an và sẽ có một
tái sanh tốt lành.
Bởi
thế chớ ngu dại nghĩ rằng những lạc thú giác quan có thể
đem lại cho bạn hạnh phúc lâu dài. Nếu bạn bị hấp dẫn
bởi những cảnh vật đẹp đẽ, hãy nghĩ đến con thiêu thân
chết khi lao vào sự cám dỗ của ngọn lửa như thế nào.
Với âm thanh, hãy xem con chim bị tiếng chim giả kêu gọi của
người thợ săn như thế nào. Những con ong bị hấp dẫn bởi
hương thơm và mắc vào mạng lưới. Cá bị thu hút vào lưỡi
câu vì tham muốn mùi vị của một con sâu... Nghĩ đến những
thí dụ như vậy, hãy chuyển tâm thức bạn khỏi những lạc
thú cuộc đời, thấy rằng chúng chỉ là nguyên nhân cho khổ
đau thêm nữa. Thấu hiểu bạn có thể chết bất cứ khoảnh
khắc nào, hãy chớ phung phí thời gian cho những điều vô
ích. Hãy nhìn đồ ăn và y phục như một người tử tội
nhìn bữa ăn và bộ quần áo cuối cùng.
Con
nên tính lại bao nhiêu bạn bè, người thân đã ra đi khi giờ
của họ đã tới và nghĩ họ chết cách nào, thân thể họ
đã đưa ra nghĩa trang và không có gì còn lại. Con cũng không
thể vượt khỏi một số phận như thế, con sẽ run sợ như
người bị một đao phủ dẫn ra pháp trường. Chớ để tâm
con thoát vào sự lang thang của ý tưởng. Khi con hoàn toàn
mất mọi thích thú vào cuộc đời này, hãy thiền định vào
trạng thái đó, hoàn toàn chìm sâu trong đó. Đây là thực
hành sơ bộ thứ năm : thiền định về cái chết và vô thường.
Những
thiền định này không phải để bạn chán nản. Nếu kết
quả của chúng chỉ là bi quan, “Tôi sắp chết và tôi chẳng
thể làm được gì cả”, bấy giờ thiền định chỉ là
một nguyên nhân cho lo lắng và khổ sở. Toàn thể mục đích
của thiền định về cái chết là thúc dục bạn thực hành
Pháp, soi rọi luật nhân quả và bạn có thể làm gì để
tác động lên những tái sanh tương lai của mình. Thiền định
như thế sẽ kích thích bạn như một chiến sĩ khi bị đẩy
ra đấu trường. Như Milarepa nói, “Tôi đã vào núi non vì
tôi sợ chết. Nhưng bây giờ, thấy bản tánh Pháp thân của
tâm thức tôi, thì dù cái chết có đến cũng chẳng hề hấn
gì.”
NGHIỆP
VÀ LUẬT NHÂN QUẢ
Tiếp
theo cần phải không lầm lẫn cái gì nên nhận lấy và cái
gì nên từ bỏ thuận theo nghiệp và luật nhân quả. Những
kết quả của bất kỳ hành động nào (thân, ngữ, tâm) được
làm bởi bất kỳ chúng sanh nào đều chín tới trong chính
cá nhân chúng sanh đó. Hơn nữa, nếu con phạm vào mười hành
động không đức hạnh con sẽ tái sanh vào một trong những
cảnh giới bất hạnh. Do mắc vào những hành động bị sai
sử bởi ba độc, mức độ lập đi lập lại, đối tượng
của hành động đó là ai, và bản thân hành động đó trầm
trọng ra sao, con sẽ tái sanh vào địa ngục, ngạ quỷ, súc
sanh. Khi đã sanh vào đó, con phải trải nghiệm khổ đau không
cùng. Do mắc vào hành động đức hạnh lớn, trung bình, hay
nhỏ, con sẽ tái sanh hoặc vào cõi Vô Sắc, cõi Sắc hay như
một vị trời trong cõi Dục. Bởi thế trong mọi thời hãy
xem xét ba cửa thân, ngữ, tâm của con.
Những
sự kiện căn bản của luật nhân quả là hạnh phúc sinh thành
từ những hành động đức hạnh hay nghiệp “trắng” và
khổ đau từ những hành động không đức hạnh hay nghiệp
“đen”. Hơn nữa, bất cứ cái gì bạn làm đều chín thành
trên chính bạn ; nếu bạn giết người, hậu quả sẽ không
chín thành nơi cha mẹ hay con cái bạn, mà chỉ ở nơi bạn.
Bởi thế bạn phải từ bỏ những hành động ác độc và
nhận lấy những hành động tốt nếu bạn muốn làm lợi
lạc cho chính bạn và những người khác.
Mười
hành động không đức hạnh được phân thành ba cái của
thân (giết, trộm cướp, tà dâm), bốn của ngữ (nói dối,
nói chia rẽ, nói xúc phạm, gay gắt, và nói tầm phào), ba
của tâm (tư tưởng tham muốn vật sở hữu của người khác,
chứa chấp ác ý, và chấp vào những tà kiến như không tin
nhân quả).
Mười
hành động đức hạnh chỉ là không làm mười điều không
đức hạnh ở trên. Tuy nhiên mười hành động đức hạnh
đặc biệt là cứu mạng chúng sanh, thực hành bố thí, giữ
chặt chẽ giới luật và khuyến khích những người khác làm
như vậy, nói sự thật không gây ra lầm lẫn, giảng hòa những
tranh cãi và hòa giải những người thù ghét nhau, nói lời
ngọt ngào êm dịu, nói lời ý nghĩa như chỉ dạy hay cầu
nguyện, ít tham muốn và biết đủ, có thiện ý đối với
những người khác và có chánh kiến với niềm tin thuần thành
vào những giáo pháp.
Nếu
bạn cứu mạng chúng sanh và không giết hại, cuộc đời của
riêng bạn sẽ thọ, còn nếu giết hại cuộc đời bạn sẽ
ngắn và đầy bệnh tật. Nếu bạn rộng lượng và không
trộm cướp, bạn sẽ giàu có. Nhưng nếu bạn trộm cướp
bạn sẽ nghèo và luôn luôn bị ăn trộm. Do giữ giới và
từ bỏ tà dâm bạn sẽ có một hình tướng ưa nhìn và những
tương quan vợ chồng và bạn bè tốt đẹp. Nhưng nếu bạn
gây tai hại bởi sự tà dâm, bạn sẽ xấu xí, có những cuộc
hôn nhân nghèo nàn và vợ chồng không chung thủy. Nói sự
thật, không dối trá, những người khác sẽ tin lời bạn
nói. Nhưng không ai chú ý hay tin lời bạn nếu bạn luôn luôn
dối trá. Nếu bạn không nói lời chia rẽ và cố gắng đoàn
kết người ta, những tương quan với những bạn bè sẽ luôn
luôn bền chặt. Tuy nhiên, nếu bạn gây ra chia rẽ, bạn sẽ
có thêm những kẻ thù, là mục tiêu cho sự ghen ghét và có
ít quan hệ với những người khác. Nói dễ chịu và không
thô bạo, những người khác sẽ nói hòa nhã với bạn. Nhưng
bạn sẽ chỉ nhận sự xúc phạm và nghe những lời khó chịu
nếu bạn cứ xúc phạm những người khác. Nếu bạn nói có
ý nghĩa, không tầm phào, bạn sẽ nghe những điều có ý nghĩa
; trong khi nếu tiếp tục nói tầm phào, bạn sẽ chỉ nghe
những lời vô nghĩa.
Nếu
bạn bằng lòng và không tham lam, bạn sẽ không khao khát điều
gì. Nhưng nếu bạn luôn luôn thèm khát những sở hữu của
người khác, bạn sẽ thành một người ăn xin luôn luôn muốn
có. Có thiện ý và không ma mãnh với người khác, người
ta sẽ đối xử tử tế và quan tâm đến bạn, trong khi ác
ý chỉ đem đến cho bạn sự nghi ngờ và làm hại từ người
khác. Cuối cùng, nếu bạn có quan điểm đúng đắn, không
méo mó, trí thông minh và trí huệ của bạn sẽ tăng trưởng
và tâm thức bạn bao giờ cũng sắc bén. Tuy nhiên, bám chấp
vào những tà kiến cong vạy bạn sẽ ngu si, hạn hẹp và đầy
nghi ngờ.
Hậu
quả của nghiệp có thể phân theo nhiều cách, như trong bản
văn. Cách khác là theo những vọng tưởng điều động những
hành động của bạn. Nếu bạn hành động dưới ảnh hưởng
mạnh mẽ của kiêu mạn, bạn sẽ tái sanh làm một chúng sanh
cõi trời ; từ ghen ghét làm một a tu la ; từ tham muốn làm
một con người ; từ ngu si làm một súc sanh ; từ keo kiệt
làm một ngạ quỷ ; từ sân hận làm chúng sanh địa ngục.
Bởi thế hãy cố gắng loại trừ những vọng tưởng và thực
hành những hành động đức hạnh để giải thoát khỏi sáu
cõi sanh tử và cuối cùng đạt Giác Ngộ.
Bất
cứ hành động đức hạnh nào con làm, hãy cố gắng tăng
trưởng và mở rộng nó. Bất cứ hành động không đức hạnh
nào con phạm, hãy cố gắng đoạn trừ nó. Nói cách khác,
không lầm lẫn cái gì cần từ bỏ cái gì cần nhận lấy,
đi vào và xa lìa cái gì, hãy cắt đứt dòng tương tục những
hành động xấu nơi ba cửa thân ngữ tâm. Đây là ý nghĩa
những giáo lý của Phật và mục tiêu của những thực hành,
và con cần hành động tùy theo Pháp. Bởi thế, khi con đã
học một cách chi tiết về cái nên làm và cái nên bỏ theo
nghiệp và luật nhân quả, con hãy tự tu theo đó. Đây là
thực hành sơ bộ thứ sáu : những giáo lý nghiệp và luật
nhân quả.
NHỮNG
TAI HẠI CỦA SANH TỬ
Sau
đó, nếu con không thiền định về những tai hại của sanh
tử luân hồi, con sẽ không xoay chuyển khỏi sự ám ảnh hấp
dẫn của nó, cũng không khai triển được những tư tưởng
buông bỏ. Do như vậy, những kinh nghiệm và những huệ quán
sẽ không hiện lên trong dòng tâm thức của con. Để có những
cái đó, con phải thiền định về sự đau khổ của sanh tử
để từ bỏ nó.
Nếu
chúng sanh sanh ra trong địa ngục, họ sẽ có những khổ đau
như tám địa ngục nóng, tám địa ngục lạnh, những địa
ngục lân cận và những địa ngục thỉnh thoảng. Ngạ quỷ
thì đói và khát. Súc sanh thì bị giết. Người thì có sanh,
già, bệnh, chết. Trời thì bị rớt khỏi trạng thái của
họ và thức chuyển đổi. A tu la thì có xung đột và chiến
tranh. Đó là những khổ đau của sáu trạng thái tái sanh.
Hơn
nữa, khổ đau rõ ràng mà con kinh nghiệm là khổ của cảnh
khổ. Cái xuất hiện như lạc thú là khổ của biến dịch.
Cái xuất hiện như trung tính là khổ thấm khắp. Bất kể
con ở trong trạng thái nào của sanh tử, con không bao giờ
thoát khỏi cái khổ thấm khắp này làm hại. Dù con có là
Chuyển Luân Thánh Vương, Phạm Thiên hay Đế Thích... con cũng
không vượt khỏi khổ. Bởi thế, với xác tín rằng sanh tử
là một ngục tù, một hố sâu hay khối lửa lớn, con cần
từ bây giờ một cách liên tục, hết cả sức mình, tìm một
phương pháp giải thoát khỏi nó.
Sanh
tử nghĩa là “đi lòng vòng”, liên tục tiến qua sanh, già,
bệnh, chết, rồi lại sanh già bệnh chết... Nó được thúc
đẩy và nối dài bởi vô minh và cơ chế của nó được diễn
tả bằng mười hai vòng móc duyên sanh. Có bốn cách sanh, sanh
từ thai, từ trứng, từ hơi nóng và từ ẩm ướt, và còn
có cách sanh bằng chuyển hóa (hóa sanh). Những cách sanh này
đưa bạn vào một trong sáu trạng thái tái sanh, chúng sanh
địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, người, a tu la và trời. Năm
loại đầu ở trong cõi Dục và các vị trời ở trong cả
ba cõi Dục, Sắc và Vô Sắc. Nhưng bất kể chỗ nào bạn
tái sanh, ở đó chỉ có khổ.
Mỗi
trạng thái tái sanh đều có những tai hại như bản văn diễn
tả. Có ba cái khổ : khổ khổ, hành khổ và hoại khổ. Cái
đầu là khổ rõ ràng như đau đớn của bệnh, già... Hành
khổ đến từ những sự vật có vẻ thích thú và có thể
chuyển thành khổ. Hoại khổ, cái khổ thấm khắp có vẻ
trung tính hay không rõ ràng với người thường, như cảm giác
một sợi lông trên lòng tay bạn, nhưng là khó chịu gay gắt
như khi nằm trong con mắt của những bậc Thánh với tri giác
trần trụi về tánh Không. Đó là cái khổ nội tại bị sanh
ra với năm nhiễm ô mà bản chất của chúng như nam châm hút
bệnh, già và cái chết.
Thiền
định về những tai hại này của sanh tử, bạn cần khai triển
sự từ bỏ hay lòng mong muốn giải thoát khỏi mọi loại
khổ. Đây là động lực của Tiểu thừa và với động lực
đó, một sự thấu hiểu tánh Không đưa bạn đến Giải Thoát.
Nhưng để chiến thắng không chỉ những chướng ngại ngăn
chặn sự Giải Thoát, bạn phải khai triển một động lực
Giác Ngộ của Bồ đề tâm. Thấy rằng tất cả chúng sanh
kinh nghiệm những khổ đau của sanh tử và mong muốn như mình
thoát khỏi ách nạn của nó và đạt được hạnh phúc tối
hậu, bạn cần nỗ lực đạt được Phật quả để tự giải
thoát mình và những người khác. Động lực này cho sự chứng
ngộ tánh Không sức mạnh hỗ trợ đưa bạn đến Giác Ngộ.
Dù
con có đạt được Giải Thoát của một hành giả Tiểu thừa,
đó là sự giải thoát khỏi sanh tử, thì con vẫn còn chưa
đạt được hạnh phúc tối hậu. Bởi thế con cần nỗ lực
hoàn thành Giác Ngộ không gì sánh bằng này bằng mọi phương
tiện. Cho mục tiêu này, với sự xác tín rằng tất cả chúng
sanh không trừ ai không gì khác hơn là những mẹ cha của con,
rất tốt lòng từ bao đời nay, con cần khai triển Bồ đề
tâm không đạo đức giả, nghĩ rằng, “Tôi nhất quyết làm
việc để đặt tất cả họ vào trong an lạc không gì sánh
của Giác Ngộ hoàn toàn và toàn thiện.” Đây là thực hành
thứ bảy : nỗ lực Giải Thoát và Giác Ngộ.
SỰ
QUÝ GIÁ ĐƯỢC
TÁI
SANH LÀM NGƯỜI
Căn
cứ cho sự thực hành như thế này là thân người quý giá.
Bởi vì thân người rất khó được, con chớ để mình buông
theo sự thản nhiên lười biếng, mà phải dấn thân toàn bộ
vào thực hành. Nếu khi thân người có đầy đủ khả năng
này bị thần chết và vô thường giựt mất, con phải ra đi
với hai bàn tay trắng, bấy giờ con sẽ ra sao ? Vì thân tướng
làm người khó được và dễ mất, con cần nỗ lực làm cho
sự có được thân người trở thành ích dụng trong mọi lúc
và mọi hoàn cảnh. Nỗ lực như thế là thực hành sơ bộ
thứ tám.
Một
thân làm người với đầy đủ tự do và cơ hội để học
và thực hành Pháp là cực kỳ quý hiếm. Nó là dụng cụ
nhờ đó bạn sẽ đạt Giác Ngộ hay nếu không cẩn thận
thì một tái sanh thấp kém. Nó có được là do những tích
tập công đức và huệ quán, nhất là giữ giới cũng như
cầu nguyện cho một tái sanh như vậy. Shantideva đã nói rằng
có được nó cũng hiếm hoi như một con rùa mù sống dưới
đáy biển một trăm năm mới nổi lên mặt nước một lần
để chui cổ vào một cái vòng vàng gió thổi dật dờ trên
mặt biển. Trong thí dụ này, con rùa là chúng sanh, bị mù
vì vô minh của họ, ở dưới đáy biển là những cõi thấp,
nổi lên mặt nước là tái sanh, cái vòng vàng là tái sanh
quý báu làm người và bị gió thổi dật dờ là những thăng
trầm của nghiệp.
Tính
theo con số thì một đời làm người là hiếm có. Có nói
rằng con số chúng sanh ở địa ngục thì nhiều như cát ở
sa mạc, ngạ quỷ như bụi trong không khí, súc sanh thì như
sao đêm và làm người thì như sao được thấy lúc ban ngày.
Nếu bạn xem có thể tính ra số người dân trong một nước,
nhưng không thể đếm được số thú vật, côn trùng, vi trùng
ở đó, bạn sẽ có được đánh giá về điều này. Hơn nữa,
trong dân số thế giới, người có lòng tốt còn hiếm hơn,
và trong đó, những người có tự do, cơ hội và khuynh hướng
theo Pháp lại càng ít.
Bởi
thế, đã có được sự làm người rất quý giá, chớ hoang
phí nó, vì đời người ngắn ngủi. Chớ như một chuyến
đi biển tìm kho tàng mà trở về tay không. Chớ ngó ngàng
đến lạc thú phù vân, hãy thực hành Pháp và đạt đến
hạnh phúc tối hậu vĩnh cửu.
ĐIỀU
KIỆN NGUYÊN NHÂN
CHO
THÀNH CÔNG
Trong
bốn điều kiện để thực hành thành công, điều kiện nguyên
nhân là nỗ lực tu hành dòng tâm thức của con với tư tưởng
về vô thường và phát triển sự buông bỏ. Hơn nữa, phải
xoay chuyển khỏi sự hấp dẫn ám ảnh bằng cách thấy đặc
tính bất toại nguyện của mọi sự trong sanh tử, hoặc của
con hoặc sự vật nói chung. Đây là thực hành sơ bộ thứ
chín.
Cũng
như những điều kiện nguyên nhân cho một cái biết về thị
giác là những nguyên tố đất, nước, lửa, gió và không
gian của đối tượng và của nhãn căn, cũng thế những sơ
bộ chung này là những khối đá xây nền của thực hành thiền
định.
ĐIỀU
KIỆN CHÍNH YẾU
Con
cần thành tâm với một đạo sư tâm linh toàn hảo như vị
Guru đại diện cho dòng. Vị Guru là lời của Phật, vị Guru
là thực tại tối hậu, vị Guru là một đặt tên cho một
sự xuất hiện... Bấy giờ con phải thực hành bất cứ đường
lối nào ngài dạy cho con theo cách khẩu truyền. Bởi vì được
chăm sóc bởi một vị thầy hoàn hảo là điều kiện chính
yếu, con cần thành tâm theo cách ấy. Đây là thực hành sơ
bộ thứ mười.
Điều
kiện chánh yếu cho một cái biết về thị giác là năng lực
biết của con mắt. Cũng thế nhờ năng lực của sự thành
tâm bạn sẽ có thể chứng ngộ mọi huệ quán.
ĐIỀU
KIỆN KHÁCH QUAN
Con
phải dứt bỏ hoàn toàn mọi cảm thức phân phái, thiên lệch
bởi vì tất cả mọi học phái, mọi dòng truyền đều được
kiến lập bởi sự đặt tên của tâm thức và đều là những
quy ước. Con phải chắc chắn rằng chúng đều không mâu thuẫn
nhau và từ mỗi cái con có thể đi đến bản tánh bổn nguyên,
tự nhiên, độc đáo của thực tại, cái trạng thái thường
trụ của mọi vật. Vì đây là điều kiện khách quan để
không mê lầm về cái cần tham thiền, con phải chắc chắn
như thế. Đây là thực hành sơ bộ thứ mười một.
Mọi
học phái khác nhau phổ biến ở Ấn Độ và Tây Tạng phát
xuất từ Phật Thích Ca Mâu Ni và là những diễn đạt những
phương tiện thiện xảo của ngài để dẫn dắt đệ tử
đủ loại bẩm chất khác nhau đến sự chứng ngộ thực tại
tối hậu. Chúng là những cách khác nhau để diễn bày cùng
một cái và chỉ là những ngôn ngữ, được kiến lập như
những trường phái do sự đặt tên của tâm thức con người
như vậy. Không có cái nào là xung đột. Cũng như một hình
tướng thấy được là điều kiện khách quan cho một cái
biết thị giác, cái hiểu không bộ phái của bạn về thực
tánh của tâm thức là điều kiện khách quan cho thực hành
thành công.
ĐIỀU
KIỆN TRỰC TIẾP
Không
những con phải nỗ lực thành khẩn từ đáy lòng với một
trạng thái tâm thức trong đó con thoát khỏi sự bám luyến
ám ảnh vào tham thiền, mà con còn phải không có bất kỳ
dấu vết nào của mong mỏi hay lo toan như nghĩ, “Nếu tôi
thiền định bây giờ hay trong tương lai hay đã làm trong quá
khứ, thì quả thật đáng giá, nhưng nếu không thì thật vô
giá trị.” Bởi vì thoát khỏi những mong cầu và lo toan là
điều kiện trực tiếp, con phải thực hành trong một trạng
thái của tâm thức không thi thiết giả tạo. Đây là thực
hành sơ bộ thứ mười hai.
Khoảnh
khắc trực tiếp trước của thức là điều kiện trực tiếp
cho một cái biết thị giác, cung cấp sự tương tục tỉnh
giác. Trạng thái trên của tâm thức có một chức năng tương
tự trong tham thiền Đại Ấn.
Những
sơ bộ kết thúc ở đây.