Trăn
trở trước nỗi trầm thống của kiếp người, Thái tử Tất
Ðạt Ða đã dũng cảm từ bỏ cuộc sống vàng son nhung lụa,
từ bỏ địa vị của một bậc nhân vương mà mình sắp kế
thừa, dấn thân vào nẻo đường gió bụi đi tìm chân lý.
Cuối cùng, Ngài đã tìm được phương thuốc kỳ diệu cứu
khổ cho nhân loại, trở thành đấng Vô thượng Y vương; và
phương thuốc mà Ngài đã tìm ra đó chính là 4 Thánh đế:
Khổ đế, Tập đế, Diệt đế và Ðạo đế. Vậy Khổ đế
là gì?
"Sinh
là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, phải kết
hợp với những gì mình không ưa là khổ, phải xa lìa những
gì mình thích là khổ, không đạt được những gì mình khao
khát là khổ; tóm lại, chấp chặt vào năm uẩn là khổ".
Nguyên
nhân của Khổ đế (Tập đế) là gì?
"Chính
khát ái dẫn đến tái sinh, thích thú nơi này nơi kia; đó
là khao khát những dục lạc (Dục ái: Kàmatanhà), khao khát
được hiện hữu (Hữu ái: Bhavatanhà) và khao khát sự diệt
tận (Vô hữu ái: Vibhavatanhà)".
Diệt
đế là gì?
"Ðó
là sự đoạn tận chính khát ái này không còn để sót, từ
bỏ nó, buông xả nó, giải thoát khỏi nó".
Con
đường chính dẫn đến Diệt khổ (Ðạo đế) là gì?
"Ðó
là Tám Chánh đạo, gồm có Chánh kiến, Chánh tư duy, Chánh
ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm
và Chánh định".
Dù
chư Phật có xuất hiện hay không, Bốn Diệu đế này vẫn
có trong vũ trụ. Chư Phật chỉ phát hiện những chân lý này
khi chúng tiềm ẩn trong vực thẳm của thời gian.
Giải
thích theo khoa học, pháp có thể được gọi là định luật
nhân quả. Hai yếu tố này bao gồm toàn bộ giáo lý đạo
Phật.
Ba
chi đầu tiêu biểu triết lý Phật giáo, chi thứ tư tiêu biểu
luân lý Phật giáo, căn cứ vào triết lý trên. Tất cả 4
chi này đều dựa vào chính cái thân này. Ðức Phật đã nhận
định: "Căn cứ vào chính cái thân dài một trượng này với
tri giác và tư duy, Ta tuyên bố thế giới, nguyên nhân của
thế giới, chung cục của thế giới, và con đường dẫn đến
chung cục thế giới". Ở đây, danh từ "thế giới" dùng để
chỉ đau khổ.
Ðạo
Phật đặt nền tảng trên trục đau khổ, nhưng không vì thế
mà cho Phật giáo là bi quan. Nó chẳng phải hoàn toàn bi quan,
hay hoàn toàn lạc quan; trái lại, Phật giáo dạy một chân
lý ở giữa hai cực đoan ấy. Chúng ta có thể có lý khi bảo
Ðức Phật là một người bi quan nếu Ngài chỉ tuyên bố
chân lý về đau khổ mà không đưa ra một phương pháp để
chấm dứt khổ đau. Ðức Phật đã nhận thấy tính phỗ biến
của đau khổ và chính Ngài đã đề ra một phương thuốc
để chữa trị căn bệnh phỗ biến này của nhân loại. Theo
Ðức Phật, hạnh phúc cao cả có thể nhận thức được là
Niết bàn, đó là đoạn tận đau khổ.
Trong
Từ điển Bách khoa của Anh, tác giả ở mục nói về chủ
nghĩa bi quan, viết: "Chủ nghĩa bi quan chỉ rõ một thái độ
thất vọng về cuộc đời, một quan niệm đại khái mơ hồ
về đau khổ và tội lỗi, chúng chi phối những hành vi của
con người. Giáo lý nguyên thủy của Ðức Phật thực sự
lạc quan như bất cứ một chủ nghĩa lạc quan nào khác của
phương Tây. Bảo nó là chủ nghĩa bi quan chỉ là áp đặt
cho nó một nguyên lý đặc biệt Tây phương, theo đó, không
thể có hạnh phúc nếu không có bản ngã. Người Phật tử
chân chính nhiệt thành mong đợi được thể nhập vào cảnh
an lạc vĩnh cửu".
Thông
thường, sự hưởng thụ dục lạc là khoái lạc duy nhất
của người thế tục. Hiển nhiên là có thứ hạnh phúc nhất
thời trong khi ta mong đợi thỏa mãn và hồi tưởng những
lạc thú vật chất thoáng qua như vậy, nhưng chúng thực là
hão huyền, tạm bợ làm sao! Theo Ðức Phật, không chấp thủ
mới là niềm an lạc cao quý hơn hết.
Ðức
Phật không mong các tín đồ của Ngài lúc nào cũng nghĩ đến
khổ đau và sống một cuộc đời bất hạnh khốn cùng. Ngài
khuyến khích họ phải luôn vui tươi và hoan hỷ, vì hỷ (piti)
là một trong những yếu tố giác ngộ.
Hạnh
phúc chân thật được tìm thấy trong nội tâm, và không được
định nghĩa bằng tài sản, con cái, vinh quang và những sự
xâm lấn chiếm đoạt. Nếu những sở hữu được thủ đắc
không chính đáng, do ức hiếp, chiếm đoạt bất công mà có,
thậm chí nhìn chúng quyến luyến không rời, thì chúng sẽ
là nguyên nhân đau khổ cho kẻ sở hữu.
Thay
vì cố dùng lý lẽ để giải thích đau khổ, Phật giáo thừa
nhận nó là điều hiển nhiên và tìm nguyên nhân để diệt
trừ nó. Chừng nào còn khát ái thì còn đau khổ. Chỉ có
thể diệt trừ đau khổ bằng cách bước theo con đường Bát
chánh và đạt đến an lạc tối thượng của Niết bàn.
Bốn
chân lý này có thể được xác chứng bằng thực nghiệm.
Vì thế, Phật pháp không căn cứ trên lòng sợ hãi về cái
không được biết, mà đặt nền tảng trên các sự kiện
mà chúng ta có thể thí nghiệm và minh xác bằng chính kinh
nghiệm của chúng ta. Do đó, Phật giáo rất hợp lý và thực
tiễn.
Một
hệ thống hợp lý và thực tiễn như thế không thể chứa
những nghi lễ bí truyền và mật truyền. Do đó, lòng tin mù
quáng rất xa lạ đối với đạo Phật.
Nơi
nào không có lòng tin mù quáng thì nơi đó không có sự cưỡng
bức, đàn áp và cuồng tín. Ðối với uy danh cao cả của
đạo Phật, ta phải nói rằng trải qua tiến trình suốt 2500
năm không đỗ một giọt máu nào vì nhân danh Ðức Phật,
không một thế lực quân chủ nào dùng lưỡi gươm đầy quyền
uy của mình để truyền bá chánh pháp, và không có sự hóa
đạo nào phải dùng đến bạo lực hay những giải pháp cưỡng
bách. Tuy vậy, Ðức Phật đã là nhà truyền đạo đầu tiên
và vĩ đại nhất từng sống trên thế gian này.
Alodux
Husley viết: "Trong tất cả các tôn giáo lớn của thế giới,
chỉ riêng đạo Phật đi con đường của mình mà không cần
đàn áp, kiểm duyệt, thẩm tra ai cả".
Huân
tước Rusell ghi nhận: "Trong những tôn giáo lớn của lịch
sử, tôi thích đạo Phật hơn cả, đặc biệt ở hình thức
nguyên thủy của nó, vì nó ít có tính cách khủng bố nhất
từ xưa đến nay".
Ðạo
Phật lôi cuốn người ta trên phương diện tri thức hơn là
phương diện tình cảm, chú trọng đến nhân cách của tín
đồ hơn là sức mạnh của số đông.
Trường
hợp Upali, một tín đồ của Nigantha Nataputta, đến gần Ðức
Phật, nghe Phật thuyết pháp, ông hoan hỷ đến độ tức thì
bày tỏ ý muốn trở thành một đệ tử của Phật. Nhưng
Ðức Phật đã khuyên ông nên cẩn thận: "Này gia chủ, đối
với chân lý, ông nên tìm hiểu thấu đáo, như vậy sẽ tốt
hơn đối với một người xuất sắc như ông".
Rất
vui sướng trước ý kiến bất ngờ của Ðức Phật, Upali
thưa: "Bạch Thế Tôn, nếu con trở thành một tín đồ của
một tôn giáo khác, thì các tín đồ của tôn giáo ấy sẽ
công kênh con, rước đi quanh ngoài đường phố và tuyên bố
rằng: "Một triệu phú như thế đấy, đã từ bỏ tín ngưỡng
trước của y và đi theo chúng ta". Nhưng với Thế Tôn, Ngài
lại khuyên con hãy tìm hiểu thấu đáo đã. Qua ý kiến này
của Thế Tôn, con càng vui sướng hơn. Bạch Thế Tôn, một
lần nữa, con xin quy y Phật, quy y Pháp và quy y Tăng".
Phật
giáo tràn ngập tinh thần tự do cầu thị và hoàn toàn bao
dung như vậy. Ðạo Phật là đạo có tâm hồn khai phóng và
trái tim cảm thông, soi sáng và làm ấm áp toàn thể vũ trụ
với hai tia sáng từ bi và trí tuệ; hào quang kỳ diệu của
nó chiếu xuống tất cả chúng sinh đang lặn hụp trong biển
sinh tử.
Ðức
Phật bao dung đến nỗi Ngài cũng không hề dùng uy quyền để
ra lệnh cho các tín đồ tại gia của Ngài. Thay vì dùng mệnh
lệnh, Ngài nói: "Bỗn phận các con nên làm điều này, bỗn
phận các con không nên làm điều kia". Ngài không ra lệnh nhưng
khuyến khích.
Ðức
Phật trải rộng lòng bao dung đến mọi người và mọi loài
hữu tình.
Chính
Ðức Phật lần đầu tiên đã cố hủy bỏ chế độ nô lệ
và kịch liệt phản đối hệ thống giai cấp hủ lậu đã
mọc rễ sâu xa trên mảnh đất Ấn Ðộ. Theo giáo lý Ðức
Phật, người ta trở thành kẻ hạ tiện hay cao quý không phải
do giòng dõi mà do hành vi của mình. Giai cấp hay màu da không
làm cản trở một người muốn trở thành một Phật tử hay
gia nhập Tăng đoàn. Người chài lưới, kẻ đỗ rác, gái
giang hồ, cả đến những võ tướng và những người Bà la
môn, đều tự do gia nhập Tăng đoàn, được hưởng sự đối
xử bình đẳng, và cũng được giao cho những địa vị tương
xứng. Ví dụ như Tôn giả Upali, thợ hớt tóc, giành được
ưu thế hơn tất cả những người khác, đứng đầu trên
phương diện giới luật. Sunita, người đỗ rác nhút nhát,
được chính Ðức Phật nhận cô vào hàng ngũ Tăng già và
đã đắc quả A la hán. Angulimala, tên tướng cướp và tội
phạm, đã được giáo dục thành một bậc Thánh từ bi. Alavaka
kiêu hãnh, tìm đến quy y Phật và đã trở thành một vị
Thánh. Cô gái giang hồ Ambapali gia nhập vào Tăng đoàn và đắc
quả A la hán. Những điển hình như thế thường thấy rất
nhiều trong Tam tạng, chứng tỏ cánh cửa của đạo Phật
mở rộng cho tất cả, bất kể giai cấp, màu da hay chủng
tộc.
Ðức
Phật cũng nâng cao địa vị của những người phụ nữ bị
chà đạp, không những khiến cho họ ý thức được vị trí
quan trọng của mình trong xã hội, mà còn thành lập Giáo hội
Ni giới sống độc thân đầu tiên cho phụ nữ với những
kỷ luật và những giới điều.
Ðức
Phật không hạ thấp nữ giới, mà chỉ xem họ như những
người có bẩm tính yếu đuối hơn nam giới. Ðức Phật thấy
rõ tính thiện bản nhiên của cả nam và nữ giới, và quy
định cho họ địa vị xứng đáng trong giáo pháp của Ngài.
Giới tính không làm chướng ngại cho sự chứng đắc Thánh
quả.
Danh
từ Pàli Matugàma đôi khi dùng để chỉ cho phụ nữ, nghĩa
là hạng người mẹ hay xã hội những người mẹ. Là một
người mẹ, người phụ nữ giữ được vị trí danh dự trong
đạo Phật. Thậm chí người vợ còn được xem như là "người
bạn tuyệt hảo" (paramà sakhà) của chồng.
Những
người phê phán vội vàng chỉ nhận định hời hợt bề ngoài
khi họ trách Phật giáo là đố kỵ phụ nữ. Mặc dù ban đầu
Ðức Phật đã từ chối thu nhận phụ nữ vào Tăng đoàn,
trên cơ sở hợp lý, nhưng về sau, Ngài đã nhượng bộ lời
cầu xin của di mẫu Ngài là Ba Xà Ba Ðề Kiều Ðàm Di (Pajapati
Gotami) và thành lập Giáo đoàn Tỳ kheo ni. Giống như hai vị
A la hán Xá Lợi Phất (Sariputta) và Mục Kiền Liên (Moggallana)
đã được đặt làm hai đệ tử thượng thủ trong Giáo đoàn
Tỳ kheo, Ðức Phật đã chỉ định các A la hán Khema và Uppalavannà
như là hai vị thượng thủ trong hàng nữ đệ tử. Nhiều
nữ đệ tử khác cũng được chính Ðức Phật gọi là những
đệ tử thuần thành và ưu tú của Ngài.
Một
dịp nọ, vua Kosala không hài lòng khi hay tin hoàng hậu sinh
một bé gái, Ðức Phật đã nói với nhà vua:
"Thưa
Ðại vương, một bé gái biết đâu sau này có thể chứng
tỏ là người con còn tốt hơn một nam nhi!".
Nhiều
phụ nữ đáng lẽ đã bị rơi vào quên lãng, lại tỏ ra xuất
chúng trong nhiều mặt và đạt được giải thoát nhờ hành
trì chánh pháp và gia nhập giáo đoàn. Trong giáo đoàn mới
này đã chứng tỏ là một môi trường phước báu đối với
nhiều phụ nữ; các hoàng hậu, những công chúa, các cô gái
của những nhà quý tộc, các sương phụ, quả phụ, những
phụ nữ bần cùng, các cô gái giang hồ đáng thương; tất
cả những người này, dù giai cấp và địa vị xã hội khác
nhau, đã gặp nhau trên cùng một chỗ thuyết giảng, cùng hưởng
niềm an ủi, thanh tịnh tối thượng, và cùng hít thở bầu
không khí tự do mà những kẻ sống giam hãm trong các túp lều
tranh hay nơi cung điện đều không thể nào có được.
Chính
Ðức Phật cũng đã cấm sát hại những con vật đáng thương
để tế lễ, và khuyên tín đồ của Ngài mở rộng lòng từ
với tất cả chúng sinh, thậm chí đối với những sinh vật
nhỏ bé nhất bò dưới chân mình. Không một ai có quyền hủy
hoại mạng sống của một sinh vật khác, vì đời sống thực
là quý báu đối với tất cả mọi loài.
Người
Phật tử chân chính phải thể hiện lòng từ bi với tất
cả chúng sinh và phải tự đồng nhất mình với tất cả,
không được phân biệt một chút nào về phương diện chủng
tộc, màu da hay giới tính.
Chính
lòng từ bi này của đạo Phật đã đạp đỗ mọi bức tường
ngăn cách giữa người này và người khác. Không có lý do
gì để tách rời mình ra khỏi những người khác chỉ vì
họ thuộc về một tín ngưỡng hay một dân tộc khác. Trong
"Sắc dụ khoan hồng" cao cả ấy, dựa trên các kinh Tiểu Phân
Biệt và Ðại Phân Biệt (Culla Vyùha and Mahà Vyùha), vua A Dục
(Asoka) nói: "Chỉ có hòa hợp là cao đẹp nhất, tất cả đều
phải có thiện chí lắng nghe giáo lý mà người khác tin theo".
Ðạo
Phật không giới hạn vào bất cứ một quốc gia hay một dân
tộc đặc biệt nào. Ðạo Phật là tôn giáo đại đồng.
Phật giáo không phải là một chủ nghĩa dân tộc, nói cách
khác, chủ nghĩa dân tộc này là một hình thức giai cấp dựa
trên một nền tảng rộng lớn hơn. Ðạo Phật là một chủ
nghĩa siêu dân tộc, nếu được phép nói như vậy.
Ðối
với một Phật tử, không có kẻ sơ hay người thân, kẻ thù
hay người ngoại quốc, kẻ phản giáo hay người cùng đinh,
vì tình thương đại đồng được thể hiện qua sự cảm
thông tạo nên tình huynh đệ giữa mọi loài chúng sinh. Một
Phật tử xem toàn thế giới như quê mẹ, và tất cả mọi
người như anh chị em mình.
Do
đó, đạo Phật thực là độc đáo nhờ ở đức tính khoan
dung, bất bạo động, hợp lý, thực tiễn, hiệu nghiệm và
tính đại đồng của nó. Ðó là ảnh hưởng cao cả nhất
trong mọi ảnh hưởng kết hợp lại, và là đòn bẩy duy nhất
có thể nâng thế giới lên cao.
Ðấy
là một số nét đặc sắc của đạo Phật, và trong số giáo
lý căn bản có thể kể đến một số vấn đề khác như:
nghiệp hay định luật đạo đức nhân quả, thuyết tái sinh,
vô ngã và Niết bàn.
(Dịch
từ "Buddhism in a Nutshell", Narada Thera)
Source:
Nguyệt san Giác Ngộ, Sài Gòn, 1998-2002