HỒN VIỆT
CỦA NGÔI CHÙA VIỆT NAM TRÊN ĐẤT PHẬT
Nguyễn
Văn Dũng
(VietNamNet)
- Thật ra có đến 2 ngôi chùa Việt Nam trên đất Phật, một
ở Bồ đề Đạo tràng và một ở Lâm Tì Ni. Nói hai nhưng
chỉ một, vì cả hai cùng có tên chùa “Việt Nam Phật Quốc
Tự”, cùng người sáng lập và trụ trì - Thượng tọa Thích
Huyền Diệu - và cũng khác với các ngôi chùa khác.
Ấn
Độ là quê hương của Phật giáo. Gần 50 năm hành đạo,
đức Phật từng vân du qua 45 địa điểm thuộc bang Bihar và
Utta Pradesh, trong đó 4 địa điểm thiêng liêng bậc nhất được
gọi là “Tứ thánh địa”, gồm: Bồ đề Đạo tràng, nơi
đức Phật giác ngộ. Lâm Tì Ni, nơi đức Phật đản sinh.
Vườn Lộc Uyển, nơi đức Phật giảng pháp lần đầu. Và
Câu Thi Na, nơi Ngài nhập niết bàn. Ngày nay, cả “Tứ thánh
địa” này đều được xếp vào hàng di sản văn hóa thế
giới. Đang có kế hoạch xây dựng Bồ đề Đạo tràng thành
Trung tâm Phật giáo Thế giới, Trung tâm hành hương của các
tín đồ đạo Phật, cũng như Vatican đối với Thiên chúa
giáo hay Mecca đối với đạo Hồi. Quanh các Thánh địa này
có rất nhiều chùa của các quốc gia Phật giáo, trong đó
có ngôi chùa Việt Nam.
Có
19 ngôi chùa của các nước bạn quanh Bồ đề Đạo tràng
như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Thái Lan, Miến Điện,
Tích Lan... đều do ngân sách nhà nước cung cấp xây dựng,
nhưng Việt Nam Phật Quốc Tự chỉ do một mình Thầy Huyền
Diệu cùng với sự trợ giúp của các đệ tử và tăng ni
Phật tử mà thành. Chùa của các nước bạn tập trung một
khu, vươn ra mặt tiền, ồn ào, chộn rộn, chùa Việt Nam cách
xa “xóm chùa” hơn 1km, ẩn mình trong một không gian yên tĩnh
chứa chan thiền vị. Chùa của các chùa bạn to và rộng, chùa
Việt Nam nhỏ nhắn nhưng cao hơn. Vườn chùa của chùa bạn
không quá 1.000m2, vườn chùa Việt Nam đến 33.000m2. Không thể
nhầm lẫn chùa Việt Nam với bất cứ chùa nào khác bởi mái
ngói cong vút hình chiếc thuyền bát nhã, trông như những cánh
sen vươn lên từ tục lụy bùn đen, hướng về cái thiện,
hướng về chánh pháp.
Chùa
Việt Nam Phật Quốc Tự tại Bồ đề Đạo tràng.
Chùa
nước bạn mang bản sắc của Phật giáo nước họ, chùa Việt
Nam còn mang cả phong cách, tính cách, khát vọng của đất
nước Việt Nam. Thầy Huyền Diệu nói, “Dân tộc mình có
lịch sử 4.000 năm, có quá trình phát triển Phật giáo lâu
đời còn hơn cả Trung Quốc và Nhật Bản. Vậy tại sao không
là mình? Tại sao phải giống người ta. Dân mình bao lâu khổ
vì theo ngoại bang. Đã đến lúc mình phải vươn vai đứng
dậy cho bằng người ta chứ”. Một chi tiết biểu hiện khía
cạnh này là sau hậu điện, đối diện với bàn thờ Tổ
còn có bàn thờ anh linh Tổ quốc, hồn thiêng sông núi. Những
ai có công với đất nước với nhân dân đều được thầy
vọng thờ ở đây. Nhiều vị cán bộ sang công tác Ấn Độ,
đến thăm chùa, đứng bên bàn thờ Tổ quốc đã không cầm
được nước mắt. Tôi hiểu được chiều sâu kín của những
giọt nước mắt đó... Tôi băn khoăn không hiểu sao chùa không
lấy tên mang tính chùa như Linh Sơn tự, Huyền Không tự...
hay Huyền Diệu tự chẳng hạn, mà lại là Việt Nam Phật
Quốc Tự. Hóa ra là thế, Phật giáo Việt Nam mang bản sắc
của nền văn hóa Việt Nam, tồn tại trong lòng dân tộc Việt
Nam, có trách nhiệm tô bồi cho nền văn hóa Việt Nam; đạo
pháp và dân tộc, dân tộc và đạo pháp, không làm gì có
thứ đạo pháp chung chung bên ngoài tình tự dân tộc. Hiểu
được điều đó không khó nhưng minh định rõ ràng điều
đó mới là chẳng dễ chút nào.
Khắp
nơi trong chùa, từ cổng trước, cổng sau, chánh điện, nhà
tăng, đi đâu cũng gặp hình tượng Việt Nam với tấm bản
đồ nho nhỏ, thanh thanh, màu nâu đậm khắc nổi lên tường.
Giữa một nơi xa lạ, chợt thấp thoáng sau ngàn cây mái chùa
cong cong, thanh thoát, cùng với tấm bản đồ Việt Nam. Từ
sâu trong trái tim bỗng dậy lên tình yêu tha thiết về quê
hương đất nước mình. Đó là chủ tâm của thầy. Cũng vì
chuyện này mà thầy từng gặp khó khăn không ít. Mấy Phật
tử nước ngoài điện về hỏi thầy: “Nghe nói xây
chùa xong thầy treo cờ đỏ sao vàng và ảnh ông Hồ Chí Minh
khắp nơi phải không?”. Thầy hỏi, “Ai nói vậy?”. “Có
người nói”. “Thế thì họ nói đúng”. Điện thoại cúp,
và cúp luôn nguồn hỗ trợ cần thiết. Tôi hỏi thầy, “Sao
thầy không giải thích ngọn nguồn cho người ta hiểu?”.
Thầy nói, “Hãy coi sự hàm oan như một lời chúc tụng”.
Hẳn phải có đạo lực ghê gớm mới giữ được cái tâm
bình thản đến vậy.
Chùa
Việt Nam Phật Quốc Tự tại Lâm Tì Ni.
Có
đến đâu làm đến đó cùng với những khó khăn thuộc loại
ấy đã tạo nên một nét khác biệt giữa chùa Việt Nam với
các chùa khác: tiến độ thi công chậm. Việt Nam Phật Quốc
Tự tại Bồ đề Đạo tràng chẳng hạn, khởi công từ tháng
5 năm 1987, mãi đầu năm 2003 mới khánh thành. Còn ở Lâm Tì
Ni, là ngôi chùa xây dựng đầu tiên từ năm 1993, cho đến
nay vẫn chưa hoàn thành. Trong lúc 17 ngôi chùa các nước bạn
mới khởi công sau này mà đã đâu vào đấy. Như chùa Trung
Quốc, nhà nước bỏ ra 4 triệu USD và chỉ hoàn thành trong
vòng một năm theo hình mẫu của Thiếu Lâm tự bên bổn quốc.
Hoặc chùa Đại Hàn, với kinh phí lên tới 20 triệu USD cũng
sắp sửa hoàn thành. Nhìn những công trình lỡ dở phơi mình
ngoài mưa nắng chờ đợi những tấm lòng, tôi hết sức ái
ngại. Nhưng lòng riêng vẫn thích thà vậy còn hơn chạy vạy,
xin xỏ, đổi chác - nghe đâu trên đường vận động quốc
tế đến xây dựng chùa trong vùng Thánh địa Lâm Tì Ni, một
nước bạn đề nghị giúp thầy 3 triệu USD để xây chùa.
Thầy từ chối. Nhất thời những người cùng đi có ý trách
thầy, nhưng rồi khi hiểu ra họ đã hoan hỉ cám ơn thầy.
Hoặc, một Phật tử ở Mỹ hứa tặng thầy 2 triệu USD chỉ
với một điều kiện... Thời gian luôn là thước đo chính
xác lòng chí thành và sự kiên định. Cứ thế, cho đến khi
hoàn thành, mỗi người có thể tự hào vì công trình nghệ
thuật và tôn giáo đó là kết quả cả một quá trình chắt
chiu từ những tấm lòng từ ái.
Ở
Bồ đề Đạo tràng, do Việt Nam Phật Quốc tự xây theo “thế
đất” nên chùa mang dáng vẻ độc đáo rất riêng. Ẩn mình
trong ngàn cây, các công trình trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát.
Qua khỏi cổng tam quan khoảng 100m, phía bên phải uy nghi một
tòa chánh điện 3 tầng, cao 24m. Tầng một là pháp xá, đủ
cho 30 khách tăng. Tầng hai trưng bày kinh sách, pháp khí. Tầng
ba thờ Tam thế Phật cùng chư vị Bồ tát. Phía hậu điện
có bàn thờ Tổ và các vị Thánh Tăng Việt Nam. Đối diện
bàn thờ Tổ là bàn thờ anh linh Tổ quốc Việt Nam. Bên trái
chánh điện là tháp Vạn Phật, bán kính 12m, 7 tầng, thờ
Xá Lợi Phật và 10.000 vị Phật. Tầng hầm thờ chư hương
linh quá vãng. Bên phải chánh điện là đài Quan âm, cấu trúc
giống như chùa Một Cột, nhằm giới thiệu nét văn hóa độc
đáo của Phật giáo Việt Nam cho các nước bạn. Sau khi hoàn
tất hai công trình này chùa sẽ tiếp tục xây dựng gác chuông,
gác trống. Hiện chùa đã có đại hồng chung nặng 2 tấn
rưỡi, đường kính 1,5m, cao 3m. Và Trống sấm đường kính
2m, dài 1,5m. Cả hai đều được làm từ Việt Nam và mang đậm
nét đặc thù văn hóa Việt Nam.
Ở
cổng tam quan, hai cánh cửa lớn chỉ mở trong những dịp đặc
biệt, ngày thường mọi người vào ra thông qua cánh cửa rộng
không quá 50cm, cao không quá 1,2m. Đây là điều tôi chưa hề
thấy ở các chùa bên quê nhà, tôi thắc mắc, thầy nói: “Nó
thay cho một lời nhắc nhở, hãy bỏ “cái ngã” của mình”.
Thật là minh triết. Ai cũng biết chính cái ngã dìm ta vào
chỗ tham sân si, trần ai, khổ lụy, nhưng làm sao khắc chế
nó đây. Với sắc đẹp, tiền tài, địa vị, danh vọng mà
khó thế thì với cái ngã sẽ còn khó biết chừng nào. Từ
cổng tam quan trở vào, con đường lát đá thiên nhiên quanh
co, uốn lượn dưới các tán cây. Cách chánh điện khoảng
300m, sâu bên trong là 2 dãy Pháp xá. Dãy dọc, dài 47m, 3 tầng,
21 phòng, mỗi phòng có thể ở được từ 3 đến 6 người.
Dãy ngang, dài 49m, 13 phòng, trong đó có 2 phòng ăn. Dãy này
sẽ được tiếp tục xây lên 2 tầng nữa.
Năm
1969, lần đầu tiên thầy Huyền Diệu đến chiêm bái thánh
địa Bồ đề Đạo tràng, nơi đã trở thành di sản văn hóa
và tâm linh vô giá không chỉ của Phật tử mà còn của nhân
loại. Thấy nhiều nước Phật giáo trên thế giới xây chùa,
dựng tháp quanh Thánh địa để gìn giữ và phát huy di sản
văn hóa và tâm linh vô giá ấy, thầy phát nguyện cũng sẽ
góp phần với các nước bạn xây dựng một ngôi chùa Việt
Nam trên đất Phật. Qua đó, còn để giới thiệu với nhân
loại nền văn hóa Việt Nam, truyền thống văn hóa Phật giáo
độc đáo của Việt nam. Và chùa cũng là nơi để quý chư
Tôn, Tăng, Ni, Phật tử khắp nơi về chiêm bái Thánh tích
có chỗ nghỉ ngơi trang nghiêm, thanh tịnh, tăng trưởng Bồ
đề tâm. Do vậy mà ngoài việc đầu tư cho các công trình
chính, thầy còn coi trọng trang bị đầy đủ tiện nghi cho
pháp xá. Tôi có duyên may được ở lại chùa hai ngày hai đêm.
Đó là một trong những kỷ niệm ấm áp không thể nào quên.
Bữa cơm chùa chỉ là rau trái trong vườn qua bàn tay chế biến
của mấy chị trong đoàn mà sao sang trọng và ngọt ngào đến
thế. Tôi sửng sốt về nhận định chân chất của thầy:
“Thực phẩm tinh khiết do tự tay mình làm ra, người nấu
nấu với một cái tâm an lạc, người ăn ăn với một cái
tâm an lạc, thì đó là một bữa ăn tuyệt vời”. Hèn chi,
có người suốt đời chỉ ăn toàn cao lương mỹ vị mà chẳng
bao giờ biết được vị ngon ngọt là gì.
Ấn
tượng sâu đậm nhất về ngôi chùa Việt Nam trên đất Phật
là cảnh chùa. Nó làm tôi liên tưởng đến những ngôi chùa
trên thành phố Huế thơ mộng của tôi. Mà hình như chỉ Huế
thôi. Ngày nay, nhất là ở các thành phố lớn, vườn chùa
bị thu nhỏ trong một không gian bé nhỏ giữa bốn bề nhà
cửa, đường sá, chộn rộn đủ thứ tạp âm. Chùa ở Huế
hầu hết nằm bên ngoài thành phố, ẩn mình trong một vườn
cây bốn mùa xanh lá. Vườn chùa mênh mông bát ngát, thường
khi rộng đến hai, ba, bốn mẫu, có chùa lên đến 30 mẫu.
Mỗi lần “lên chùa” là mỗi lần như lạc vào một cảnh
giới khác, nhẹ nhàng, thanh tịnh, chứa chan thiền vị.
Dọc theo những con đường nho nhỏ, xinh xinh, quanh co uốn lượn
trong khuôn viên chùa có nhiều những loại cây ăn quả vùng
nhiệt đới quen thuộc như vải, măng cụt, mít, táo, cam, bưởi,
ổi xá lị (có đến 12 loại), xoài (30 loại), trong đó có
giống xoài loại ngon nhất thế giới - Thầy đã có kế hoạch
tổ chức Đại hội xoài quốc tế vào năm 2005, và thầy nói
tỉnh khô, “sẽ đem những giống xoài ngon nhất thế giới
về trồng trên đất nước mình”. Vườn chùa là một bộ
sưu tập công phu những loài cây liên quan đến cuộc đời
đức Phật. Trong số những cây ấy, có nhiều cây là vị
thuốc quý, như cây Moringo Lim (cây cứu đời) có tác dụng
lọc nước. Cây Tulsi trị run tay, ung thư máu. Cây Hathi, trị
cảm cúm, cấp cứu bất tỉnh. Cây Sheshan trị ung thư răng...
Thầy lại thao thức, “Làm sao đem mấy cây thuốc này về
Việt Nam mình...”.
Thăm
“Tòa lâu đài” của thầy - đó là túp lều tranh trong một
góc vườn chùa cách không xa dãy Pháp xá ba tầng, 108 phòng,
đầy đủ tiện nghi dành cho khách thập phương, tôi chỉ thấy
bức ảnh phóng lớn mấy đôi hồng hạc quấn quýt bên chân
thầy ngồi đọc sách. Hôm làm thủ tục vào Nepal, tôi lại
thấy ở phòng hải quan người ta trân trọng treo mấy tấm
ảnh ngôi chùa Việt Nam Phật Quốc tự và ảnh thầy Huyền
Diệu thân mật tiếp mấy cô chú hồng hạc mỹ miều trong
túp lều tranh của mình. Các nhà khoa học sửng sốt bởi bấy
lâu họ ghi nhận loài hồng hạc đã hoàn toàn tuyệt chủng,
thế mà lại kéo nhau về chỗ thầy đến 15 đôi. Nhiều chuyên
gia môi trường và nhiều đoàn du lịch trên thế giới đổ
về Lâm Tì Ni vừa để chiêm bái thánh tích, vừa để xem
chim hồng hạc. Nhưng không phải ai cũng may mắn. Thầy nói,
“Có phước mới gặp thánh nhân, có duyên mới gặp hồng
hạc”. Tôi cứ băn khoăn không biết mình có duyên không!
Có bao điều bí ẩn về thầy mà tôi không dám mong hiểu hết.
Tôi hỏi Dũng - môt thanh niên Hà Nội sang giúp thầy làm chùa:
“Trong cuộc sống, thầy đang ao ước điều gì nhất?”.
Sau một phút trầm ngâm, Dũng nói, “Thầy, mong đất nước
Việt Nam hùng cường, mong xây cho xong ngôi chùa, mong sớm tìm
được vị trụ trì có tài đức, và sau đó lên núi tuyết
ẩn tu”.
Khi
phát nguyện xây chùa, thầy Huyền Diệu chỉ có vỏn vẹn
60USD. Thế rồi từng ngày từng tháng, Thầy đã đón nhận
từ những tấm lòng từ ái sự trợ giúp tích cực để làm
nên công trình mà những ai có duyên đến thăm không thể không
tự hào. Tôi chia tay thầy nhưng không nói được điều
gì để bày tỏ lòng mình. Mấy dòng này xin được thay cho
lời hối tiếc, và tấm lòng cầu mong thầy sớm đạt được
ước nguyện: hoàn thành mỹ mãn ngôi chùa Việt Nam trên đất
Phật.
Nguyễn
Văn Dũng (Huế, 7/3/2004)
Xem
Thêm:
Lễ
Khánh Thành Ngôi Chùa Việt Nam Đầu Tiên Trên Đất Phật
Người
dựng chùa trên đất Phật
Hồn
Việt Của Ngôi Chùa Việt Nam Trên Đất Phật
Người
Quét Chùa Kiêm Chủ Tịch Liên Đoàn Phật Giáo Thế Giới
Nhà
Trung Gian Hoà Giải Người Việt ở Nepal
Những
đổi thay trên đất Phật