CHÙA
PHƯỚC HẬU
Địa
chỉ: (hành chính) Chùa Phước Hậu, ấp Đông Hậu,
xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. (bưu phẩm,
thư từ) Chùa Phước Hậu, thị trấn Trà Ôn, huyện
Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long. Điện thoại: (070. 720 052) (070.
720 574)
Giới
thiệu
Chùa
Phước Hậu là một Tổ đình có tầm vóc, trong tỉnh Vĩnh
Long nói riêng và miền Nam Việt Nam nói chung. Chùa đã – trực
tiếp hay gián tiếp – sản sinh ra nhiều vị Tăng ni tài đức,
có nhiều cống hiến cho tỉnh Vĩnh Long, cho vài tỉnh bạn
trong miền Nam đất Việt, và có thể là còn cho cả non nước
Việt Nam.
Chùa
án ngữ ở một vị trí địa lý đẹp. Trước mặt là dòng
sông Hậu mênh mông, là kênh giao thông quan trọng của quốc
gia, quanh năm thuyền tàu nườm nượp. Sau lưng là quốc lộ
54 (xưa là tỉnh lộ 37) nối liền ba tỉnh Vĩnh Long – Cần
Thơ – Trà Vinh, xe cộ dập dìu. Cách chùa vài trăm mét là
thị trấn Trà Ôn, nơi từng được người Pháp dùng làm thủ
phủ cho tỉnh Cần Thơ (quận Phong Phú, 1872 ) và người Mỹ
dùng làm thủ phủ cho tỉnh Tam Cần (1956), nơi thiện nam tín
nữ giàu lòng mộ Đạo. Quanh chùa có một xóm dân cư từ
xưa được gọi là Xóm Chùa, tuy làm nghề chài lưới (và
làm ruộng) nhưng lại thuần là Phật tử, xưa nay đã cung
cấp cho chùa một lượng không nhỏ Tăng ni.
Chùa
Phước Hậu có phong cảnh khá đẹp. Chùa như con rồng nằm
ưỡn ngực thong dong ngắm con nước sông Hậu miên man đi về.
Ngày hai buổi, khi nước lớn (từ biển vào), sông Hậu rộng
thênh thang, xa tít tắp; khi nước ròng, dòng chảy cuồn cuộn
từ hướng thành phố Cần Thơ nhắm ngay vào cổng chính của
chùa, song đến gần thì chợt hiền hoà lãng ra gần giữa
sông. Không gian ở đây luôn thoáng đãng, gió mát từ biển
theo sông tràn vào, mang theo hơi nước. Cứ mỗi chiều, nếu
vào chùa, nghe tiếng chuông nhẹ lan trong gió, nhìn nắng vàng
rụng rớt trên sông, ai không biết làm thơ tự nhiên cũng
trở thành thi sĩ. Và nhất là ban đêm, những đêm trăng nơi
đây thật là huyền diệu, sương thì giăng bàng bạc, trăng
thì như người đẹp mộng du, nó đã là hồn thơ cho biết
bao bậc tài hoa vùng này. Ta hãy tạm nghe bài thơ không đúng
luật của một nhà Doanh nghiệp:
Quê
tôi nếu có ai đi qua
Thấy
cánh đồng xanh tốt mượt mà
Những
rặng dừa xanh sai trĩu quả
Và
dòng sông Hậu cuộn phù sa
Với
chùa Phước Hậu thần tiên ấy
Văng
vẳng chuông đưa tiếng ngân nga
Quê
hương tôi đó. Ôi, đẹp quá!
Rất
nên thơ những buổi chiều tà.
(Trần
Minh Thuần)
Chùa
Phước Hậu chính thức dựng nên năm 1894, do ông Hương cả
làng Đông Hậu là Lê Ngọc Đán (thường gọi là Cả Gồng)
xây, tuy có xin phép quan chủ tỉnh nhưng chỉ là một ngôi
chùa nhà. Khoảng năm 1910 trở đi, con gái ông Cả là bà Lê
Thị Huỳnh mới cho phép có sự sinh hoạt tôn giáo nơi đây,
chùa trở thành chùa làng Đông Hậu. Vị sư đầu tiên được
bà Lê Thị Huỳnh và hương chức làng Đông Hậu cho phép ở
(tạm gọi là trụ trì) là Hoà thượng Hoằng Chỉnh, quê ở
Quảng Ngãi. Nhờ hai vị trụ trì đời thứ 02 và thứ 03 là
Hoà thượng Khánh Anh và Hoà thượng Thiện Hoa, Phước Hậu
trở thành một Tổ đình có uy tín và là nơi lưu xuất ra
nhiều vị tu hành có nhiệt tâm cống hiến cho Đạo pháp và
Dân tộc.
Lược
sử ngôi chùa
Khoảng
1698 (Chúa Minh là Nguyễn Phúc Chu cho tướng Nguyễn Hữu Kính
Cảnh vào Nam lập phủ Gia Định)-1868 (người Pháp bắt đầu
cai trị Nam Kỳ), trong lúc dân chúng miền Thuận Quảng ào
ạt di cư vào Nam theo lệnh của chúa Nguyễn và vì lý do kinh
tế, có một (hai) nhà sư già, võ nghệ siêu quần, từ miền
Thuận Quảng đã theo ghe buôn vào Nam, dừng chân cất chòi
tu tập ở đây. Vùng đất này, khi ấy còn là rừng hoang và
nhiều thú dữ. Trong một thời gian ngắn, thấy duyên chưa
đủ, nhà sư bỏ ra đi.
Khoảng
1868-1885(người Pháp bình định Việt Nam và tiến hành chính
sách Khai thác thuộc địa): Trong lúc người Pháp đã ủi con
lộ nối liền Bình Minh-Trà Ôn, cuộc sống văn hóa Tây-Ta
hỗn loạn, một nhà sư đã dừng chân lại đây, cất chòi
ở tu. Dân chúng gọi đùa, tặng hỗn danh cho ông là "ông Đạo
Sắn". Vùng đất này, khi ấy xung quanh còn nhiều đồng ruộng
bỏ hoang, có lẽ chưa thuộc về sở hữu của ai. Ông Đạo
Sắn đã được nhiều người dân quý mến, trong đó có cả
những cô gái trẻ. Một cô gái đã đem một bé trai bỏ trước
cửa am ông. Ông im lặng nuôi nó trong tiếng dèm chê và bênh
vực của nhiều người. Khi đứa trẻ khoảng 5-6 tuổi, ông
dắt nó bỏ đi trong sự thương tiếc của số đông quần
chúng.
Năm
1894, ông Hương cả làng Đông Hậu là Lê Ngọc Đán (hỗn
danh là cả Gồng) cất một mái chùa gia đình trong khuôn viên
đất của mình cho vợ cả tu hành. Nền chùa chính là nền
của cái am mà ông Đạo Sắn để lại. Mặt tiền chùa quay
xuống chợ Trà Ôn.
Khoảng
năm 1910, con gái thứ Tám của ông bà Hương cả là Lê Thị
Huỳnh (hưởng phần đất do ông bà cho riêng, trong đó có
khu vực chùa) đã sửa sang ngôi chùa và cho phép có sự sinh
hoạt tín ngưỡng, ngôi chùa gia đình trở thành chùa làng
Đông Hậu. Khoảng này, Hoà thượng Hoằng Chỉnh vào ở, bà
Tám cho mượn một số lớn ruộng đất để giúp Hoà thượng
tự túc sinh sống. Trong gần 30 năm ở chùa này, có một lần
Hoà thượng Hoằng Chỉnh đã tự động bán lúa để xây lại
chùa. Mặt tiền chùa được quay ra sông.
Năm
1940, Hoà thượng Hoằng Chỉnh mất. Bà chủ chùa là Lê Thị
Huỳnh nhờ người mời Hoà thượng Khánh Anh về ở. Hoà thượng
Khánh Anh chính thức về ở chùa Phước Hậu vào tháng 10 năm
1941 (Tân Tỵ) và biến Phước Hậu trở thành một Tổ đình
hưng thịnh. Mặc dù rất cố gắng, song Hoà thượng vẫn chưa
hoàn thành tâm nguyện là sửa lại ngôi chùa, đành di chúc
cho học trò là Hoà thượng Thiện Hoa, bấy giờ là Trị sự
Phó kiêm Trưởng ban Hoằng pháp Giáo hội Tăng già Nam Việt.
Năm
1961, Hoà thượng Khánh Anh mất, theo lời dặn dò của sư phụ,
Hoà thượng Thiện Hoa đã tiến hành đại trùng tu ngôi chùa
Phước Hậu, chính điện của chùa Phước Hậu hiện nay là
chính điện của đợt trùng tu này. Tuy kế thế lãnh trách
nhiệm trụ trì, song Hoà thượng Thiện Hoa giao việc điều
hành ở đây cho Hoà thượng Hoàn Phú. Trong thời gian này,
Bà Tám chủ chùa đã mất, người cháu được bà giao trách
nhiệm đã cúng luôn phần đất khuôn viên chùa cho Hoà thượng
Thiện Hoa, phần đất ruộng thì vẫn cho mượn để chùa tự
túc kinh tế.
Năm
1973, Hoà thượng Thiện Hoa mất, Hoà thượng Hoàn Phú chính
thức lãnh trách nhiệm trụ trì. Trong thời gian này, con bà
Tám Huỳnh là bà Hai Chợ đã lấy lại toàn bộ số ruộng
mà bà Tám cho chùa mượn, để bán cho Tổng thống Thiệu (gọi
là truất hữu), chuẩn bị xuất ngoại. Sau đó, tín đồ có
mua cúng lại cho chùa vài công ruộng.
Năm
1994, Hoà thượng Hoàn Phú già yếu, chùa hư sập nhiều chỗ,
bèn gọi Thượng toạ Phước Cẩn về giao trách nhiệm trụ
trì. Với sự trợ giúp toàn bộ kinh phí của Hoà thượng
Thanh Từ, là đệ tử của Hoà thượng Thiện Hoa, Thượng
toạ Phước Cẩn bắt tay vào việc đại trùng tu chùa Phước
Hậu. Ngoài ngôi chính điện là tác phẩm thời Hoà thượng
Thiện Hoa, tất cả những cơ sở còn lại trong chùa đều
được sửa mới trong đợt này.
Chư
Tôn đức thuộc tông phong Phước Hậu: 05 vị trụ trì
1.
Hoà thượng Hoằng Chỉnh (1862-1940) (trụ trì từ 1910-1940)
Họ
tên: Hà Thế Nhã.
Quê
quán: Thừa Sơn, Tú Sơn, quận Mộ Đức, tỉnh Quảng
Ngãi.
Xuất
gia: Không rõ. Là trung niên xuất gia. Pháp danh là Ấn
Chí, pháp tự là Tổ Chấp, pháp hiệu là Hoằng Chỉnh.
Tông
phái: Lâm Tế Chính tông, đời thứ 39 (dòng Chúc Thánh).
Sư phụ là Hoà thượng trụ trì chùa Thiên Ấn –Quảng Ngãi
pháp danh Chương Khước pháp tự Tông Tuyên pháp hiệu Giác
Tính (Tánh).
Chức
vụ: Yết ma A xà lê cho các Giới đàn ở Quảng Ngãi.
Hành
trạng: Không mở Đạo tràng, chỉ làm ruộng tự túc
và đi đám chia buồn cho thôn xóm.
2.
Hoà thượng Khánh Anh (1895-1961) (trụ trì từ 1941-1961)
Họ
tên: Vũ Võ Bổng (tự là Hóa).
Quê
quán: Xóm Lâm Môn, ấp Lương Nông, xã Thi Phổ Nhị,
tổng Lại Đức, huyện Mộ Đức, phủ Tư Nghĩa, tỉnh Quảng
Ngãi.
Xuất
gia: Ngày mồng 8 tháng 4 âl năm Đinh Tỵ (1917), tại
chùa Cảnh Tiên – Quảng Ngãi. Pháp danh là Chân
Chơn Quý, pháp tự là Đạo Trân. Thọ Đại giới vào ngày
14 tháng 3 âl năm Canh Thân (1920), Hoà thượng Đường đầu
là Hoà thượng Hoằng Tịnh. Pháp hiệu là Khánh Anh.Tông phái:
Lâm Tế Chính tông, đời thứ 40. Bổn sư là Hoà thượng pháp
danh Ấn Tịnh, pháp tự Kim Liên, pháp hiệu Hoằng Thanh, trụ
trì chùa Cảnh Tiên.
Chức
vụ:
Năm
1925-1945, Giáo thọ các trường Phật học từ Quảng Ngãi vào
Nam. Năm 1957-1961, Pháp chủ Giáo hội Tăng già Nam Việt. Năm
1959-1961,
Thượng thủ Giáo hội Tăng già Toàn quốc.
Hành
trạng: Siêng năng dạy dỗ đàn em. Dùng tri thức Phật
học và đạo đức mà đưa người vào Đạo.
Trước
tác: Hơn 10 tác phẩm, nổi bật có Khánh Anh Văn sao.
3.
Hoà thượng Thiện Hoa (1918-1973) (trụ trì từ 1961-1973)
Họ
tên: Trần Văn Nở. Sau đổi là Trần Thiện Hoa.
Quê
quán: Làng Tân Quy, tổng Tuân Giáo, quận Cầu Kè,
tỉnh Cần Thơ; nay là ấp Tân Quy 2, xã An Phú Tân, huyện Cầu
Kè, tỉnh Trà Vinh.
Xuất
gia: Không rõ. Đoán là khoảng 1924-1929. Pháp danh là Như
Quả, pháp tự là Giải Nhân Nhơn. Thọ Đại giới năm 29 tuổi
(1946), tại Giới đàn chùa Kim Huê, tỉnh Sa Đéc, Đồng Tháp.
Pháp hiệu là Hoàn Tuyên.
Tông
phái: Vốn thuộc Lâm Tế Chính tông, bổn sư là Hoà thượng
Khánh Anh. Song theo chủ trương của Hoà thượng Khánh Hòa là
hòa đồng các hệ phái, bãi bỏ sự phân phái, nên có thể
xem Hoà thượng không thuộc tông phái nào.
Chức
vụ:
Năm
1945-1952, Pháp sư kiêm Đốc giáo Phật học đường Phật Quang.
Năm
1953, Trưởng ban Hoằng pháp kiêm Trưởng ban Giáo dục Giáo
hội Tăng già Nam
Việt,
Trưởng ban Giáo dục Hội Phật học Nam Việt kiêm Đốc giáo
Phật học đường Nam Việt.
Năm
1956, Ủy viên Hoằng pháp Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Năm
1963, Phó chủ tịch Ủy ban Liên phái Bảo vệ Phật giáo.
Năm
1964, Đệ nhất Phó Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN, trụ
trì chùa Việt Nam Quốc Tự-Sài Gòn.
Năm
1966-1973, Viện Trưởng Viện Hóa Đạo GHPGVNTN.
Hành
trạng: Hết lòng chăm lo sự nghiệp Giáo dục Phật giáo.
Dẫn dắt con thuyền Phật giáo theo đường lối Đạo pháp
và Dân tộc.
Trước
tác: Hơn 20 tác phẩm. Nổi bật có Bài
học ngàn vàng, Tám quyển sách quý, Bản đồ tu Phật,
Phật
học Phổ thông. Xem Thư Mục của Hoà Thượng: http://www.thuvienhoasen.org/index-tacgia-thienhoa.htm
4.
Hoà thượng Hoàn Phú (1921-) (trụ trì từ 1973-1994)
Họ
tên: Quảng Văn Minh (tên ở nhà là Mừng), có khi gọi
là Quảng Thành Minh, sau đổi là Võ Văn Minh.
Quê
quán: Làng Thiện Mỹ, tổng Bình Lễ, quận Trà Ôn,
tỉnh Cần Thơ. Nay là xã Thiện Mỹ, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh
Long.
Xuất
gia: Ở chùa từ năm 1932, lúc 12 tuổi Ta. Chính thức
xuất gia năm 1939, lúc 19 tuổi Ta. Pháp danh là Như Mẫn, pháp
tự là Giải Phật. Thọ Đại giới năm 1939. Hoà thượng Đường
đầu là Hoà thượng pháp danh Kiểu Đạo, pháp tự Hoằng
Khai. Được pháp hiệu là Hoàn Phú. Tông phái:
Vốn thuộc Lâm Tế Chính tông, bổn sư là Hoà thượng Khánh
Anh Nhưng theo tư tưởng của Hoà thượng Thiện Hoa, nên có
thể nói là không thuộc tông phái nào.
Chức
vụ:
Năm
1957, lãnh trụ trì chùa Phật Học (Cần Thơ).
Năm
1965-1973, Chánh Đại diện GHPGVNTN Liên quận Tam Bình Trà Ôn.
Năm
1973, Chánh Đại diện GHPGVNTN Tỉnh Vĩnh Long.
Hành
trạng: Có nhiều công lao trong các hoạt động Đạo pháp
và Cách mạng.
5.
Thượng toạ Phước Cẩn (1951-) (trụ trì từ 1994-)
Họ
tên: Nguyễn Văn Đẹp.
Quê
quán: Ấp Đông Hậu, xã Bình Ninh, quận Trà Ôn, tỉnh
Vĩnh Long. Nay là ấp Đông Hậu, xã Ngãi Tứ, huyện Tam Bình,
tỉnh Vĩnh Long.
Xuất
gia: Ngày 15 tháng 01 (nghi là âl) năm 1964. Pháp danh
là Phước Cẩn, pháp tự là Thanh Lương. Thọ đại giới năm
1976, tại giới đàn Quảng Đức. Hoà thượng Đường đầu
là Hoà thượng Hành Trụ. Không có pháp hiệu.
Tông
phái: Do ảnh hưởng Hoà thượng Thiện Hoa. Không thuộc
tông phái nào.
Chức
vụ: Chưa có chức vụ gì trong Giáo hội.
Hành
trạng: Nghiên cứu văn hóa Hán Nôm, siêng năng tôn
tạo Tổ đình.
Trước
tác: Đã ra 05 tác phẩm: Kinh Bách Dụ, Phiên Thiết
(cách đọc âm Hán Việt trong tự điển Khanh Hy), Luận Hoa
Nghiêm Niệm Phật Tam muội, Ngữ pháp Hán văn, Tỳ ni nhật
dụng thiết yếu (nguyên tác: Phật Oánh).
•
Các
vị khác
1.Hoà
thượng Thanh Từ. Đệ tử Hoà thượng Thiện Hoa. Lâu
nay được biết đến như là vị làm sống lại Thiền tông
Việt Nam.
2.
Hoà
thượng Phước Hảo. Đệ tử Hoà thượng Khánh Anh. Cầu
pháp với Hoà thượng Thanh Từ. Hiện trụ trì Thiền viện
Chơn Không, Thành phố Vũng Tàu.
3.
Thượng
toạ Phước Tú. Đệ tử Hoà thượng Khánh Anh. Y chỉ Hoà
thượng Hoàn Phú, cầu pháp Hoà thượng Thanh Từ. Hiện là
Trưởng ban Hoằng pháp Tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long, trụ
trì chùa Giác Thiên, thị xã Vĩnh Long.
4.
Thượng toạ Phước Hiện. Đệ tử Hoà thượng Hoàn
Phú. Hiện trụ trì chùa Phổ Phước, tỉnh Bình Dương.
5.
Thượng
toạ Phước Đại. Đệ tử Hoà thượng Hoàn Phú. Hiện
trụ trì chùa Nhị Mỹ, Trà Ôn.
6.
Thượng
toạ Phước Lợi. Đệ tử Hoà thượng Hoàn Phú. Hiện
giao trách nhiệm trụ trì chùa Linh Quang, Trà Ôn cho đệ tử
để an nghỉ.
7.
Thượng
toạ Phước Tồn. Đệ tử Hoà thượng Hoàn Phú. Hiện
là Chánh thư ký của Tỉnh hội Phật giáo Vĩnh Long, trụ trì
chùa Phước Châu, thị xã Vĩnh Long và chùa Phước Thành, huyện
Tam Bình, Vĩnh Long.
8.
Thượng
toạ Phước Tâm. Đệ tử Hoà thượng Hoàn Phú. Hiện là
Chánh đại diện Phật giáo huyện Tam Bình.
9.
Thượng
toạ Phước An. Đệ tử Hoà thượng Nhật Long, chùa Nhị
Mỹ, Trà Ôn. Y chỉ Hoà thượng Hoàn Phú. Hiện là thành viên
Ban Giảng sư Phật giáo tỉnh Vĩnh Long.
10.
Đại
đức Phước Tiến. Đệ tử Thượng toạ Phước Đại.
Từng trụ trì chùa Kỳ Viên, Vĩnh Long. Hiện là vị Giảng
sư năng động và nhiều triển vọng.
Những
ngã đường về Phước Hậu
Về
đường bộ, có 03 lối dẫn về.
1.
Quốc lộ 54: Nối liền ba tỉnh Cần Thơ – Vĩnh Long –
Trà Vinh. Bắt đầu từ thị trấn Cái Vồn huyện Bình Minh,
qua thị trấn Trà Ôn huyện Trà Ôn đến thị xã tỉnh Trà
Vinh.
2.
Tỉnh
lộ 38: Bắt đầu từ quốc lộ 1A, ngay cây số thứ 16
thuộc địa phận (Ba Càng) huyện Tam Bình, chạy vào sát thị
trấn Tam Bình và quay về Trà Ôn.
3.
Tỉnh
lộ 33 : Bắt đầu từ ngã ba Long Hiệp, nơi tiếp giáp
với Quốc lộ 53 (đường từ thị xã Vĩnh Long – thị xã
Trà Vinh), rẽ vào thị trấn Tam Bình, bắt vào tỉnh lộ 38,
chạy thẳng về Trà Ôn.
Như
vậy, hiện nay, về đường bộ, có ba nẽo dẫn về Chùa Phước
Hậu. Quốc lộ 54 (xưa là tỉnh lộ 37) và tỉnh lộ 33 được
hình thành xưa nhất, từ khi người Pháp bắt đầu công cuộc
tổ chức bộ máy cai trị miền Nam năm 1868, họ đã ủi lộ
nối liền Bình Minh – Trà Ôn – Trà Vinh và Trà Ôn – quốc
lộ 53, trãi đá 4x6. Tỉnh lộ 33 được làm từ thời người
Mỹ chiếm miền nam Việt Nam .
Về
đường sông, có ba hướng chính đi về Chùa Phước Hậu.
1.
Hướng
Tây Bắc: Là dòng sông Hậu, từ thủ đô Phnôm Pênh (Campuchia)
qua các huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, Châu Phú, Châu Thành,
Chợ Mới, thị xã Châu Đốc, thành phố Long Xuyên (tỉnh An
Giang), qua hai huyện Lấp Vò, Lai Vung (tỉnh Đồng Tháp), huyện
Châu Thành, Ô Môn, Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ (tỉnh Hậu
Giang) và huyện Bình Minh của tỉnh Vĩnh Long.
2.
Hướng
Đông Nam: Cũng là dòng sông Hậu, có thể ngược dòng đi
vào từ hai cửa biển Định An (giữa hai tỉnh Trà Vinh và
Sóc Trăng) và Tranh Đề (tỉnh Sóc Trăng). Từ cửa Định An,
qua các huyện Duyên Hải, Trà Cú, Tiểu Cần, Cầu Kè (tỉnh
Trà Vinh). Từ cửa Tranh Đề, qua hai huyện Long Phú, Kế Sách
(tỉnh Sóc Trăng).
3.
Hướng
Đông Bắc – Tây Nam: Tạm gọi là sông Trà Ôn. Đầu nhánh
sông này là sông Mang Thít bắt nguồn từ sông Cổ Chiên (một
nhánh lớn thuộc sông Tiền) đổ xuống biển theo chiều Đông
Bắc – Tây Nam. Ngày xưa hai con sông Mang Thít, Trà Ôn đã
có rồi, vì hai khúc sông này chưa thông với nhau, ông (quan
Pháp, chủ tỉnh Cần Thơ xưa) Ni Cô Lai cho đào kênh nối liền
– người dân gọi là kênh Ni Cô Lai – và con sông theo chiều
Đông Bắc – Tây Nam này có khi được gọi là sông Mang Thít
– Ni Cô Lai – Trà Ôn. Từ các huyện nằm về phía Bắc (theo
vị trí địa lý) như Tam Bình, Long Hồ, thị xã Vĩnh Long,
còn có nhiều nhánh sông – rạch vô danh đan xen nhau chảy
theo hướng Bắc – Nam (có lẽ bắt nguồn từ sông Tiền,
hoặc từ cả sông Hậu – xuyên qua tỉnh Đồng Tháp, những
nhánh này được dân chúng gọi tên theo vùng đất nó đi qua,
như rạch Sóc Tro, Ba Phố, Ba Kè,…), chia làm nhiều ngỏ đổ
ra sông Mang Thít – Ni Cô Lai– Trà Ôn này. Do đà chảy mạnh,
các nhánh sông rạch này còn bào mòn sang lãnh thổ Trà Ôn,
tạo nên những nhánh sông theo hướng Tây Bắc – Đông Nam
ăn sâu vào lãnh thổ Trà Ôn.
Tóm
lại, mọi người từ nhiều địa phương có thể đến Chùa
Phước Hậu bằng sáu ngã đường.
Mặt
tiền chùa Phước Hậu nhìn từ cổng trước
Mặt
tiền chùa Phước Hậu nhìn từ cổng trước
Tháp
cố Hoà thượng Thiện Hoa (1918-1973)
trong khuôn viên chùa
Tháp
cố Hoà Thượng
Hoằng Chỉnh (1862-1940) trong khuôn viên
chùa
Tháp
thầy Ba Triền, pháp danh Chơn Thọ, đệ tử tổ
Hoằng chỉnh,
mấy
mươi năm mở phòng thuốc nam tại Phước Hậu.
Hoà
Thượng Thích Thiện Hoa
Hình ảnh và tư liệu:
Thầy Thích Thiện Tài