Đất
Miền Cổ Tích
(Luy
Lâu-Bắc Ninh)

Chúng
tôi qua cầu sông Cái, đi thẳng đến Phú Thượng rồi rẽ
sang phía tay phải chừng 200 mét là đến Dương Xá (nay thuộc
Hà Nôị). Nơi đây có đền thờ Nhiếp Chính ỷ Lan. Giữa
những mảnh ruộng xanh với đủ gấm mầu khác nhau. Ngôi đền
thờ một người phụ nữ phi thường, nổi bật lên, nghiêm
trang những rêu phong cái kiểu: "Miếu cổ vàng son nhạt". Đó
là nói về mầu sắc, chứ những gì mà bà để lại cho đất
nước vẫn cứ đằm thắm với non sông và lòng người. Bà
là hóa thân của Mẫu Thượng Ngàn của bà Man Nương, bà Trưng...
Đến Sủi, đi vào quê hương của nhà thơ Cao Bá Quát. Đi
tiếp chừng 7 km nữa, chúng tôi đến cầu Dâu. Một cái cầu
rất cổ. Nơi đây, chúng tôi ngắm mãi chỗ sông Đuống cắt
ngang sông Dâu để hình thành một bên là Thiên Đức, một
bên là Nguyệt Đức. Nơi đây... một cái cây, một dãy gò,
một mô đất, đống gạch vụn, ngôi đền v.v... đều có
những chuyện kể về mình. Trước mắt chúng tôi là cả một
khu vực thành Dâu (Bắc Ninh) với hình vuông mênh mông. Tên
chính thức của nó là Luy Lâu hoặc Liên Lâu. Vì khi xưa, thành
chính có những vọng gác mà ở tầng trên tỏa ra như những
cánh hoa sen, nên thường gọi là Liên Lâu. Hoa sen tượng trưng
cho sự phồn. Phồn thóc gạo, phồn giống nòi. Sông Dâu chảy
quanh tạo thành con hào thiên nhiên, bảo vệ thành. Xưa kia,
khi đê La Thành và Thăng Long chưa hình thành mà mới chỉ là
những vùng nước, lau lách, hoang vu thì nơi đây đã là một
thành trấn phồn hoa, nhộn nhịp. Đây chính là thủ phủ của
đất Giao Châu, là trung tâm chính trị, kinh tế và văn hóa.
Đại bản doanh của Thái thú Tô Định đặt ở đây. Hai Bà
Trưng đã đánh vào nơi này. Trong suốt thời kỳ dài, quân
Hán đóng quân ở Liên Lâu, đã có nhiều cuộc khởi nghĩa
liên tục đốt phá, đánh thành. Nghĩa là binh lửa liên miên.
Chính điều này đã giải thích được một hiện tượng đáng
chú ý. Đó là những vùng đất chung quanh đều đỏ như son.
Duy chỉ có khu vực Thành Liên Lâu, đất có màu đen, xám,
xỉn. Đất đỏ vì phía dưới có quặng sắt. Còn đất đen
là do binh lửa triền miên, đốt phá dữ dội, đã làm than
hóa tất cả những sỏi, đá, đất, gỗ, tre, v.v.. Hiện tượng
than hóa này đã làm cho đất Thành Liên Lâu không đỏ như
đáng lẽ nó phải đỏ. Thật là: "Dấu binh lửa, nước non
như cũ". Khiến cho người thấy cảnh chạnh lòng về vùng
Dâu.
Đứng
bên Thành, tôi bỗng nhớ đến một buổi đi xem hát cải lương
cùng với nhà văn Nguyên Hồng. Tối hôm đó, chị Lệ Thanh
đóng vai Trưng Trắc trong vở "Trưng Vương". Chị vận võ phục
có cách điệu. Trông vô cùng uy nghi và lộng lẫy. Mắt phượng,
mày ngài, chị diễn có thần và hát rất hay. Nhà văn Nguyên
Hồng khóc lên rưng rức và xuýt xoa: "Hay quá, đẹp quá!...".
Trong cuốn: "Viết về lịch sử đất An Nam", nhà nghiên cứu
Patris viết: "Tinh thần độc lập của người Lạc Việt rất
cao. Suốt trong thời kỳ bị đô hộ dài dặc, họ không hề
sao nhãng việc đứng dậy. Đó là một thứ ánh sáng chói
lọi của ý chí quật cường không nguôi". Trong khu vực Thành
Dâu, có chợ Dâu, tháp Dâu. Tháp này 4 tầng, có chóp kiểu
Stupa, cao chừng 20 mét, và chùa Dâu. Chùa Dâu phản ánh những
nét của đạo Phật từ ấn Độ sang và được bản địa
hóa. Nơi đây là trung tâm Phật giáo đầu tiên ở Việt Nam
rồi mới tỏa đi khắp nơi. Cũng là nơi in những bản kinh
sớm nhất. Tục truyền, một cây đa thần thoại trôi dưới
sông, được bàn tay thần thoại của á Nam Tiên nữ (Man Nương)
vớt lên. Khi cây đa được đặt lên mặt đất thì tiên nữ
đã biến mất, đã "hạc nội mây ngàn". Cây đa được xẻ
ra, tạc thành 4 pho tượng để thờ. Đó là 4 vị Phật Mẫu
gồm 4 chị em: Phật Vân, Phật Vũ, Phật Lôi, Phật Điện
(cũng gọi là tứ Pháp). Chị cả được thờ tại Chùa Dâu,
chị hai ở Chùa Đậu, chị Ba thì ở Chùa Tướng và cô em
út được thờ ở Chùa Dàn. Mấy ngôi chùa này ở gần nhau.
Có điều, chùa Dâu là chùa chính, nguy nga nhất. Tượng bà
Dâu đặt ở chính giữa chùa chính, cao 2m85 (cả tượng lẫn
bệ). Lại có nền cao và vỉa đá. Tễợng bà to hơn so với
tất cả những pho tễợng khác trong chùa. Bà vừa là Phật,
vừa là nữ chúa bản địa. Nơi đây, hàng năm có mở hội.
Gọi là chùa Dâu, khắp nơi nô nức về dự hội. Có tế lễ,
rước xách, vui chơi, rất tễng bừng, náo nhiệt. Người ta
kể vè:
Dù
ai buôn bán trăm nghề
Tháng
tư, mồng tám thì về chùa Dâu.
Dù
ai buôn đâu, bán đâu
Nhớ
ngày mồng tám, hội Dâu thì về...
Cách
khu vực thành Liên Lâu chừng 3 km là lăng mộ Lạc Long Quân,
là cả một tòa Việt điện. Đi chừng một đoạn đường
nữa, rẽ sang bên trái là lăng Sĩ Nhiếp hình tròn trên một
cái gò rợp bóng những cổ thụ. Những gò, đống nhấp nhô
kéo lên. Dưới những gò đống đó là cơ quan những ngôi
mộ Hán. Nơi đây thuộc về làng á Lữ. ở ngã ba Đông Côi
cũng có nhiều ngôi mộ Hán có xây những vòng cuốn. Đứng
nơi đây, ta có thể nhìn thấy núi Thiên Thai "nằm nghiêng
nghiêng với mái tóc xanh rêu". Chúng tôi đi chừng hơn 2km nữa
về phía Đông Bắc, đến làng Đại Trạch có ngôi chùa Đại
Trạch nổi tiếng, là nơi trước đây vợ thứ ba Cai Vàng
đến tu và trụ trì sau khi làm cuộc khởi nghĩa thất bại.
Bà thông thuộc 18 môn võ nghệ, đã dạy võ cho các trai làng
và làm nhiều điều thiện, trừ kẻ gian ác. Cuộc đời của
bà đủ để viết nên môt pho sách bi hùng. Dân làng nơi đây
coi bà như tiên, như Phật. Từ Đại Trạch đi xuống phía
nam là đến bến Hồ, gối đầu lên sông Cầu. ở đây có
làng tranh Đông Hồ mà những bức tranh đậm đà tâm hồn
dân tộc của nó đã có mặt ở nhiều gia đình trong nước
và chúng cũng được trưng bày trong Bảo tàng Mỹ thuật của
nhiều nước trên thế giới. Làng Đông Hồ được gọi là
làng tranh, làng đẹp như tranh và cũng được gọi là làng
các nghệ nhân. Họ vẽ tranh, khắc tranh, in tranh. Lại còn
làm nghề vàng, mã và những mặt hàng trang trí mỹ thuật
mang lại thao thức cho nghiều người. Ngược lên phía trên,
ta chạm phải đất Lim và 49 làng Quan họ. Nơi mà một làn
gió cũng mang điệu dân ca. Với những "liền anh, liền chị"
ăn mặc xông xênh, trèo lên quán Giốc, đi trẩy hội. Từ
Đại Trạch đi ngược lên là đến Trí Quả, rồi đến làng
Đình Tổ có chùa Bút Tháp, và đền Đô Vàng son lấp lánh,
nơi thờ 8 vị vua Lý. Lý Chiêu Hoàng được thờ riêng ở
ngôi đền bênh cạnh. Bà mang một nỗi buồn nguyên khối,
không tan. Chính cái dải đất này đã nuôi dưỡng nhà thơ
Hoàng Cầm để có được: "Bên kia sông Đuống" "Mưa Thuận
Thành", "Cây bài tam cúc" nổi tiếng.
Chúng
tôi nhớ lại một thời vào những năm chống Pháp, khu vực
gần Bút Tháp, Rừng Thông, Bãi Tháp v.v.. là khu những du kích
nổi tiếng với những chiến công oanh liệt. ở những làng
quê nơi đây còn thấp thoáng những tập tục đáng chú ý.
Có tục "Ngủ bạn". Nó là chuyện trong ngày cưới, cô dâu
và chú rể chưa động phòng vội. Ngày thứ nhất và ngày
thứ hai, cô dâu còn gọi mấy người bạn thân đến ngủ
cùng với mình. Nơi đây, họ coi nhẹ trường hợp có cô gái
chửa bụa. Sau khi cô gái chửa bụa rồi sinh con được một
hoặc hai năm, sẽ có một chàng trai nào đó đến xin cưới
làm vợ. Mẹ chú rể mang lễ vật đến nhà gái và nói xanh
rờn: "Ngày lành tháng tốt, chúng tôi rất sung sướng được
có con dâu và có luôn cả thằng cu nữa". Khi có trường hợp
một đứa trẻ nào đó ở vào hoàn cảnh thập tử nhất sinh
mà có được một người nào cứu sống thì đứa trẻ đó
nhận người cứu mạng làm cha nuôi. Những ngày giỗ, tết
phải đến thăm cha mẹ nuôi, phải đóng góp và có nhiệm
vụ nhễ con đẻ. Đó là hình ảnh và dễ vị của thời mẫu
hệ xa xôi. Những chuyện như vậy còn rất nhiều.
Chúng
tôi cũng theo dõi trong tâm tưởng khi đi trên con đường cổ
từ bến hồ, đi Bắc Ninh, tới Phả Lại, Lục Đầu giang
rồi ra biển hoặc đi ngược lên phía bắc, sang Trung Quốc...
Đó là con đường mà các nhà sư ấn Độ đi từ chùa Dâu
sang Trung Quốc truyền đạo. Là con đường mà con trâu vàng
từ Trâu Sơn, giếng Việc ở Phả Lại đã chạy một mạch
về Tống Bình (tên xưa của Thăng Long) rồi đẫm mình nơi
vũng nước ở phía Tây Bắc, làm nên hồ Trâu Đằm và sau
được gọi là hồ Dâm Đàm hoặc hồ Tây. Đó là con đường
để cha ông cha ta đánh giặc Nguyên, Mông...
Khách
hành hương tới mảnh đất này thấy mình được lớn lên.
Chỗ nào cũng có những di tích, tín hiệu, huyền thoại v.v...
minh chứng cho sự tồn tại hào hùng của dân tộc. Chúng ta
chắt lại những mảnh vụn lịch sử để phần nào phục
hồi lại chút ít nguyên mẫu mà suy ngẫm về những bí ẩn
của quá khứ, phục vụ cho hiện tại và mai sau. Mùa xuân
đã đến và mùa xuân đã qua. Nhưng dẫu vậy thành Dâu vẫn
đượm mầu cổ tích.
Lý
khắc Cung