Yên
Tử là vùng non thiêng đại ngàn, chứa đựng nhiều huyền
tích hơn 700 năm của đất Tổ thiền phái Trúc Lâm Việt Nam.
Những đổi thay từ quá trình trùng tu, tôn tạo di tích đã
góp phần tôn vinh các giá trị của Yên Tử.
Khu
di tích danh thắng Yên Tử cách trung tâm thị xã Uông Bí (Quảng
Ninh) 14 km về phía tây bắc. Ðây là ngọn núi thiêng trong
tâm thức người Việt Nam và là đất Tổ của Thiền phái
Trúc Lâm, một dòng thiền mang đậm bản sắc văn hóa, tín
ngưỡng dân tộc, thể hiện rõ rệt nhất tư tưởng, tâm
hồn người Việt.
700
năm trước, sau chiến thắng quân xâm lược Nguyên Mông, vị
vua anh hùng Trần Nhân Tông đã nhường ngôi cho con để lên
Yên Tử tu hành, nghiên cứu giáo lý nhà Phật, gắn kết với
triết lý nhân sinh dân tộc để hình thành và sáng lập nên
Thiền phái Trúc Lâm với tư tưởng "nhập thế", "tu tại tâm"
mà ở đó, đạo không tách biệt đời. Ðạo phải thể nghiệm
ngay trong cuộc sống.
Có
thể nói, dòng thiền là sự hòa hợp tuyệt vời giữa tinh
thần dân tộc và tôn giáo, giữa tư tưởng và đạo đức,
giữa đạo và đời. Ngày nay, những tư tưởng này đã được
truyền bá rộng với nhiều trung tâm Thiền phái Trúc Lâm trong
nước và ngoài nước, không chỉ thu hút người Việt mà còn
được nhiều người nước ngoài quan tâm theo học và tu hành.
Hành
trình thăm viếng Yên Tử bắt đầu từ suối Giải Oan với
một cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Cầu dài 10 m, có
kiến trúc hài hòa với khung cảnh thiên nhiên chung quanh, không
cầu kỳ bay lượn nhưng toát lên vẻ đẹp cổ kính, vững
chãi. Tiếp đó tới chùa Hoa Yên với hàng cây tùng cổ tương
truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông lên tu hành
trên Yên Tử. Chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 m, được xây
mới hoàn toàn thay cho chùa cũ đã có từ 30 năm trước. Ngôi
chùa mới mang phong cách kiến trúc thời Trần - Lê, kiểu "nội
công ngoại quốc", chung quanh có nhà ngang, dãy dọc phục vụ
việc hành lễ và nơi ở của sư trụ trì và tăng ni. Trước
chùa có tam quan, bảo tháp, trung tâm là tam bảo, hành lang,
lầu chuông và trống, cuối cùng là nhà tổ, lợp ngói mũi
hài, ngói bò hình hoa chanh xếp bờ nóc.
Phía
trên độ cao 700 m là chùa Vân Tiêu lẩn khuất trong mây bên
triền núi. Sau điểm này, du khách tiếp tục lên chùa
Ðồng. Chùa Ðồng tọa lạc trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m,
điểm cuối của tuyến hành hương. Chùa Ðồng khởi dựng
vào thời Hậu Lê với tên gọi Thiên Trúc Tự. Hiện nay, các
tăng ni, phật tử trong nước và ngoài nước đang góp kinh
phí tôn tạo, xây dựng một ngôi chùa mới, xứng với tầm
vóc của giá trị văn hóa và tâm linh trên đỉnh Yên Tử,
bởi ngôi chùa trước quá cũ và xuống cấp.
Dọc
đường còn có một số điểm tham quan như: Tháp Tổ, chùa
Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân,
bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc.
Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của
chùa Lân mà đức Ðiếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng
thuyết giảng chúng sinh. Ðây là công trình thiền viện lớn
nhất nước có cổng Tam quan, tòa chính điện, nhà thờ Tam
Tổ, lầu trống, lầu chuông, nhà trưng bày, nhà khách, phòng
thiền với kiến trúc đẹp và hoành tráng, uy nghi, điểm tô
chốn non thiêng Yên Tử thêm phần khang trang, bề thế, góp
phần bảo tồn, nghiên cứu các thư tịch cổ, ấn phẩm văn
hóa Phật giáo Việt Nam, tạo điều kiện cho tăng ni, phật
tử Trúc Lâm trong cả nước đến giảng đạo và tu thiền.
Từ
Hội xuân Nhâm Ngọ 2002, đường cáp treo hiện đại dài 1.200
m từ chân núi lên gần chùa Hoa Yên với 16 ca-bin, công suất
vận chuyển 700 khách/giờ. Hệ thống này đưa du khách lên
tới độ cao 450 m so với mặt nước biển và giúp họ tham
quan hệ thống chùa tháp từ Hoa Yên đến chùa Ðồng mất
hai tiếng.
Cùng
với sự quan tâm của các cấp chính quyền tỉnh Quảng Ninh,
sự đóng góp công đức trùng tu, xây dựng, khu di tích danh
thắng Yên Tử đang ngày càng đẹp lên, phát huy được các
giá trị di sản và trở thành một khu du lịch quốc gia trọng
điểm.
NGUYỄN
CƯỜNG
Danh
Thắng Yên Tử
Cao
vượt giữa vòng cung núi non điệp trùng vùng Đông Bắc, ngọn
Yên Tử có đỉnh chìm trong mây trắng và trải mình dưới
ngút ngàn mầu xanh cây lá. Thuở xa xưa, đây đã được coi
là phúc địa và lưu truyền huyền thoại về một cõi bồng
lai với bàn cờ, am thuốc tiên và pho tượng đạo sĩ An Kỳ
Sinh hóa thạch. Nhưng dấu mốc để Yên Tử khắc ghi trong
lịch sử và thành sự kiện văn hóa của đất nước là năm
1299, Thái thượng hoàng Trần Nhân Tông từng trực tiếp cầm
binh đánh tan giặc xâm lược, sau khi sắp đặt lại triều
chính, ông xuất giá đến miền danh thắng này hành đạo.
Bằng học vấn uyên thâm và kinh nghiệm từng trải, Trần
Nhân Tông lĩnh hội thành tựu của các vị cao tăng đi trước,
tiếp nhận những yếu tố tích cực của Phật giáo là từ
bi, bác ái, khoan dung, bình đẳng, hướng thiện và loại bỏ
mặt yếm thế, yên phận, bí hiểm, siêu thoát, sáng lập nên
phái Thiền Trúc Lâm mang bản sắc riêng Việt
Nam.
Xuất phát từ nhu cầu bức xúc của dân tộc lúc bấy giờ
là nêu cao tinh thần đoàn kết, thương yêu trong cộng đồng,
nguyện chung ý chí bảo vệ quyền tự chủ và độc lập của
Tổ quốc, dựa trên vị thế tôn giáo đang thịnh hành, Trần
Nhân Tông xúc tiến quá trình bản địa hóa của đạo Phật
từ nước ngoài truyền vào ở cả hai phương diện lý thuyết
là thực tiễn. "Nhập thế" và "tu tại tâm" là hạt nhân cốt
lõi của tư tưởng chính thống phái Thiền Trúc Lâm. Theo đó,
đạo không tách biệt đời. Đạo phải thể nghiệm ngay trong
cuộc sống. Mầm giác ngộ tức Phật tính vốn có saün trong
mỗi người, chỉ cần biết kơi dậy và tự rèn luyện, hoàn
thiện bản thân. Lấy pháp hiệu là Điếu Ngự, Trần Nhân
Tông cùng hai nhà sư Pháp Loa, Huyền Quang và các môn đệ dịch
thuật, soạn thảo sách kinh, tập hợp và quy tụ tín đồ
giảng giải, truyền bá giáo lý tại Yên Tử. Mảnh đất thiêng
có tầm nhìn bao quát suốt dải biên cương rộng lớn trở
thành trung tâm thống nhất Phật giáo Việt Nam, tác động
sâu sắc đến các lĩnh vực hoạt động xã hội không những
đương thời mà trong nhiều giai đoạn kế tiếp.
Các
chùa chủ yếu ở Yên Tử là Giải Oan, Hoa Yên, Vân Tiêu và
bia Phật phân bố từ thấp lên cao tương ứng với trần gian,
lễng trời, cung trời và ngoài vũ trụ. Bên cạnh là các chùa
Lân, suối Tắm, Bí Thễợng, Cầm Thực, Long Động, Thiền
Định, Một Mái, Bảo Sái và chùa Đồng cùng hệ thống tháp.
Các nghệ nhân tài hoa đã sáng tạo những công trình kiến
trúc phối cảnh hài hòa, dung hợp với không gian thiên nhiên
hùng vũ và thơ mộng. Trong rừng già hoang sơ, ầm ào thác
đổ và vi vút gió reo. Buổi sớm, sương mờ bao phủ, mưa
bụi nhẹ bay. Những đàn bướm lượn dập dìu và vang tiếng
chim hót, vượn kêu. Hoàng hôn buông nắng nhạt, dát vàng những
mái chùa và ngôi tháp cổ kính ẩn hiện thấp thoáng, xám
lớp rêu phong chứa đựng bao sự tích kỳ lạ. Và đêm xuống,
âm thanh chuông mõ cầu kinh truyền nối, lan tỏa... Qua 700 năm,
dù phần lớn đã đổ nát, vẫn có thể hình dung diện mạo
Yên Tử thời hưng thịnh của phái Thiền Trúc Lâm trong quá
khứ. Đường uốn lượn quanh co, rợp bóng hàng xích tùng
trồi rẽ gân guốc. Những viên gạch vuông đỏ sẫm, nổi
hình văn hoa cúc. Ngói mũi hài mềm mại lợp quanh bờ tường
và vòm cong dẫn vào Tháp Tổ sáu tầng chót vót xếp trên
bệ đài sen 102 cánh. Chùa Hoa Yên có tấm bia trang trí họa
tiết rồng uốn khúc trong khuôn lá đề và bức phù điêu
diễn tả ba ni cô niệm Phật. Tượng Trần Nhân Tông khoác
cà sa hở nửa ngực vai phải, ngồi thiền trong tễ thế "liên
hoa tọa". Bia Phật, khắc chữ Thiên Trúc Tự mặt phía Bắc
và chữ Phật phía Nam, dưới có dòng Đông Tự Hồng Nha....
Yên
Tử là cội nguồn của Phật giáo Việt Nam và là một điểm
du lịch hấp dẫn. Số khách thăm ngày càng tăng và năm 1998
đạt tới 100 nghìn lượt người.di tích lịch sử và danh
thắng quốc gia Yên Tử được khoanh vùng bảo vệ 2025 ha rừng
đặc dụng và 145 ha mặt hồ nằm trong địa bàn hai xã Phương
Đông và Thượng Yên Cộng
Trong
lòng Yên Tử còn có tài nguyên khoáng sản là các vỉa than
ngầm nhưng việc khai thác phải tính toán kỹ lưỡng và thận
trọng, không thể mở các cửa lò gây ô nhiễm và làm mất
vẻ đẹp của danh sơn gắn liền di tích có ý nghĩa đặc
biệt. Lễ hội mùa xuân Yên Tử 1999 cũng là dịp kỷ niệm
phái Thiền Trúc Lâm 700 năm ra đời và phát triển, được
chuẩn bị chu đáo. Chính phủ đã phê duyệt dự án tổng
thể với nguồn ngân sách khá lớn nhằm bảo tồn và phát
huy các giá trị nhiều mặt của Yên Tử. Hành hương về Yên
Tử là đến với non xanh, nước biếc kỳ thú, hữu tình và
chiêm bái chốn cửa Phật thanh cao.
(N
D - 25/2/1999)
Khu
danh thắng Yên Tử
Khu
di tích danh thắng Yên Tử bao gồm một hệ thống chùa, am,
tháp và rừng cây cổ thụ hoà quyện với cảnh vật thiên
nhiên, nằm rải rác từ dốc Đỏ đến núi Yên Tử theo chiều
cao dần thuộc xã Thượng Yên Công, thị xã Uông Bí, tỉnh
Quảng Ninh, cách thành phố Hạ Long khoảng hơn 40 km, cách thị
xã Uông Bí khoảng 14 km.
Nằm
trong cánh cung núi trùng điệp của khu Đông Bắc, đỉnh núi
Yên Tử có chùa Đồng ở độ cao 1.068 m so với mặt nước
biển. Từ xưa, núi rừng Yên Tử đã nổi tiếng là nơi ngoạn
mục và được liệt vào Danh sơn đất Việt.
Vẻ
đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoà với nét
cổ kính trầm mặc của hệ thống am, tháp cùng với đường
tùng, thông, đại, trúc, mai mọc ở hai bên đường toả bóng
mát làm cho du khách thập phương quên nỗi mệt nhọc đường
dốc cheo leo.
Hiện
nay hệ thống cáp treo ở Yên Tử đã đi vào hoạt động,
đưa du khách tới chùa Hoa Yên ở độ cao 534 m so với mực
nước biển, nơi có hai cây đại 700 năm tuổi. Từ đây du
khách tiếp tục leo núi, tới các ngôi chùa nằm rải rác trên
đường đi tới chùa Đồng. Đường lên chùa Đồng du khách
có cảm tưởng như đi trong mây. Gặp khi trời quang mây tạnh,
từ đỉnh núi này, du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh đẹp
của vùng Đông Bắc.
Vào
mùa xuân, khách thập phương thường đến Yên Tử rất đông
vừa để hành hương, vừa để vãn cảnh. Lễ hội Yên Tử
bắt đầu từ ngày 10 tháng giêng âm lịch và kéo dài đến
cuối tháng 3 âm lịch.
Ngay
từ thời Lý, Yên Tử đã có chùa thờ Phật gọi là chùa
Phù Vân và đạo sĩ Yên Kỳ Sinh đã tu hành đắc đạo ở
đây. Nhưng Yên Tử thật sự trở thành trung tâm của Phật
giáo từ khi vua Trần Nhân Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà
sa tu hành và thành lập một giáo phái Phật giáo đặc trưng
của Việt Nam đó là phái Thiền Trúc Lâm và trở thành vị
tổ thứ nhất với pháp danh: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân
Tông (1258-1308), ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn
nhỏ trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh,
giảng đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp
là Pháp Loa Đồng Kiên Cương (1284-1330) vị tổ thứ hai của
phái Trúc Lâm.
Trong
19 năm tu hành, ông đã soạn ra bộ sách "Thạch thất ngôn
ngữ" và cho xây dựng 800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong
nước với hàng nghìn pho tượng có giá trị, trong đó có
những chùa nổi tiếng như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên
ở Đông Triều... ở trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn
có Huyền Quang Lý Đạo Tái (1254-1334) - vị tổ thứ ba của
phái Trúc Lâm.
Sang
đến thời Lê, Nguyễn thì Yên Tử trở thành trung tâm của
Phật giáo Việt Nam và được vua quan các triều đại quan
tâm tôn tạo, sửa chữa nên khu di tích Yên Tử là sự kết
tinh, sự hội tụ của nền văn hoá dân tộc với dáng dấp
kiến trúc, hoa văn trang trí và các mảng chạm khắc mang đậm
dấu ấn của các thời đại.