Chùa
Thiên Trúc (tức chùa Đồng)
Yên
Tử là một dãy núi liên hoàn thuộc xã Yên Hưng, Quảng Yên,
tỉnh Quảng Ninh, cách Đông Triều 20 km về hướng Đông Bắc.
Trên núi có nhiều chùa, mà chùa nào cũng thờ ba vị gọi
là Trúc Lâm Tam Tổ. Vị thứ nhất là vua Nhân Tôn nhà Trần,
chán cảnh vương giả, mộ đạo, nhường ngôi cho con, sau ba
lần chống giặc Nguyên Mông thành công, lặn lội lên Yên
Tử để tu hành... Vị thứ hai là Thiền sư Pháp Loa, mộ đạo
Phật từ thuở bé, tu hành ở núi Hun
Sơn,
được Điều Ngự Giác Hoàng (tức vua Trần Nhân Tôn) truyền
pháp, làm đệ nhị Tổ sư thiền phái Trúc Lâm. Vị thứ ba
là Thiền sư Huyền Quang, đỗ Trạng nguyên đời Trần, từ
quan lên núi Thanh Mai cũng gần đấy để tu niệm, sau được
Tổ Pháp Loa ấn truyền làm đệ tam Tổ sư.
Cảnh
Yên Tử đẹp có tiếng, khách thập phương về trẩy hội
vào giữa tháng 2 âm lịch đến tháng 3 là hết hội, thời
tiết mùa xuân nắng ấm, hoa lá xanh tươi, mùa hạ nóng bức
các chùa an cư kiết hạ, mùa thu mưa bão, mùa đông gió mùa
đông bắc tràn về giá lạnh. Tuy bốn mùa phân biệt, đường
đi hơi vất vả khó khăn, phải đi bộ từ mấy hướng xuyên
qua những quãng rừng từ Tràng Bạch, Uông bí vào Vàng Danh,
lội trên 30 ngọn suối và leo qua những sườn núi lởm chởm
cheo leo. Trong bài "Xuân trọng du Yên Tử sơn ngẫu chiêm kỳ
nhị" của Phan Mạnh Danh, thi sĩ đời trước đã tả cảnh
Yên Tử còn ghi tạc nơi đây:
Yên
Sơn sơn thượng độc ta nga
Tằng
đạo danh lam thắng tích đa
Bảo
tháp thâm niên tàng Phật cốt
Vân
tiêu hà xứ thị tiên gia
Duy
dư bạch thạch mai sương thảo
Bất
tận thương đài đới vũ hoa
Đáo
thử yên hoa đương nhị nguyệt
Trúc
Lâm yêm ưởng tịch dương tà
Bản
dịch của Vũ Mộng Hùng:
Chót
vót non Yên đứng giữa vời
Tiếng
đồn danh thắng thiếu gì nơi
Tháp
vùi cốt Phật bao đời trước
Mây
cách nhà Tiên mấy dặm khơi
Trắng
lớp đá đen màu cỏ ấy
Xanh
rờn rêu ủ hạt mưa rơi
Tháng
hai hoa khói ghi ngày tới
Rừng
trúc loi thoi ánh mặt trời.
Du
khách đi tham quan Yên Tử có ba lối: lối thứ nhất, từ Hà
Nội đi đường Quốc lộ 1A về Lục Nam tỉnh Hà Bắc qua
Lầm, đường xa đỡ vất vả. Lối thứ hai cũng từ Hà Nội
đi theo Quốc lộ 5 đến ga Phú Thái xuống xe hoặc tàu hỏa,
rồi đi tiếp đến Yên Lưu gần núi Yên Phụ. Từ Yên Lưu
đi thuyền theo dòng sông Kỳ huyện Thanh Miện lên bến Vỹ,
rồi đi vào Tràng Bạch thì vừa tối. Hôm sau đi tiếp qua
rừng, núi, khe để đến Yên Tử. Lối thứ ba, đi đường
từ Hải
Phòng
qua phà Bính, đến ngã ba núi Đèo huyện Thủy Nguyên thì rẽ
về lối Phi Liệt rồi qua bến Đụn, xe chạy tiếp đến lối
rẽ, một lối về thị trấn Mạo Khê, một lối về thị
xã Uông Bí, du khách xuống xe cuốc bộ vào mỏ than Bạch Thái,
thì bắt đầu thấy cảnh suối ngàn non xanh của vùng Yên
Tử. Xa xa đã trông thấy mái chùa Cẩm Thực xây trên đồi,
chùa này trước kia là một am nhỏ, sau mới xây to rộng, là
chỗ ghi nơi xưa vua Nhân Tông cùng đồ đệ nghỉ
ngơi
để dùng bữa cơm chay bằng rau sắn và rau vi. Vì thế tên
chùa gọi là Cẩm Thực.
Quang
cảnh chung quanh đồi này rất đẹp, có núi biếc, có suối
trong, có cầu tre, có bia đá tạc bài thơ làm thấm lòng du
khách một cảm giác êm dịu bâng khuâng, mà người xưa còn
lưu lại bài thơ vịnh chùa Cẩm Thực như sau:
Bao
la chân núi cỏ xanh rì
Suối
nước cầu tre giữa lối đi
Mấy
mái am thiền cây bóng rợp
Hai
hàng bia tháp chữ rêu lì
Dấu
xưa vua chúa còn ghi nhận
Cảnh
cũ Tăng Ni vẫn trụ trì
Mỹ
vị cao lương từng đã trải
Chua
cay thử nếm món rau vi
Đến
chùa Cẩm Thực vào khoảng giữa giờ Ngọ, khách có thể thụ
trai ở đó và nghỉ ngơi chốc lát rồi đi thăm chùa Lân Động
là di tích vua Trần xây để thuyết pháp. Đường đi phải
qua đồn điền Nam Mẫu rộng bát ngát trồng thông và trẩu.
Qua
chùa Lân Động, rẽ vào đường núi trèo qua đèo Voi, thì
đến một cái suối to và trong. Tục truyền suối này là nơi
300 cung nữ theo vua Trần Nhân Tôn, bị nhà vua khước từ không
cho theo quá xa nữa. Đám cung nữ ấy cũng không muốn quay về,
liền cùng nhau tự tử cả ở suối ấy. Vua Trần cho dựng
chùa giải oan cho những linh hồn cung nữ được siêu thăng
Tịnh độ. Vì thế chùa và suối đều gọi là Giải Oan, mà
thi nhân Lương Ngọc Tùng có thơ vịnh lưu lại nơi đây:

Suối
này tên gọi Giải Oan toàn
Chùa
cũng trùng tên gọi Giải Oan
Phách
róc như chiêu hồn tiết phụ
Hương
bay còn đượm khói trai đàn
Cảm
đoàn hồng phấn duyên vừa bén
Tiếc
giấc hoàng lương mộng chóng tàn
Khuê
các như ai nhiều nghiệp chướng
Lên
đây nước sạch rửa kỳ tan
Từ
suối Giải Oan, sau khi chồn chân mỏi gối leo những bậc đá
dốc cao thì đến chùa Hoa Yên mười mái, thờ tượng Tam Tổ
bằng gỗ thếp vàng. Ngoài sân có một ngọn tháp to cao, trong
đó có tượng vua Trần. Sau khi nghỉ qua đêm, từ chùa Hoa
Yên đi đường tắt xuyên sơn thì đến một chùa làm trong
hang ngoài có một mái để che mưa, vì vậy gọi là chùa Một
Mái, trong hang thờ Tam Tổ, trên cửa động có một lỗ sâu
gọi là hang Gạo. Quá chùa Một Mái, đường đi ngoằn ngoèo
vừa xuống dốc, đi một lúc đến chùa Bảo Xác là một trong
bốn chùa đẹp vùng Yên Tử: Bảo Xác, Vân Tiêu, Thiên Trúc
(tức chùa Đồng) và chùa Yên Sinh, các du khách và thi sĩ thả
hồn chiêm ngưỡng non Bồng.
Chùa
Bảo Xác là một hang rộng, thờ Tam Tổ, chính vị là Pháp
Loa, có nhũ đá rũ xuống như rèm châu, có mạch nước chảy
thành suối trong suốt. Đây là nơi vua Nhân Tôn thường đến
tu dưỡng tâm thần trong khi tu.
Chùa
Vân Tiêu cách chùa Bảo Xác khá xa, cũng thờ Tam Tổ, chính
vị là Huyền Quang, ngoài sân có cây phù đồ lớn xây trên
lưng rùa đắp. Ngắm cảnh, vãn chùa thì trời vào khoảng
tròn Ngọ, khách tiếp tục đi tham quan Chùa Đồng tức chùa
Thiên Trúc.
Lối
đi chùa Đồng theo lối mòn, len lỏi rẽ lau lách, vạch cỏ,
theo chân sơn tràng để lần lối vào giữa khoảng rừng rậm.
Sau khi đến đèo Trúc Hoa là một đèo trồng toàn trúc lạ,
có hoa đẹp nở hàng năm thì trông thấy một khối đá trông
giống hình người, thường gọi là đá Yên Kỳ Sinh. Tên núi
Yên Tử là do Kỳ Sinh lấy họ mình đặt cho núi. Theo tục
truyền, Kỳ Sinh là một người Tàu mộ đạo, tinh thông địa
lý, am tường thiên văn, biết vùng núi Yên Tử có huyệt đế
vương, long mạch quần tụ nên Kỳ Sinh tìm cách lấy di hài
thân phụ táng vào huyệt đó, nhưng đêm đến mưa to gió lớn,
sấm sét nổi lên đánh bật di hài mới táng ra khỏi huyệt
long. Kỳ Sinh buồn rầu, biết mình không phải là chân mệnh
bèn dốc lòng tu hành được thành chánh quả và được thờ
cúng ở vùng ấy, tức là chùa Kỳ Sinh.
Từ
đèo Trúc Hoa hướng về phía tảng đá Kỳ Sinh mà leo, một
lúc thì đến chùa Thiên Trúc tức chùa Đồng. Chùa thờ Tam
Tổ, chính vị là vua Trần Nhân Tôn, có đặc điểm là mọi
thứ, từ đồ thờ cho đến mái, cột, dầm, xà, rui, kèo trong
chùa đều bằng đồng cả. Hồi kháng chiến trong nửa thế
kỷ gần đây, trong một cơn mưa bão, mái chùa Đồng bị bay
đi mất, sau đó nhà chùa phải lợp bằng tôn thay vào, pha
nước sơn màu tựa như đồng.
Chùa
Đồng làm trên đỉnh núi cao nhất vùng Yên Tử. Đứng nơi
đây trông ra xa thật là bao la bát ngát, non xanh nước biếc,
phong cảnh hữu tình. Nơi đây người xưa có vịnh bài thơ
chỗ này rằng:
Cao
cao đỉnh núi tuyệt trần đời
Đầu
trống canh năm thấy mặt trời
Rừng
quế hoa cười công nhởn múa
Suối
trong nguyệt lặn vượn đùa bơi
Bể
xanh chui lại trong lòng mắt
Mây
biếc luồn qua dưới cánh vai
Tới
cảnh non Yên quên thói tục
Kỳ
Sinh đâu đấy khách vào chơi
Phía
sau chùa Đồng có lối đến chỗ có phiến đá rộng và bằng
phẳng, thường gọi là bàn- cờ- tiên. Quãng đường này tuy
ngắn nhưng khó đi vì rất nhiều nhũ đá lởm chởm, gai góc
chằng chịt. Quanh vùng này còn rất nhiều những nếp chùa
nhỏ, nhưng cảnh không kém phần ngoạn mục, muốn thăm hết
vùng này mất thêm vài ngày leo đèo nữa. Đó là những cảnh
am Ngọa Vân, xưa vua Trần viên tịch ở đó, núi Tiên Dòm
là một tảng núi nhỏ hình người lom khom
nhìn
về phía bãi Bằng Tân, hồ Thiên Sơn, là một ngọn núi chót
vót, hoa cỏ đậm đà, từ đàng xa nhìn như là một bức tranh
thủy mạc. Cuối cùng là chùa Yên Sinh, tọa vị vào nơi tương
đối thấp, chung quanh tùng bách um tùm. Trong chùa có tạc tượng
vua Trần nằm, có cây trúc xuyên qua đùi. Khi vua Trần tịch
ở Ngọa Vân am, thân nằm trên những cành trúc chằng chịt,
trúc mọc xuyên qua đùi xác chết mà không ai hay. Sau triều
đình nhà Trần biết và cho tạc tượng đúng như kiểu Trần
Đế nằm khi viên tịch. Tượng này xưa thờ ở am Ngọa Vân,
sau di về chùa Yên Sinh vì thảo am bị cháy.
Chung
quanh vùng này còn có cảnh núi Thanh Mai và Hun sơn, vẻ đẹp
rất quyến rũ, là nơi Tổ Pháp Loa và Tổ Huyền Quang tu luyện,
đến thăm phải mất thêm một, hai ngày nữa. Nhưng với chùa
Yên Sinh và các chùa nói trên, cuộc đi thăm vùng Yên Tử sơn
ít nhất một tuần lễ đã gọi là đủ.
Sau
chuyến hành trình qua các ngọn núi, khe, đồi và thưởng ngoạn
hồ Thiên Sơn, du khách thu xếp hành lý, thọ bữa cơm chay,
nhặt một ít rau sắn, rau vi cùng hoa trái, là những món quà
đặc biệt của Yên Tử sơn, khách lộn trở lại đường
cũ xuống núi trời vừa xế bóng. Tự nhiên khách thấy nhớ
tiếc núi cao, nước thẳm, có cảm giác bàng hoàng như mới
qua một giấc mơ cùng cảm giác kỳ lạ của Yên Tử sơn:
Mây
vần trên đỉnh núi xa
Thuyền
ai nhẹ chở ánh ngà vào đêm
Dang
tay hứng giọt sương mềm
Nghe
như vọng lại bao niềm gió reo
*
Nhẹ
gót vân du trải mấy đèo
Lối
mòn Yên Tử cảnh cheo leo
Sườn
non thăm thẳm đèo ba dội
Sóng
biển mênh mông trúc một chèo
Đỉnh
mộng đâu bằng nơi đất Tổ
Xe
châu chẳng sánh góc quê nghèo
Núi
sông bát ngát tình thêm nặng
Gió
lộng trăng ngàn nhạc suối reo
*
Hồ
Thiên Sơn, nước trong veo
Vân
Tiêu- Bảo Xác mây chèo đón ai?
Trăng
nghiêng vượt sóng non Đoài
Tiếng
chuông Yên Tử ngân dài sắc không
VD