THƯ VIỆN HOA SEN
Search English Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn Index Tác-Giả

 
 

 

c
Những Ngôi Chùa Việt Nam
TỈNH QUẢNG NINH
Yên tử 
Cội Nguồn Thiền Phái Trúc Lâm

Xuôi theo hướng Đông Bắc Tổ quốc tới Quảng Ninh, lên non Yên Tử, đi tìm về cội nguồn một thiền phái đạo Phật do người Việt Nam ta sáng lập, giữa một sớm xuân, chúng tôi bâng khuâng trong xúc cảm kính cẩn xen lân lạ lẫm của lớp sinh viên trẻ hướng về truyền thống.

Chặng đường từ chân núi tới đỉnh theo các bậc đá dài gần ba mươi cây số rải rác những dấu tích và những kiến trúc chùa Tháp đều từ thời Trần trở về sau. Có khoảng hai mươi công trình lớn nhỏ ( trong đó có mười một chùa) xây dựng trong những khoảng thời gian khác nhau. Dưới chân núi, bên bờ suối thường có chùa : chùa Cầm Thực (nhịn ăn), chùa Lân, chùa Giải Oan bên suối tắm, suối Sâm... Mỗi chùa gắn với một câu chuyện trong quá trình tu hành của vua Trần Nhân Tông.

Vua Trần Nhân Tông (1258 - 1308) là một hiền triết lỗi lạc của Việt Nam, người từng hai lần cầm quân kháng chiến chống Nguyên Mông thắng lợi, tới bốn mươi tuổi nhường ngôi cho con (Trần Anh Tông) chọn Yên Tử làm nơi tu hành. Theo truyền thuyết, ngọn núi cao nhất miền Hải Đông xưa này vốn là Bạch Vân Sơn. Tới thời Tần Thuỷ Hoàng bên Trung Quốc có một đạo sĩ tên Yên Kì Sinh (hay An Kì Sinh) từng làm nghề bán thuốc rong vùng ven biển rồi lui tới núi này tu hành, sau hoá thành đá. Tượng đá Yên Kì Sinh này còn đứng trên gần đỉnh ngọn núi đã được mang tên đạo sĩ. Chỉ từ thế kỷ XIII, Trúc Lâm Điều Ngự - Trần Nhân Tông tới đây quy Phật, khởi xễớng thiền phái Trúc Lâm, Yên Tử mới trở thành một trung tâm Phật giáo nổi tiếng cả nước.

Đầu tiên chúng ta gặp chùa Giải Oan, nơi lập đàn giải oan cho hơn năm trăm cung phi theo vua Trần lên núi không được nhà vua chấp nhận đã trầm mình dưới dòng suối. Tiếp đó theo Đường Tùng, nghe tiếng lá tùng rì rào như bảy trăm năm về trước từng reo theo bước chân vị vua hiền, ta lên Tháp Tổ. Những dấu tích một nền sản xuất thủ công tinh xảo thời Trần hầu như còn nguyên ven nơi đây : gạch xây tường, ngói mũi hài kép. Đường từ cửa tò vò sau tháp Huệ Quang lên chùa Hoà Yên lát tám tễ viên gạch vuông lớn in nổi hoa cúc. Quanh chùa Hoa Yên hoa cỏ anh tươi hội tụ một quần thể kiến trúc chùa Tháp : bên hữu là tháp Thiền Đinh nơi vua Trần đọc kinh, niệm Phật; bên tả là chùa Một Mái có 11 tượng đá cẩm thạch, hốc giếng sữa mẹ nơi vua Trần đọc sách; ngược lệ cao là chùa Bảo Sái, cao hơn chùa Bân Tiên thờ Tam Tổ (Trúc Lâm Điều Ngự, Thiền sư Pháp Loa, Thiền sư Huyền Quang); cao nhất, trên đỉnh là chùa Đồng (ở độ cao 1068 m). Đứng trên đỉnh Yên Tử, ngắm những con đường mòn ngoằn nghèo vàng nhạt mời mờ trong sương mù mây trắng, đoàn sinh viên chúng tôi nhỏ bé im lặng trên một đỉnh núi giữa mênh mông bao đỉnh núi khác nhấp nhô, dường như ai cũng man mác cái tâm trạng Lý Tử Tấn xưa và thanh thản ngẫm bốn câu kệ - lý tưởng cốt lõi của thiền phái Trúc Lâm :
 
 

Cơ trần lạc đạo tuỳ duyên

Cơ tắc sang hề khố tắc miên

Gia trung hữu bảo hễu tầm mứt

Đối cánh vô tâm mạc vấn thiền

(ở đời vui đạo tuỳ duyên

Hễ đói thì ăn mệt nghỉ liền

Trong nhà có ngọc thôi tìm kiếm

Đối cảnh tâm không chớ hỏi thiền.)
 
 

Cũng trên non Yên Tử, vị hiền triết thế kỷ XV, Nguyễn Trãi, đã từng nối bút tâm sự với cảnh, với người đi trước :
 
 

"Trên non Yên Tử chòm cao nhất

Trời mới canh năm đã sáng tinh

Vũ trụ mắt đưa ngoài biển cả

Nói cười người ở giữa trười xanh

Muôn hàng giáo ngọc che gài cửa

Bao dải lụa châu đá rủ mành

Dấu cũ Nhân Tôn còn vẫn đấy

Trùng đồng thấy giữa áng quang minh
 
 

Từ Hà Nội, đoàn chúng tôi đi tới hai ngày mới hết khu di tích Yên Tử. Chúng tôi nghỉ đêm trong nhà nghỉ chùa Hoa Yên. Nằm trên giường gạch, sương núi tê lạnh, gió núi vi vút như gần như xa, sáng tinh mơ nghe chuông chùa ngân vang giữa không gian tĩnh lặng và dự buổi tụng niệm của nhà chùa ban sớm, tâm hồn chúng tôi - những sinh viên đa phần "độc diễn" ba mươi trên ba mươi ngày ba lô, quần bò - như tìm thấy một phần chính mình bị bỏ quên đâu đây xa ngái. Và khí xuống núi, cuộc sống đời thường ùa vào chúng tôi như những viên sỏi rơi xuống một giếng nước khác, tạo ra những tiếng vang khác...

Non thiêng Yên Tử

Núi Yên Tử gắn liền với lịch sử đạo phật Việt Nam. Đây là nơi phát tích của một thiền phái nổi tiếng - thiền phái Trúc Lâm - mà vua Trần Nhân Tông là vị sơ tổ.

Câu chuyện nhà vua, sau khi đánh thắng giặc Nguyên-Mông xâm lược, đã từ bỏ ngai vàng với bao nhiều quyền lực và hoan lạc, tìm đến tận miền sơn cước heo hút để tu hành đã gợi cho biết bao thế hệ sau này những liên tưởng sâu xa, đượm màu huyền thoại.

Núi rừng Yên Tử thực hùng vĩ, cheo leo, đầy hoa thơm cỏ lạ và bát ngát xanh um một loài trúc thanh cao. Mỗi bước đi một gợi nhớ đến quá khứ xa xôi. Đây là Suối Tắm - nơi nhà vua rũ sạch bụi trần trước khi vào cõi tu hành. Đây là chùa Giải Oan - nơi mấy chục cung tần mỹ nữ khóc lóc níu kéo nhà vua trở lại cõi trần rồi bị nước cuốn trôi, chết gần hết. Rồi chùa Hoa Yên, ở độ cao 600 m - nơi vua hóa Phật... Đi mãi, đi mãi, ngược lên đỉnh núi gần như dốc 

đứng, qua chùa Vân Tiên, đến chùa Đồng ở độ cao 1.068 m. Nơi đây quanh năm gió lộng, sương mù bao phủ. Đứng lâng châng trên đỉnh núi, ta có cảm giác bao nhiêu mệt mỏi, ưu phiền tan biến, ngỡ như mình đang ở cõi tiên, hòa nhập cùng trời đất. Thật bõ công trèo đèo, lội suối, có lúc chùn chân tưởng như không lê bước nổi.

Yên Tử có trên một chục chùa, am, đặc biệt là hệ thống tháp cổ, có giá trị tín ngưỡng và kiến trúc đặc biệt quý giá. Nếu vượt qua những ngọn tháp đó, chỉ vài chục mét thôi, ta thấy đoàn người hành hương, tay chống gậy, vai mang ba lô ẩn hiện giữa những ngọn tháp, bồng bềnh trong mây nhẹ, hệt như cảnh thày trò Đường Tăng qua Tây Trúc thỉnh Kinh. Thật là kỳ thú!

Kỳ thú nữa là ở đây không chỉ có trúc mà còn rất nhiều cây tùng cổ thụ, tuổi khoảng 500 năm, dáng vẻ thật đường bệ, thâm trầm. Bên cạnh đó là những cây đại cũng độ tuổi ấy, bóng trùm rộng lớn và vẫn đơm hoa vàng ngan ngát.

Thật ra Yên Tử không chỉ được biết đến từ thời Trần Nhân Tông. Vào thế kỷ 3 trước Công nguyên, đã có một hiền nhân tìm tới đây, vừa tu hành vừa làm thuốc chữa chạy cho dân chúng. Rồi ông đắc đạo, thành tiên. Tên ông- An Kỳ Sinh - được lấy đặt tên cho núi (Yên Tử vốn tên là An Tử - núi Thầy An). Giờ đây, cách chùa Đồng chừng 20 phút trèo núi có am thờ An Kỳ Sinh và pho tượng đá cao lừng lững mà dân gian cho rằng đó chính là tượng ông do trời đất tạo nên.

Yên Tử là một thắng cảnh mang nhiều ý nghĩa, đang cần Nhà nước và nhân dân góp sức đầu tư, tôn tạo cho xứng với tầm vóc của nó.
 

Nguyễn Thu Hương (K41 Du lịch, DHKHXH & NV, Hà Nội)
Tạp chí sinh viên (15/3/1997)


 

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap