YÊN TỬ
SỬ CŨ, NGƯỜI XƯA
Ninh Hạ
Chùa Đồng
trên đỉnh NúI Yên Tử
Về thăm Yên
Tử không chỉ để thưởng ngoạn núi rừng hùng vĩ và phong
cảnh kỳ thú của thiên nhiên. Vì nếu như thế, ngay ở trong
nước, chưa nói chi các miền đất lạ trên thế giới đã
từng đi qua, hẳn có nhiều nơi khác lôi cuốn hơn. Thăm Yên
Tử lại càng không phải chỉ để chiêm ngưỡng kiến trúc
chùa lăng am tháp. Vì nếu như thế, tuy có nét độc đáo,
nhưng lại cũng quá khiêm tốn nếu so với các di sản tráng
lệ rực rỡ, các công trình đồ sộ rất đáng thán phục
của các nước lân cận như Cam bốt, Thái Lan, Trung Hoa và
Nhật.
Thế nhưng,
trước mỗi mộ tháp và trên từng bực đá của Yên Tử,
khách hành hương hay tha hương trở về quê tổ có một niềm
xúc động, một tình cảm thiêng liêng rất sâu lắng mà không
nơi chốn nào khác đã đi qua có được. Mối ràng buộc níu
kéo mời gọi, nhất là với những ai từ lâu lưu lạc xa quê,
đó chính là hồn nước ngàn năm kế truyền trong huyết quản.
Thế nên, về
Yên Tử mà chỉ mô tả chùa tháp núi rừng thì quả là thiếu.
Yên Tử núi thiêng không phải chỉ vì mạch nguồn phong thủy,
mà chính là nơi hành trì và đắc đạo của tổ của tăng.
Nơi dấu tích hưng phế của triều đại và sự thăng trầm
của thiền môn, đạo pháp. Nơi mà những chuyện thị phi hồ
đồ hàng trăm năm cũ cũng tựa như những điều đang chứng
kiến hôm nay.
Từ Yên Tử
trở về lại miên man trong dòng nghĩ, mông lung về sử cũ
và người xưa. Trên từng trang sử đọc ẩn hiện bóng hình
Yên Kỳ Sinh, Hiện Quang, Trần Thái Tông, Trần Nhân Tông, Pháp
Loa, Huyền Quang. Những người, trong rất nhiều người, theo
thứ tự thời gian đã lưu dấu ở đây và làm cho núi rừng
Yên Tử trở thành kỳ tích mang hồn thiêng dân tộc.
Trần Nhân
Tông, vị sao bắc đẩu của non sông, của thiền tông và Phật
đạo thì sử sách đã nói nhiều, nói đủ. Ðặc biệt là
các khảo cứu biên soạn rất khoa học và công phu của Lê
Mạnh Thát, Nguyễn Văn Lang. Không còn gì để thêm.
Với tôi còn
lại đôi điều lạm bàn loanh quanh dưới các tiểu mục:
• An Kỳ Sinh.
Tăng nhân hay đạo sĩ
• Thiền
Sư Hiện Quang. Vầng trăng mây che.
• Trần Thái
Tông. Ngai vàng hay sơn môn
• Thiền
Sư Pháp Loa. Bồ tát,Trượng phu.
• Huyền
Quang. Nghệ sĩ thiền sư mặc áo Bụt ở với ma.
Yên Kỳ
Sinh.
Tăng nhân
hay Ðạo Sĩ
Yên Kỳ Sinh
đến Yên Tử tu luyện lúc nào?
Có nhiều người
vẫn còn không đồng ý về việc Yên Kỳ Sinh là một sư tăng
hay là một đạo sĩ. Cho rằng Dược Am, Thung Am dấu tích Am
thuốc và Am luyện thuốc ở trên ngọn Tử tiêu, chẳng qua
cũng chỉ là sản phẩm tưởng tượng, không là bằng chứng
cụ thể để xác quyết ông là đạo sĩ. Lại nữa Yên Kỳ
Sinh tu đạo ở Phổ Ðà Sơn, chuyện trò thâu ngày thâu đêm
với Tần Thủy Hoàng, ai cấm ông đến Yên Tử để thiền
định và giác ngộ Phật tánh.
Bằng chứng?
Hiện nay trong vùng có chùa Yên Kỳ để thờ ông. Chùa để
thờ Phật, tăng, tổ, đâu có thờ đạo sĩ. Xin trả lời.
Ðừng nói chuyện cả mấy ngàn năm về trước, bây giờ mời
về Việt Nam . Một ngôi chùa to nhất từ xưa đến nay, đang
xây cất với nhiều tai tiếng bất bình đến phẫn nộ ở
Bình Dương, thờ ông Hồ Chí Minh cùng với Phật. Chùa Tây
Phương, không xa Hà Nội, nơi có những tượng gỗ La Hán tuyệt
đẹp với nghệ thuật điêu khắc thần kỳ, khách thăm cũng
dị ứng khó chịu thấy hình Hồ Chí Minh lạc lõng trên bàn
thờ tổ, rất khó coi. Rất nhiều chùa trong nước hiện nay
thờ ông Hồ. Ông Hồ là tăng hay tổ?
Yên Kỳ Sinh
không thể là một tu sĩ Phật giáo. Rõ ràng ông sống vào
đời Tần hay thọ lắm cũng đến đầu thời Tiền Hán. Phật
giáo lúc đó chưa có mặt tại Trung quốc. Nhà Tần và các
vua đầu nhà Hán rất tôn sùng Lão giáo và Ðạo Giáo. Phật
giáo đến Trung Quốc vào khoảng thời Hán Ðế, đầu tây
lịch (6 BC). Ðến đời Minh Ðế (67 BC) hai tăng nhân Ca Diếp
Ma Ðằng và Trúc Pháp Lan đã cỡi ngựa trắng, theo Ðường
Tơ Lụa, từ Ấn Ðộ mang kinh sách đến Trung Quốc. Việc
này ứng với giấc mộng của Minh Ðế, nên vua cho dựng chùa
Bạch Mã để tạ ơn và thờ Phật. Chùa đó đến nay vẫn
còn. Lại nữa. Từ Phật cho đến tổ, khi đã chứng ngộ
thì trở lại thế gian để giáo hóa quần chúng. Ít có ai
đạt đạo rồi phiêu diêu hưởng nhàn tiên cảnh bặt tăm
như đạo sĩ.
Yên Kỳ Sinh
có tới tu ở ngọn Tử Tiêu thì ông đến đây vào khoảng
thế kỷ thứ ba trước tây lịch. Ðó là lúc Tần Thủy Hoàng
sai Ðồ Thư và Sử Lộc mang quân đánh chiếm Bách Việt vì
hám ngọc ngà châu báu. Ðặc biệt là ngọc trai và ngọc cơ,
loại ngọc không tròn . Nước Tàu thời đó còn ở miền Bắc
Trung hoa bây giờ, dọc theo sông Hoàng Hà. Bờ biển thấp lầy
lại lạnh nên không có trai ngọc như các nước ở vùng biển
ấm phía nam như Việt Nam, Nhật. Sau này Thái thú Tô Ðịnh
cũng bắt dân xuống biển mò ngọc, dân ta thù oán theo hai
Bà Trưng nổi lên đánh giết. Bách Việt nay là Chiết Giang,
Quảng Ðông, Quảng Tây và một phần miền Bắc nước ta (Nước
Âu Lạc thời An Dương Vương). Ðồ Thư sau đó bị nghĩa quân
nước ta giết chết.
Khi Tần Thủy
Hoàng mất, con nối ngôi, là Nhị Thế Hoàng Ðế. Triệu Ðà
dẫn quân đến nước ta. Cùng với đoàn quân xâm lược, có
thêm nửa triệu dân Tàu bị lưu đày. Ðây là lần đầu tiên
trong lịch sử, người Trung quốc rầm rộ đến địa bàn
nước ta với mưu đồ Hán hóa như họ đã thành công với
Hung Nô, rợ Hồ ở phương Bắc. Nhờ đó, Trung quốc mới
có được lãnh thổ bao la và hơn một tỉ dân cư như bây
giờ. Trước đó và mãi lâu về sau, miền đất phương Nam
và cư dân ở đây họ xem như “Man di” mọi rợ, núi non
cách trở, ít có người mạo hiểm tới.
Triệu Ðà
đóng quân ở Tiên Du, Bắc Giang. Vùng núi Yên tử bây giờ.
Nếu An Kỳ Sinh có mặt trong đợt di dân này thì ở ngay đúng
vùng Yên Tử. Nhân lúc nhà Tần bị diệt, Triệu Ðà tự phong
là Nam Việt Vương. Sau đó, Ðà đánh bại An Dương Vương
của Âu Lạc. (Truyền thuyết chuyện tình bi lụy Mỵ Châu-Trọng
Thủy, thành Cổ Loa, thần Kim Quy và nỏ thần). Nước ta bị
Bắc thuộc lần thứ nhất. Triều đại này kéo dài qua đến
đời nhà Hán. Ðây cũng là thời gian quan dân người Hán với
nhiều lý do khác nhau đến nước ta. (Trong đó có Yên Kỳ
Sinh ?)
Yên Kỳ Sinh
chắc chắn là người không những giỏi về thuốc mà còn
rất giỏi phong thủy. Khi đến nước ta thấy ngọn Tử Tiêu
thì biết ngay đây là linh địa. Bởi thế cũng có truyền
thuyết, ông đem theo xương cốt của cha đến chôn ở đây,
nhưng bị sét đánh bật mồ. (Thổ địa Việt Nam không cấp
hộ khẩu cho người Hán !) Không chỉ riêng Yên Kỳ sinh, ta
còn đọc thấy trong Bắc thành địa dư chí lục. “Núi Yên
tử... Long mạch chi tả bổ xuống các núi ơ Hải dương...”.
Lại nữa, Lý Tư Thông trong Hải Nhạc Danh Sơn Ðồ đời Tống
(1049-1053), cho núi này là “một trong bốn đất phúc của
Giao Châu... Trên núi (Tiên) có chùa Hoa Yên, gọi Tử tiêu,
lại có khe Giải Oan, tên Long hàm, khéo léo thanh vắng, thật
là nơi bồng đảo của thiên nhiên...”. Lý Tư Thông ghi lại.
Tân kỳ
chóp núi nêu vài nụ
Yểu
điệu hình khe trổ một ngành
Tiên
cởi loan qua ngôi cảnh tịnh
Người
xem rồng xuống giỡn đầm xanh.
(Ban Sử Liệu
VÐH Huế dịch)
Tóm lại. Yên
Kỳ Sinh đến Yên Tử vào khoảng thế kỷ thứ ba trước tây
lịch. Ông không trường thọ để đến trễ hơn. Ngay cả
Lão Tử (Họ Lí tên Nhỉ), tổ sư của Lão giáo, theo truyền
thuyết cũng chỉ thọ 150 tuổi (điều này tin được, hiện
nay có người thọ cũng xấp xỉ tuổi này). Yên tử của Việt
Nam thật sự là một linh địa. Ðạo Sĩ và Tăng tổ tu ở
đó nhiều người đắc đạo. Có một điều lý thú cả hai
đạo sĩ cuối đời đều về đất Phật. Lão Tử cuối đời
cũng tuyệt tích, có truyền thuyết cho rằng ông về Tây phương,
đất Phật.
Bàn thêm.
Sách sử của
ta đều chép Tần Thủy Hoàng hám châu báu mà xua quân đánh
chiếm Bách Việt. Ðiều này khó chấp nhận được. Một hoàng
đế thao lược, tóm thâu thiên hạ như Tần Thủy Hoàng, bên
cạnh lại có thêm những quân sư pháp gia lừng lẫy như Hàn
Phi, Lý Tư, không lẽ xua gần một triệu quân và thứ dân
sang nước ta chỉ vì... hám ngọc. Hành động chiếm nước
ta nhất định trong kế hoạch bành trướng lãnh thổ về phía
nam đến tận vùng Ðông Nam Á. Mở đường biển giao thương
mua bán với Ân Ðộ, Ba Tư, La Mã, Hy Lạp, để trao đổi tơ
lụa rất nổi tiếng của họ.
Vào thời bấy
giờ, vì miền Bắc Trung quốc địa thế núi non hiểm trở,
sa mạc mênh mông nắng cháy lại thêm các dân tộc Hồ khống
chế nên chưa có Con Ðường Tơ Lụa để nối kết với vùng
Trung Á, Tây Á và vùng bờ đông Ðịa trung Hải. Con đường
mà ngài Huyền Trang với hành trình Tây Du thần thoại hóa
đã sang Ấn Ðộ để thỉnh kinh, dưới đời Ðường. Con
đường đã đưa Trung quốc tiếp cận các nền văn minh và
văn hóa đa dạng khác ở miền tây vực. Con đường đã đưa
Phật giáo, Thiên chúa giáo và cả Hồi giáo đến Trung Hoa.
Sau cùng là con đường đã làm giàu cho các triều đại Trung
Quốc. Con đường trọng yếu lịch sử, giao lưu đông tây
được thế giới đặt tên là “ Con Ðường Tơ Lụa” (Tơ
trù chi lữ. The Silk Road), được thành hình dưới thời Hán
Vũ Ðế, với sự đóng góp khai phá của Trương Khiêm (164-114
BC), nhà thám hiểm lừng danh và công lao hàng đầu trong lịch
sử Trung Quốc.
Thiền Sư Hiện
Quang . ?- 1221
Vầng trăng
thoáng mây che
Sau An Kỳ Sinh
với nhiều truyền thuyết thần kỳ mập mờ hư ảo, một
thiền sư Việt Nam mà cuộc đời cũng nhiều gian nan, hàm oan
trắc trở, đã đến ẩn dật ở đây, tu hành, lập chùa Vân
Yên và trở thành vị khai sơn của phái thiền Yên Tử.
Tên của sư
trong Thiền Uyển Tập Anh thì ghi là Huyền Quang, những nơi
khác thì ghi là Hiện Quang. Ðể tránh nhầm với Huyền Quang,
tổ thứ ba Trúc Lâm Yên tử sau này, nên ở đây gọi là Hiện
Quang để phân biệt.
Sư Hiện Quang
tên tục là Lê Thuần, quê ở Thăng Long. Mồ côi từ nhỏ,
nên sinh năm nào không ai biết rõ. Thời ấu thơ của sư là
những năm tháng gian khổ, đói rét và bơ vơ. Năm 11 tuổi,
sư hết sức may mắn cả đời lẫn đạo khi được Thiền
sư Thường Chiếu, là tổ thế hệ thứ 12 của thiền phái
Vô Ngôn Thông, đang tu ở chùa Lục tổ (Ðình Bản, Từ Sơn,
Bắc Việt) đem về nuôi và nhận làm đệ tử. Vô Ngôn Thông,
(759-826), người Trung Quốc quê ở Quảng Châu đến truyền
pháp tại nước ta lập nên thiền phái lấy tên người. Ngài
trầm hậu. Ít nói mà biết mọi chuyện. Im lặng mà rõ mọi
việc. Người đương thời gọi là Vô Ngôn Thông hay Bất Ngữ
Thông. (Ðời nay người như thế thật hiếm. Những người
nói nhiều mà rỗng thì... quá nhiều!)
Theo Thiền
Tuyển Tập Anh. “Sư học vấn thông tuệ, một ngày học hàng
vạn chữ, không đầy mười năm gồm thông tam học” (Tam
học: Giới, Ðịnh, Tuệ). Có điều, kinh tạng thì thông suốt,
nhưng cốt lõi của thiền môn, tuy cận kề với thầy thì
rất ít chú tâm. Sư đã bỏ mất cơ duyên, khi kịp nhận ra
thì Thiền sư Thường Chiếu đã mất. Sư lại phải khởi
đầu hành trình tìm thầy học đạo. Tự trách. “Ta đây
ví như con nhà giàu, lúc cha mẹ còn sống ăn chơi lêu lỗng,
đến khi cha mẹ chết thì mờ mịt ngu muội, không biết châu
báu trong nhà nằm ở đâu, đến nỗi cuối cùng thành nghèo
thiếu”.
Một sự việc
xẩy ra đã làm thay đổi cuộc đời tu hành của sư. Theo sử
sách còn ghi, sư là người có dung mạo đẹp đẽ lại ăn
nói dịu dàng. Ðạo hạnh của ngài được nhiều người ngưỡng
mộ. Trong đó có cả vua và hoàng tộc. Ðây âu cũng là nghiệp
chướng. Công chúa Hoa Dương, con vua Lý Anh Tôn, thường hay
đến cúng dường cho sư. Từ đó mà những lời đồn đãi
hàm hồ vô căn cứ, phỉ báng bôi xấu, thổi phồng lan tràn.
Con người,
ngàn năm trước hay vạn năm về sau vẫn thế. Vẫn tin vào
lời đồn xấu, đồn nhảm. Nhất là đối tượng là người
nổi tiếng, nổi danh, người được yêu kính. Nói tốt cho
ai thì như gió thoảng qua tai. Nói xấu về ai thì chỉ một
thoáng là loan truyền khắp xứ. Khi đã tin như thế rồi thì
dù cho có ai trưng bằng cớ hay cải chính cũng chẳng đổi
thay. Ðố kỵ, ganh ghét là cội rễ. Phải chăng vì thế Tuân
Tử từ xưa đã đúng khi cho rằng “Nhân chi sơ tính bản
ác. Con người vốn tính ác”. Ðối nghịch với “Nhân chi
sơ tính bản thiện. Tính người vốn lành” của Khổng Tử
và Mạnh Tử.
Trước sự
việc đang xẩy ra, để cầu giác ngộ, sư bỏ chùa, lìa xa
xóm làng thị tứ, đi vào tu trong vùng núi Uyên Trừng, Nghệ
An. Trước khi đi vào nơi tịnh thất, lời của sư dầu đã
hơn tám trăm năm qua, tưởng chừng như không phải nói cho
riêng ngài, mà là chân lý đúng cho cả những hành giả đang
bị hủy nhục hôm nay. “Phàm người được thế tục ngưỡng
mộ tất không tránh khỏi bị hủy nhục. Nay ta là như thế
sao? Và, con đường Bồ tát thì rộng lớn, còn Phập pháp
thì vô lượng, kẻ sĩ giữ đạo trung dung còn nhiều khi phải
buồn tẻ khóc thầm. Nếu như không dõng mãnh tự xét, dùng
sự nhẫn nhục làm giáp trụ, lấy việc tinh tấn làm khí
giới, thì làm sao tránh được ma quân, phá được phiền não,
cầu được giác ngộ vô thượng.”
Kể từ đó
sư không nhận lương thực cúng dường, mặc áo lá chân trần,
sống chay tịnh thanh đạm cùng thú rừng thuần thục. Vua Lý
Huệ Tôn rất cảm phục đời sống đạo hạnh thanh cao của
sư, nhiều lần sai sứ giả đem lễ vật đến thỉnh sư về
triều. Biết được nghiệp chướng trùng trùng nếu vướng
vào sẽ khó đường giác ngộ, sư lánh mặt và nhắn tâu với
vua. “Bần đạo sinh trên đất vua, ăn lộc vua, ở trong núi
thờ Phật trải nhiều năm, mà công đức chưa thành, rất
lấy làm thẹn. Nay nếu về thăm vua thì không những không
có ích gì cho việc trị an, mà lại bị chúng sinh bài báng...”.
Mây một lần
đã qua, thoáng che trăng sáng, rồi cũng tan nhanh theo gió núi.
Trăng lại vằng vặc soi. Chỉ một lần thôi, sư đã biết,
đã lánh được oan khiên trần tục, tiếp nối đường tu.
Mùa xuân năm
Tân Tỵ (1221). Sư tọa thiền trên phiến đá, truyền cho đệ
tử Ðạo Viên một bài thơ ngắn hai mươi chữ (Gọi là Kệ)
gói trọn chân lý đạt ngộ. Rồi an nhiên thị tịch. Có nơi
cho rằng sư mất an táng trong hang núi, không biết ở đâu.
Nhưng sử sách ghi, cuối đời ngài lập chùa Vân Yên ẩn thân
tu hành, truyền thừa cho tăng chúng, lập thiền phái tại Yên
Tử. Như vậy ngài mất tại Yên Tử là điều đáng tin.
Bàn thêm.
1. Ai
lập ra thiền phái Trúc Lâm Yên Tử?
Trong tác phẩm
nghiên cứu về Trần Nhân Tông, Giáo sư Lê mạnh Thát ghi rằng.
“ Thông Thiền, lược dẫn Thiền phái đồ coi là người
thành lập nên tông môn Trúc Lâm Yên Tử. ” Nhưng, cũng trong
cùng sách đã dẫn, một đoạn khác lại dựa vào Ðại Nam
Thiền Uyển Kế Ðăng Lược Lục của An Thiền thì lại ghi
23 thiền sư liên tục trụ trì sơn môn Yên Tử, Hiện Quang
là tổ thứ nhất, Trần Nhân Tông là tổ thứ sáu. Sau đó
là Pháp Loa và Huyền Quang.
Cần làm
sáng tỏ một vài điểm
• Thông Thiền
là đệ tử kế truyền Thiền Sư Thường Chiếu, thiền phái
Vô Ngôn Thông. Hiện Quang vào tu ở núi Yên Tử, là sư sau
cùng của phái này. Như vậy Hiện Quang mới là người tổng
hợp ba dòng thiền Tì Ni Da Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo
đường để hình thành Thiền Phái Yên tử thay thế ba dòng
thiền kia đã cùng suy tàn vào cuối thế kỷ 13.
• Vua Trần
Nhân Tông, hiệu Trúc Lâm Ðầu Ðà là vị tổ thứ sáu của
thiền phái Yên Tử. Pháp hiệu Trúc Lâm lại trùng với Trúc
Lâm Quốc sư là tôn xưng của vua Trần Thái Tông cho Ðạo
Viên,tổ thứ hai của Yên Tử ( Cũng là Viên chứng hay Phù
Vân Quốc sư). Cho nên rất dễ nhầm lẫn. Trúc Lâm Ðầu Ðà
Trần Nhân Tông mới là người được suy tôn làm Sơ tổ thiền
phái mới mang tên của ngài với chủ trương nhập thế “Cư
trần lạc đạo”. Như vậy Thông Thiền đã không phải là
người sáng lập thiền phái Yên Tử, lại càng không thể
là người sáng lập dòng Trúc Lâm Yên Tử được.
2. Vụ việc
Công chúa Hoa Dương nằm trong mưu đồ chính trị cướp ngôi
nhà Lý.
Sư Hiện quang
bị bôi nhọ vì cho rằng có tư tình với công chúa Hoa Dương
không phải là chuyện nhỏ trong phạm vi cung đình. Nó được
thổi phồng lan truyền có kế hoạch đến nỗi sử sách còn
chép lại “Tiếng đời phỉ báng nổi lên như ong”.
Nhìn lại sự
việc trong bối cảnh bi thảm những năm tại vị của vua Lý
Huệ Tông để hiểu được vấn đề. Lý Huệ Tông có vợ
là Trần Thị Dung, em gái họ của Trần Thủ Ðộ. Hai người
tư thông, năm hết quyền hành trong triều và tiến hành âm
mưu đoạt ngôi nhà Lý. Sư Hiện Quang là người có uy tín
và ảnh hưởng trong giới hoàng tộc. Từ đại chúng, công
chúa cho đến vua đều ngưỡng mộ. Ðặc biệt là Lý Huệ
Tông. Trong ý đồ chính trị, Trần Thủ Ðộ chắc hẳn muốn
loại trừ Hiện Quang. Giết đi thì không được vì sợ phản
ứng của dân chúng rất sùng đạo và quan trọng hơn là vì
thế lực của giới tăng chúng. Hay nhất là triệt hạ uy tín
của sư bằng thủ đoạn vu khống dựng chuyện Hiện quang
và Hoa Dương. Một mũi tên bắn hai chim. Triệt hạ uy tín chỗ
dựa tinh thần của vua, đồng thời kéo dân chúng về mình
lên án đạo đức của công chúa, nói chung là bêu xấu dòng
họ của vua nhà Lý.
Muốn hạ nhục
một nhà sư không gì dễ hơn là loan truyền về quan hệ tình
ái hay vợ con không rõ ràng. Thấy việc xưa mà ngẫm chuyện
trước mắt. Ngàn năm sau không khác. Nhưng sự thật, cũng
như ánh trăng và tia nắng, không thể phủ che.
Trần Thái
Tông. 1225-1258
Ngai vàng
hay sơn môn
Sau Thiền sư
Hiện Quang một vị vua của nhà Trần đã đến núi. Và, lúc
đó Yên Tử có thể đã trở thành cung điện triều đình.
Ðó là vua Trần Thái Tông, vua đầu tiên của nhà Trần và
là ông nội của Thượng hoàng Trần Nhân Tông, Ðiều Ngự
Giác Hoàng sau này.
Hãy ôn lại
một đoạn sử. (Chú thích trong ngoặc là của người viết)
Năm 1208, Vua
Lý Cao Tông cùng hoàng gia trốn khỏi kinh thành chạy giặc
Quách Bốc. Thái Tử Sam chạy đến nương náu nhà Trần Lý.
Thấy con gái của chủ nhà Trần Thị Dung xinh đẹp quá nên
cưới ngay làm vợ ( Rước nợ oan gia!). Gia đình họ Trần
chuyên nghề chài lưới giàu có, mộ quân dẹp loạn hộ tống
vua về Thăng Long. (Ơn này sẽ trả bằng ngai vàng và sinh mạng!).
Về kinh một năm thì vua mất. Thái tử Sam lên ngôi, đó là
vua Lý Huệ Tông, Trần thị Dung được phong hoàng hậu. ( Nhanh
quá. Số trời). Từ đó anh em họ Trần nắm hết quyền hành
trong triều.
Sau cùng, quyền
lực khống chế vua và quần thần thâu gọm trong tay người
anh họ Trần Thủ Ðộ. Ông cũng là nhân tình của vợ vua.
Sau cùng giết vua rồi lấy luôn hoàng hậu. Không biết chữ,
nhưng ông rất thông minh lại giỏi võ và âm mưu thâm độc
tàn ác thì trong lịch sử nước ta không ai sánh được.
Lý Huệ Tông
không có con trai (lại thêm một tai họa), có hai người con
gái cùng hoàng hậu Trần Thị Dung. Công chúa Thuận Thiên gã
cho Trần Liễu, con trưởng của Trần Thừa ( Ông này là anh
ruột của hoàng hậu. Như vậy là anh em cô cậu ruột lấy
nhau.) Người con gái thứ hai là Chiêu Thánh, được Lý Huệ
Tông yêu thương hết mực nên lập làm thái tử. ((Không có
con trai nối dõi đã là nguy, lại còn bỏ con trưởng lập
con thứ). Năm 1224, Lý Huệ Tông mang bệnh cuồng, (Bệnh
thật vì căn thẳng thần kinh hay giả điên như Tôn Tẫn để
thoát chết), bị ép buộc nhường ngôi cho Chiêu Thánh vào
tu ở chùa Chân giáo. Từ đấy quyền hành định đoạt trong
tay bà Trần Thái hậu và ông anh Trần Thủ Ðộ.
Dưới sự
sắp đặt của Trần Thủ Ðộ, Lý Chiêu Hoàng lấy con thứ
của Trần Thừa là Trần Cảnh mới 8 tuổi làm chồng. (Ông
anh ruột của Trần Thái Hậu cho hai con trai lấy hai con gái
của em ruột.) Sau đó đúng theo dự mưu của Trần Thủ Ðộ,
Lý Chiêu Hoàng nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần
Thái Tông.
Theo Ðại Việt
Sử Ký Tiền Biên, tuy đã cướp được ngôi vua, Trần Thủ
Ðộ đã từ lâu muốn giết Lý Huệ Tông mà chưa thực hiện
được. Thường ngày thấy vua ngồi xổm nhỏ cỏ trước cửa
chùa, Trần Thủ Ðộ nói câu để đời. “Nhổ cỏ thì nhổ
hết rễ”. Vua trả lời. “Ta hiểu ý ngươi rồi”. Thêm
nữa. Vua Huệ Tông, trong bộ áo nhà sư, thường lê đôi giày
cỏ, chống gậy tre thất thểu ra chơi chợ Ðông, dân chúng
tranh nhau chạy đến xem, có người thương khóc. Thủ Ðộ
sợ lòng người nhớ vua cũ sinh biến loạn ép vua treo cổ
tự tử. Xong chính thức lấy vợ vua.
Về việc này
sử thần Ngô Thì Sĩ có lời bàn. “Thủ Ðộ lập tâm nham
hiểm phải chịu tiếng ác giết vua, khiến cho nhà Trần chịu
tai họa báo ứng. Vua Thái Tông là con rể đã cướp được
ngôi lại còn giết cha vợ. (Sau này) Quý Ly cũng là con rể
cướp ngôi Trần, lại còn là cha vợ giết con rể. Sự hưng
vong như giấc mộng; việc báo ứng như vòng tròn. Ăn ở bất
nghĩa có ích gì đâu.” Và. “Nàng Thiên cực kia vốn là
đàn bà góa của nhà Lý (Vợ vua), cũng từng là em của Trần
Thủ Ðộ ở triều vua Huệ Tông. Con lợn nái sao đến nỗi
mất thể diện, con cáo đực sao lại dám vô lễ, mà lấy
ngày thầy tăng chùa Chân Giáo lên cõi Nát bàn làm ngày kiến
gia hoàng hậu hạ giá, tuy đã đổi gọi là công chúa , nhưng
vì trong họ còn là anh em gần, thật là làm trái lẽ rối
loạn đạo thường, thực không bằng loài cầm thú...”
Chưa hết.
Thủ Ðộ đã giết vua Huệ Tông, tôn thất nhà Lý nhiều người
ấm ức thất vọng. Nhằm lúc họ làm lễ tế tiên tổ ở
thôn Thái Ðường xã Hoa Lâm, Thủ Ðộ cho người ngầm đào
hố sâu, dựng nhà lên trên, giật máy cho nhà đổ, chôn sống
hết tôn thất nhà Lý. (Tưởng hết, nhưng còn!) “Trong số
con cháu còn sót lại, đặc biệt có hậu duệ của Hoàng tử
Lý Long Tường, hiện đang sinh sống tại Hàn quốc. Nguyên
vào năm 1226, sau khi nhà Trần lật đổ nhà Lý, Hoàng tử Lý
Long Tường, con thứ hai của vua Lý Anh Tông, (tức là anh của
công chúa Hoa Dương đã nhắc đến trong phần sư Hiện Quang),
em vua Lý Cao Tông, cùng thuộc hạ vượt biển chạy trốn,
bị bão đánh dạt vào lãnh thổ Cao Ly (Ðại Hàn). Tại đây
Hoàng tử có công giúp nước Cao Ly chiến thắng quân Nguyên
Mông vào năm 1253. Vua Cao Ly ưu đãi phong tước Hoa sơn tướng
quân. Hiện nay hậu duệ của Hoàng tử gồm chừng 200 gia đình
đang sinh sống tại Seoul và Youdo-dong”. (asvnonline). Gần đây
ông Lý Xương Căn, cháu đời 26 của Hoàng tử đã về Việt
nam thăm tổ tiên. (Và xuất hiện trên video Thúy Nga)
Chuyện còn
dài. Vua Trần Thái Tông được vợ, được ngôi. Nhưng, chờ
mãi mà Lý Chiêu Thánh không có con. Lúc đó Lý thị ( Tức
Công chúa Thuận Thiên, chị ruột của vợ mình) là vợ của
ông anh ruột Trần Liễu (Cha của Trần Hưng Ðạo Trần Quốc
Tuấn) đã có mang được ba tháng. Thủ Ðộ (Trăm sự do ông
này) cùng Thiên Cực công chúa (Vợ vua Huệ Tông giáng chức
xuống làm công chúa Thiên Cực) bày mưu riêng nhà vua là nên
nhận liều để có lợi về sau, vì thế mới đem Lý thị
vào ở trong cung. Trần Liễu tức giận tụ tập người nổi
loạn. (Giựt vợ đoạt con ai mà không nổi điên).
Nhà vua áy
náy không yên lòng, đêm lẻn lên núi Yên Tử vào chùa của
Phù Vân Quốc Sư (Tên gọi này không đúng. Ðây là Thiền
Sư Ðạo Viên được vua tôn xưng Trúc Lâm Quốc Sư) . Ngày
hôm sau, Thủ Ðộ đem bầy tôi đến đón xa giá về kinh. Vua
từ chối nhất định đi tu. Thủ Ðộ ra bảo với mọi người.
“ Xa giá vua ở đâu, tức là triều đình ở đấy”. Nói
rồi, liền cấm mốc chăng dây chia thành hàng ngũ trong núi,
phỏng theo kích thước cung điện ở kinh thành, bắt thợ xây
dựng (Dọa vua thôi). Quốc sư Phù Vân hoảng quá nài nỉ nhà
vua. “Bệ hạ nên sớm quay loan giá về kinh thành, không nên
để họ làm hại đến núi rừng của đệ tử này”. Vua
không nghe. Phù Vân nói. “Trong núi vốn không có Phật. Phật
chỉ ở trong tâm. Nếu thánh thượng hiểu được tâm. thì
đứng đâu là Phật ở đó”. Vua chợt ngộ ra. Bây giờ nhà
vua mới trở về kinh. (Khâm Ðịnh Việt Sử).
Bàn thêm.
• Sử gia
và nhiều người đúng, khi cho rằng Trần Thủ Ðộ đã làm
một cuộc đảo chánh không đổ máu. Thắt cổ vua và chôn
sông tôn thất nhà Lý thì đâu có đổ giọt máu nào!
• Vua Trần
Thái Tông dưới mắt sử gia Ngô Thì Sĩ. “Vua là người khoan
nhân đại độ có lượng đế vương, điển chương chế độ
rõ ràng đáng được nêu lên. Song sự xếp đặt công việc
đất nước đều do Trần Thủ Ðộ làm (Vậy người đáng
khen là Trần Thủ Ðộ). Ðạo tam cương không giữ đúng, trong
chốn phòng the còn nhiều điều hổ thẹn.” (Quá nhẹ. Chốn
phòng the thì chuyện gì mà không hổ thì... thẹn)
• Vua Thái
Tông càng về sau, ngay cả sau khi Trần Thủ Ðộ mất, trở
thành vua giỏi. Thông hiểu Phật pháp, vừa trị nước vừa
lo tu. Là tác giả của hai tác phẩm Phật học giá trị. “Thiền
tôn chỉ nam”, chỉ về tu thiền, và “Khóa hư”, nguyên
nhân khổ và diệt khổ.
Thiền sư
Pháp Loa. 1284-1330
Bồ tác,
Trượng phu.
Yên Tử đời
Lý đã có chùa, nhưng thật sự trở thành trung tâm Phật giáo
với hàng trăm công trình chùa am, tu viện là do Thượng hoàng
Trần Nhân Tông xây dựng trong thời gian tu hành và truyền
pháp ở đó. Sau khi người qua đời, người kế thừa là tổ
thứ hai Pháp Loa Ðồng Kiên Cương. Trong 19 năm tu hành, ông
tiếp tục phát triển Yên Tử và nhiều nơi khác.
Từ lúc sinh
ra cho đến khi mất, cuộc đời thường và tu trì của sư
thật may mắn suông chảy, đầy duyên lành và quyền lực.
Sinh ra đã có căn tu. Không thích thịt cá. Vừa 21 tuổi, gặp
Ðiều Ngự đang trên đường hành đạo và được nhận ngay
làm đệ tử.
Ngày mồng
một Tết năm Mậu thân, 1308, tại chùa Siêu Loại Bắc Ninh,
vào lúc tuổi đời chỉ mới 24, đã nhận tâm ấn và kinh
tạng bửu bối viết bằng máu, tự tay sơ tổ Trúc Lâm Ðầu
Ðà truyền thừa. Ðiều đặc biệt nữa chưa từng xẩy ra
trong lịch sử của thiền môn Phật giáo, là buổi lễ long
trọng này có lễ có nhạc, trước sự chứng kiến của vua
Trần Anh Tông và quan viên tăng chúng. Sự kiện này được
tường thuật đầy đủ, khắc ghi lại trên bia đá còn giữ
lại tại tháp Viên Thông, chùa Thanh Mai, Chí Linh, Hải Dương.
Hãy đọc
trích dịch một phần văn bản của bia đá.\
“...Ngày
rằm bố tát xong, (Điều ngự) đuổi tả hữu ra, đem y bát
và viết tâm kệ giao cho sư, bảo phải giữ gìn. Ngày mồng
một tháng giêng năm Mậu Thân Hưng Long thứ 16 (1308), sư vâng
lệnh làm trụ trì nối dòng pháp ở Cam Lộ đường chùa Siêu
Loại. Ðể khai đường và làm lễ trao truyền, vua cho đặt
bài vị của liệt tổ, tấu Ðại nhạc, đốt hương thơm.
Ðiều Ngự
dẫn sư lên lễ tổ đường xong. Sau khi ăn cháo, sai tấu nhạc,
đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy
giờ Anh Tông xa giá đến chùa. Sau khi đặt ngôi chủ khách
xong, vua Anh Tông vì là đại thí chủ của Phật pháp, đứng
vào ngôi khách ở pháp đường, thượng tể đem bá quan đứng
ở dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp. Giảng xong,
bèn đi xuống, đỡ sư lên tòa. Ðiều Ngự đứng đối diện
chắp tay hỏi han. Sư đáp lễ xong, nhận pháp y mặc vào. Ðiều
Ngự bèn bước sang một bên, ngồi trên giường khúc lục,
nghe sư thuyết pháp.
Ðem chùa
Siêu Loại của sơn môn Yên Tử sai sư kế thế trụ trì là
đời thứ hai của dòng Trúc Lâ m. Lại đem ngoại thư kinh
sử 100 hộp và Ðại Tạng 20 hộp nhỏ chép bằng máu chích
ra, để mở rộng việc học nội và ngoại điển...”
Với chủ trương
không phân biệt tại gia hay xuất gia, Sư được Trần Nhân
Tông đào tạo trở thành bồ tát của sơn môn và trượng
phu của thế tục. Sự nghiệp của sư với Phật giáo Việt
nam vô cùng to lớn. Sáng tác nhiều tác phẩm giá trị, in ấn
phát hành kinh sách, giảng pháp truyền đạo. Ðặc biệt là
việc xây dựng những chùa am thiền tự nổi tiếng như Côn
Sơn, Thanh Mai Sơn, Quỳnh Lâm, Hồ thiên. Ðào tạo hàng ngàn
tăng đồ. Theo sư có đến 15 ngàn đệ tử.
Trước tình
trạng lạm dụng nơi chùa chiền để trốn thuế, trốn lao
động, Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo đã
thực hiện được việc kiểm tra và lập sổ bộ tăng chúng
để quản lý. Vì thế Sư là một người rất có uy quyền
và được vua sùng kính.
Sử thần Ngô
Thì Sĩ có lời bàn. “Pháp Loa trong khoảng niên hiệu Hưng
Long thường tâu xin giảm số độ thầy tu, từ chối sự ban
cấp cho phu chèo thuyền, khước bỏ những của bố thí như
ruộng đất, vàng, bạc của các vương tôn quý chủ, giữ
luật răn mình rất nghiêm, giữ đức hạnh rất cao, giác ngộ
chân lý rất nhanh, hết thảy những vinh hoa, lợi dục, chung
đỉnh, thiết việt không một vật gì có thể lay chuyển được.
Cho nên xử những việc lớn vẫn điềm nhiên, pháp luật trong
đời không ràng buộc được, người đời không ai không tôn
trọng đạo của ông, tin tấm lòng của ông.”
Năm 1330, ngày
mùng 5 tháng 2, Sư phát bệnh trong hội giảng kinh Hoa Nghiêm
tại An Lạc tàng viện. Ðến ngày mùng 1 tháng 3 , Thượng
hoàng Trần Minh Tông đích thân đến thăm và cho Thái y của
triều đình chạy chữa. Lúc lâm chung, có sư Huyền Quang cận
kề hỏi pháp. Khi sắp viên tịch, đệ tử cùng đến và hỏi.
“Người xưa lúc sắp tịch đều có để kệ dạy cho đệ
tử, riêng thầy sao không có?” Sư ngồi dậy viết bài kệ
rồi ném bút, an nhiên thị tịch. Lúc đó sư mới 47 tuổi.
Vua Trần Minh Tông tặng mười lượng vàng xây tháp để nhục
thân ở Thanh Mai Sơn.
So với đại
lễ truyền thừa cho Pháp Loa do Ðiều Ngự tổ chức rất long
trọng, thì rõ ràng hành động của Pháp Loa lúc sắp qua đời
ở đây quá mập mờ. Với một người giỏi cả việc đạo,
thạo việc đời như Pháp Loa, đây không thể là sự sơ suất
thiếu chuẩn bị mà phải chăng đó là ý định của ngài?
Phải chăng lúc Pháp Loa mất thì Huyền Quang cũng đã quá già
yếu cận kề tuổi 80 và 4 năm sau thì cũng viên tịch.
Chính vì sự
mập mờ này mà về sau có giả thuyết cho rằng Huyền Quang
chỉ được tổ Pháp Loa truyền pháp chứ không được truyền
tông kế thừa ngôi tổ. Tổ thứ ba phải là Thiền sư Kim
Sơn, một thiền sư thông tuệ, tác giả nhiều kinh sách, trong
đó cuốn sử thiền nổi tiếng Thiền Uyển Tập Anh có người
cũng cho là của Kim Sơn. Tin như thế vì sư Kim Sơn được
vua Trần Minh Tông rất kính phục và trong thư gửi cho sư lúc
vua lâm bệnh đã gọi sư Kim Sơn là Tam Ðại Thiền Tổ, thiền
tổ thứ ba.
Huyền Quang.
1254-1334
Thi sĩ thiền
sư, mặc áo Bụt ở với ma
• Ai là
Tổ thứ ba kế thừa Pháp Loa
Thiền sư Huyền
Quang cận kề, hỏi pháp bên giường bệnh của Pháp Loa trước
giờ lâm chung. Nhưng Pháp Loa có truyền y bát truyền thừa
rõ ràng để trở thành Tổ thứ ba của Trúc Lâm Yên Tử,
như đã được viết trong Việt Nam Phật Giáo Sử Lược của
Thích Mật Thể, lại là một câu hỏi. Một vài điểm cần
được giải thích
-Vua Trần Anh
Tông rất kính trọng và có mối liên hệ rất tốt với Pháp
Loa tuy rằng sư còn trẻ. Với Huyền Quang lại không được
như vậy. Bằng chứng là đã cho cung nữ tín cẩn dụ dỗ
Huyền Quang để thử thách về đạo hạnh lúc sư đã ở tu
trong núi và đã 60 tuổi (sẽ nói rõ sau).
-Vua Anh Tông
là người chủ trì việc trao y bát cho Pháp Loa tự tay vua cha,
Sơ tổ Ðiều Ngự Giác Hoàng, để trở thành tổ thứ hai.
Anh Tông chắc chắn sẽ rất lưu tâm về việc chọn tổ thứ
ba. Nhưng khi sắp chết, Anh Tông không chịu gặp Pháp Loa. Lý
do gì? Bất đồng về việc chọn người kế truyền chăng?
-Vua Trần Minh
Tông, kế vị vua cha Trần Anh Tông, giữ mối liên hệ với
Pháp Loa còn tốt hơn. Bằng chứng đã đến thăm, cho thái
y chạy chữa khi Pháp Loa bệnh nặng sắp mất. Sau khi chết
lại cấp vàng xây mộ tháp. Lần gặp sau cùng này, với trách
nhiệm đối với đất nước, với đạo pháp và nhất là
với sơ tổ Trần Nhân Tông, vua không thể không hỏi Pháp
Loa về người truyền thừa ngôi tổ. Nếu tổ thứ ba Pháp
Loa chọn là Huyền Quang, thì sao không công khai truyền y bát.
Lại nữa, nếu đã rõ ràng như vậy thì lúc sắp chết vua
Trần Minh Tông đã không gọi sư Kim Sơn là Trúc Lâm Thiền
Tổ Thứ Ba (Trúc Lâm Tam Ðại Thiền Tổ)
Sở dĩ có
sự rối rắm thắc mắc, suy diễn này chỉ vì bản Tổ Gia
Thực Lục, sách ghi rõ tiểu sử của ba vị tổ của Trúc
Lâm đã bị lấy mất.
Thử đọc
lại đoạn sử ly kỳ liên quan đến quyển sách này. Nhà Minh
lúc sang đánh chiếm Việt Nam vào năm 1407-1428, vơ vét sách
vở và tất cả đồ quý đem về Kim Lăng, trong số đó có
bản Tổ Gia Thực Lục. Vị thượng thư nhà Minh là Hoàng Phúc,
khoảng 1426-1435, là người nhận sách và giữ sách. Trong suốt
thời gian giữ sách trong nhà, ông thường mơ thấy sư Huyền
Quang hiện ra đòi ông đem trả sách về cho Việt Nam. Chưa
có cách nào trả lui, ông cho làm chùa ở làng mình lấy tên
là Chùa An Nam, Thiền sư Huyền Quang, để phụng thờ. Chùa
rất linh ứng khi con cháu cầu đảo. Ðến khoảng năm 1522-1558,
tức là hơn một trăm năm sau, Tô Xuyên Hầu Lê Quang Bí, triều
Lê, đi sứ sang Tàu. Ðến năm 1569, mười chín năm sau, mới
trở về nước. Cháu bốn đời của Hoàng Phúc là Hoàng Thừa
Tổ lại nằm mơ thấy sư nhắc chuyện trả sách đúng theo
lời tổ phụ lưu truyền. Hoàng Thừa Tổ tìm đến tiễn sứ
và trả sách Tổ Gia Thực Lục để sứ đem về.
Trong sách này
trang cuối ghi rõ. Huyền Quang được phong là “Trúc Lâm thiền
sư đệ tam đại, đặc phong tự pháp Huyền Quang tôn giả”.
Căn cứ trên Tổ Gia Thực Lục, vào thế kỷ 18 Ngô Thời Nhiệm
đã viết nên tác phẩm “Tam Tổ Thực Lục”. Từ đó chính
thức thừa nhận ba tổ của Trúc Lâm Thiền phái là Ðiều
Ngự Trần Nhân Tông, Pháp Loa và Huyền Quang. Bản thân Ngô
Thời Nhiệm, một trí thức hàng đầu, một sử gia lừng lẫy
của Việt Nam theo giúp vua Quang Trung, cuối đời cũng vào Trúc
Lâm tu học, lấy pháp danh là Hải Lượng. Tự xưng là “Trúc
Lâm đệ tứ tôn”.
• Theo bước
Nhân Tông
Sư tên là
Lý Ðạo Tải, cha thuộc dòng dõi quan liêu. Khác với Hiện
Quang và Pháp Loa dung mạo tuấn tú, Huyền Quang hình dung kỳ
dị (nói gọn là xấu trai) nhưng rất đỗi thông minh. Mới
21 tuổi đã thi đậu trạng nguyên. Ðược bổ làm quan ở
Hàn Lâm Viện và đi sứ Trung Hoa. Có nơi thì nói là tiếp
sứ. Ông nổi tiếng về tài văn thơ khi ứng xử nên được
nể phục. Không những những người giàu sang, thượng quan
triều đình đòi gả con, mà An sinh Vương (Thân sinh của Hưng
Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn) cũng đòi gã cháu là công chúa
Liễu Nữ. Ông từ chối nhất định sống độc thân.
Một hôm theo
vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm nghe Thiền sư Pháp
Loa thuyết pháp, ông giác ngộ. Từ quan xuất gia theo hầu Ðiều
Ngự và Pháp Loa với pháp hiệu Huyền Quang do chính thượng
hoàng đặt cho. Kể từ đó cho đến khi Ðiều Ngự mất, ba
thấy trò cùng nhau đi khắp nơi để truyền pháp cho đại
chúng..
Lúc gặp Pháp
Loa, ông bước qua tuổi năm mươi. Tuổi để biết trời cho
được gì. Ngũ thập tri thiên mệnh. Với Pháp Loa, so về tuổi
tác ông vào hàng cha chú. Về học vấn, văn thơ thế tục
thì cũng vượt xa. Sau cùng về từng trải và kinh nghiệm đời
thì khỏi cần nói đến. Thế mà chỉ nghe Pháp Loa giảng kinh
bỗng tỉnh thức bước theo con đường tìm giác ngộ. Pháp
Loa quả thật là một thiền sư xuất chúng. (Thời nay nay không
ít các thầy thuyết pháp tràng giang. Người nghe không biết
thầy đang nói gì đã đành, mà thầy cũng không biết mình
đang nói chuyện chi. Sư đã để quên đồng hồ!)
Sư mất tại
Côn sơn ngày 23 tháng Giêng năm Giáp Tuất. Thọ 80 tuổi.
• Mặc
áo Bụt ở với ma
Sử thần Ngô
Thời Sĩ nhận xét về Huyền Quang. “ Cuộc đời của sư
đạm bạc giản dị đơn sơ”. Khi trú trì ờ chùa Hoa Yên
kế tục Pháp Loa, hàng nghìn tăng ni theo học. Ngoài việc in
kinh, lập chùa, sư nổi tiếng nhân đức vì việc làm bố
thí. Từ thượng quan đến cùng đinh dân dã đều ngưỡng
mộ đạo hạnh của sư. Không ai nghi ngờ. Trừ một: Trần
Anh Tông.
Nếu những
việc khác trong sự nghiệp trị nước, vua được cho là sáng
(minh) nên được liệt vào hàng minh quân. Nhưng trong nhiều
việc làm khác, đặc biệt cho cung phi vào núi dụ dỗ để
thử Huyền Quang lúc sư đã 60 tuổi thì rõ ràng ông có hành
động ấu trĩ nông nổi của một u (tối) quân. Một dạng
thức bệnh tâm lý.
Về nhà Trần,
các nhà sử học cho rằng, một trong những điều rất hay
là chế độ vua cha nhường ngôi cho con, lui về làm thượng
hoàng. Như vậy vua trẻ có thời gian thực tập công việc
trị nước dưới sự cố vấn, giám sát và giáo dục nghiêm
khắc của vua cha. Nếu không có việc này thì có lẽ nhà Trần
đã nhiều phen mất ngôi. Một trong những ví dụ là trường
hợp Trần Anh Tông.
Lúc đã lên
ngôi, là vua lãnh đạo nước, Trần Anh Tông vẫn còn nhiều
thói hư và việc làm bất xứng.
Việc thứ
nhất. Ðêm đêm cùng đám hầu cận, vua lẻn khỏi cung điện
đi chơi la cà cho tới sáng. Có hôm bị côn đồ ném đá lũng
đầu chảy máu. Nhờ đám lính hô lên “Nhà vua đấy!”,
côn đồ bỏ chạy. Thoát nạn, vua mang đầu máu về cung. Thượng
hoàng thấy hỏi... lắc đầu chặt lưỡi.
Việc thứ
hai. Thượng Hoàng ở phủ Thiên Trường về cung để “kiểm
tra bất thần”, không thấy vua con ra nghênh đón. Chờ đến
bữa cơm dọn ra, vua cũng biệt tăm. Hỏi ra mới biết vua uống
rượu quá say ngủ mê mệt, đánh thức cũng không tỉnh lại
được. Thượng hoàng giận lắm quay về đã muốn phế bỏ,
cho lệnh các quan hôm sau đến “trình diện”. Khi tỉnh rượu
nghe nói, vua bủn rủn tay chân, không kịp đem theo quân hầu,
vừa đi vừa chạy đến lạy cha xin tạ tội. Trên đường
đi, bối rối suy nghĩ chưa biết phải ăn nói giải thích làm
sao với thượng hoàng thì gặp học sinh thất nghiệp Ðoàn
Nhử Hài đang đi lất phất. Vua nói qua chuyện mình (Buồn
ngủ gặp chiếu manh.). Nhử Hài phóng bút viết lời trần
tình. Vua cho đi theo và đẩy đi trước đến quỳ gối đội
đầu dâng sớ. Thượng hoàng không tiếp. Trời bỗng mưa to
gió lớn, Nhử Hài đánh nước lỳ, tiếp tục quỳ. (Chịu
khó một buổi mà vinh quang cả đời).
Thượng Hoàng
vốn là Phật sống, động lòng phải tiếp đọc. Ðọc tờ
biểu xong hết giận. Gọi vua vào quở trách và hỏi tác giả
của bài văn. Vua thành thật khai báo. Thượng hoàng biết Nhử
Hài là kẻ có tài, từ đó trọng dụng. Vua thoát tội bị
phế truất. Phong ngay cho vị cứu tinh non choẹt mới 20 tuổi,
miệng còn hơi sữa, làm Ngự Sử Trung Tán và từ đó trở
thành một cận thần thân tín và đảm nhận nhiều trọng
trách, rạng rỡ lưu danh . Vua ăn năn và thề bỏ rượu. (Miệng
còn hôi sữa là chữ do các quan trong triều nhạo báng Nhử
Hài. Lấy theo câu, Khẩu tồn nhũ xứ, mà vua Hán Cao Tổ chê
Bá Trực, tướng của Ngụy là trẻ con)
Việc thứ
ba. Tổ tiên nhà Trần vốn là người Phúc kiến Trung quốc,
sang Việt Nam chuyên nghề đánh cá. Vì thế có cổ tục xâm
mình. Tục này xưa thì rất phổ biến trong nhân gian sau này
không còn, chỉ còn lưu truyền trong dòng dõi hoàng tộc nhà
Trần. Tất cả vua kế nghiệp đều xâm hình rồng trên bắp
đùi. Hôm Thượng Hoàng đến để chứng kiến việc này thì
vua Trần Anh Tông né đi chỗ khác. Thượng Hoàng biết ý lờ
luôn. (Hay Thượng hoàng đã muốn dẹp từ lâu mà chưa có
cớ). Kể từ đó tục này được bãi bỏ.
Chính sử sau
này ca tụng vua Trần Anh Tôn đã có một hành động cách mạng
cải cách hủ tục. Nhưng nên coi lại. Vua vốn ham đi chơi
đêm bên ngoài nên giấu giếm tông tích cho dễ bề trác táng.
Có lần đã bị ném đá bể đầu may chúng biết là vua nếu
không thì đã vỡ sọ. Bằng lòng cho xâm hình rồng trên bắp
đùi thì chốn ăn chơi khi trần truồng làm thế nào che dấu
tông tích mình là vua. Vì thế Trần Anh Tông phải né cũng
là điều dễ hiểu. (Bao nhiêu anh hùng và hành động anh hùng
có khi cũng chỉ là... “Chó ngáp trúng ruồi!”)
Việc thứ
tư. Trần Anh Tông dự phần trong việc làm cho Phật giáo thời
cuối Trần đi lệch con đường chính đạo để nhuốm nhiều
yếu tố mê tín dị đoan. Anh Tông cho phép đạo sĩ Tồn Ðạo
từ Trung Quốc đến lưu trú và hành nghề phù thuật. Phù
thủy, phù chú, cầu đảo... bắt đầu từ đây.
Lại nữa.
Một tăng sĩ Lạt Ma Giáo người Hồ (Tây tạng?) tên là Du
Chi Bà Lam với nhiều phép thuật đã đến và phổ biến bùa
chú huyền bí mê tín. Áp dụng lệch lạc mật tông. Ông được
vua Trần Anh Tông ưu đãi. Ở lại Thăng Long và chết tại
đây. Tại sao ông được nâng đỡ như vậy? Ðơn giản. Vua
thấy con gái của ông thầy Tây tạng này là Da La Thanh đẹp
nên sung vào hậu cung! (Hứa vói Thượng hoàng bỏ rượu,
tửu. Ðâu có hứa bỏ gái đẹp, sắc.)
Việc tệ nhất.
Sai cung nữ thị Bích vào chùa trong núi sâu Yên Tử dụ dỗ
ngài Huyền Quang.
Trần Anh Tông
là một vị vua giỏi. Nhưng từ thuở trẻ đã ham mê tửu
(sau này đã bỏ) nhưng ham mê sắc dục thì đến chết chắc
cũng không chừa. Thấy một Huyền Quang, lúc trẻ có tài có
chức trọng, lại một mực khước từ xa lánh mọi quyến
rũ của nữ giới, kể cả công chúa, vào chùa đi tu. Khó tin
được. Chẳng qua là chưa gặp người gặp cảnh. Huyền Quang
hay Anh Tông đều là chúng sinh như nhau. Phải đánh đổ thần
tượng để cho mình không còn mặc cảm Bụt và ma.
Trần Anh Tông
ban cho Huyền Quang vàng có dấu ấn. Sai thị Bích vào chùa
tu để quyến rũ sư cụ Huyền Quang lúc này đã 60 tuổi (quá
tội lỗi) để lấy vàng này đem về. Thị Bích thấy ngài
đạo hạnh trang nghiêm tôn kính không thi hành mưu kế được.
Về tay không thì đắc tội với vua. Thị Bích khóc lóc kể
lể gia cảnh lâm nguy. Cha là tri huyện thâu thuế bị cướp
nếu không bù lại sẽ bị hành tội. Nghe lời bàn của tăng
ni, sư đem cho vàng. Thị Bích đem về khoe với vua đã thành
công mỹ nhân kế. Nhưng Anh Tông sau giây phút nông nỗi đã
hối hận. Khi mọi việc sáng tỏ, vua mở hội mời sư về
làm lễ và tạ tội.
Thiền sư Hiện
quang trước đây vì bị nghi oan phải vào núi tu. Huyền Quang
đang tu trong núi, vua và thị Bích mưu đem oan tới, Sư chạy
đi đâu?
Sư chưa hề
biện bạch, như lời thơ của sư viết. “Tay cầm dùi mõ
tay nâng sáo. Thiên hạ cười ta cứ mặc tình. Thủ bả suy
thương hòa thái thác. Ðồ gia nhân tiếu lão tăng mang”. Nhưng
mãi gần năm trăm sau, năm Tân Mùi (1751), dưới triều Lê,
chánh tiến sĩ đốc trấn Ngô Thì Sĩ, nhà trí thức, người
viết và phân tích sử sắc bén, đã soạn lời giải thay cho
sư mang tựa đề “Huyền Quang hành giải”. Xin trích một
vài luận cứ ngắn.
“Việc
làm ra mà mọi người giống nhau, nếu có người khác liền
nghi. Còn lời nói ra mà mọi người không giống nhau, nếu
có người chủ trì thì tin”.
“ Nay tôi
sống cách xa sư không biết mấy trăm năm. Nghĩ đến việc
giải quyết những nghi ngờ do miệng ngoa truyền của thế
tục há không thể đem gia phổ, thi ca của sư để làm công
án ư?” . “Khí chất núi rừng khói ráng thể hiện trong
ngôn từ. Con người đạm bạc giản dị đơn sơ, tưởng cũng
có thể thấy được. Thì đâu có cái chuyện nói năng không
gốc gác như thế tục ngoa truyền?” “Sự việc của sư
đã rõ ràng, thì chuyện mâm tỏi thành đồ chay trở nên vớ
vẩn. Nhà vắng đem ra mà xét lại, thì có thể nói rằng:
vua Trần nhiều lần sai thử sư mà sư không thể phạm...”
• Thi sĩ-thiền
sĩ Huyền Quang
Ðọc tiểu
sử các thiền sư, riêng Huyền Quang sao gần gũi và thân tình.
Trước mắt như thấy một thiền sư già chậm, chống gậy
trúc với nụ cười chân chỉ thật thà. Một hình ảnh rất
siêu thoát mà lại cũng rất dễ thương. Thú vị khi đọc
thơ của sư. Quả thật “Khí chất núi rừng khói ráng thể
hiện trong văn từ”.
Thiền sư Mãn
Giác đời Lý nổi tiếng với bài thơ thiền mà bao nhiều
người thuộc, ít nhất là hai câu cuối. “Ðừng tưởng xuân
tàn hoa rụng hết. Ðêm qua sân trước một nhành mai” ( Mạc
vị xuân tàn hoa lạc tận. Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai).
Thật ra Mãn Giác, một thiền sư đọc bài kệ này khi lâm
bệnh trước khi mất để truyền pháp cho đệ tử. Sư Mãn
Giác không làm một bài thơ, không là thi sĩ. Nhưng bài kệ
có cả thiền vị và thi vị nên được yêu thích như một
bài thơ thiền tuyệt hay. Vậy thì Thiền sư và thi sĩ trong
phút giây xuất thần sáng tạo, tuy mức độ có khác, chừng
mực nào đó có điểm tương cận chăng? (Ðây là nói thi sĩ
thứ thiệt. sáng tạo thơ chứ không phải làm thơ bằng cách
ghép chữ ép vần cho đủ bài).
Thiền sư Huyền
Quang thì ngược lại, sư làm thơ như là một thi sĩ, nhưng
nhiều bài lại mang thiền tính của một bài kệ. Cho nên gọi
Huyền Quang (hay Tuệ Sĩ bây giờ) là thi sĩ-thiền sư hay thiền
sư-thi sĩ đều được. Sư làm rất nhiều thơ, nhất là giai
đoạn tu trên Yên Tử. Những bài trích đăng sau đây do Nhất
Hạnh dịch.
Am Yên
Tử
Yên Tử Sơn am cư
Am cao trên
đỉnh lạnh Am
bức thanh tiêu lãnh
Cửa mở mây
từng không Môn khai vân thượng tằng
Long Ðộng
trời đã tỏ
Dĩ can Long động nhật
Hồ Khuê nước
còn băng Do xích Hồ khuê băng
Văn chương
không kế sách Bão chuyết vô dư sách
Gậy chống
thân gầy còm Phù suy hữu sấu đằng
Hầu hết
chim rừng Trúc Trúc Lâm đa trúc
điểu
Là bạn của
nhàn tăng Quá
bán bạn nhàn tăng
Ngủ trưa
Ngọ thụy
Mưa tạnh khe
núi tĩnh
Vũ quá khê sơn tịnh
Ngủ mát dưới
rừng phong Phong lâm nhất mộng lương
Nhìn lại
cõi nhân thế
Phản quan trần thế giới
Mắt mở vẫn
say nồng
Khai nhãn túy mang mang
Hỏa Lò
Ðịa lô tức sự
Củi hết,
lò còn vương khói nhẹ
Ôi dư cốt đột tuyệt phần hương
Sơn đồng
hỏi nghĩa một chương kinh Khẩu đáp sơn đồng vấn
đoản chương
Tay cầm dùi
mõ, tay nâng sáo
Thủ bả suy thương hòa thái thác
Thiên hạ
cười ta, cứ mặc tình.
Ðồ giao nhân tiếu lão tăng mang
Thơ về hoa
cúc của Thiền sư Huyền Quang phải được kể là một trong
những bài thơ hay của thi ca Việt Nam. Nhiều ý thơ và hình
ảnh được tìm thấy trong thơ bây giờ. Thơ dài nên
chỉ trích đoạn.
Hoa Cúc
Cúc Hoa
...
Buông thân
buông thế, thảy đều buông Vương thân vương thế dĩ
đô vương
Thiền tọa
giờ lâu lạnh thấm giường
Tọa cửu tiêu nhiên nhất tháp lương
Trong núi năm
tàn không có lịch
Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật
Thấy hoa cúc
nở biết Trùng dương Cúc hoa
khai xứ tức Trùng dương
Năm năm nở
đúng tiết Thu qua
Niên niên hòa lộ hướng thu khai
Gió dịu trăng
trong ý mặn mà
Nguyệt đạm phong quang thiếp thốn hoài
Cười kẻ
không hay hoa huyền diệu Kham tiếu
bất minh hoa diệu xứ
Khi về, mái
tóc giắt đầy hoa
Mãn đầu tùy đáo tháp quy lai
Người ở
trên lầu hoa dưới sân
Hoa tại trung đình nhân tại lâu
Vô ưu ngồi
ngắm, khói trầm xông
Phấn hương độc tọa tự vong ưu
Hồn nhiên
người với hoa là một
Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh
Giữa vùng
hương sắc lộ hình dung
Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu
...
....
Kết.
Yên Tử chỉ
đến một ngày mà suy tư vương vấn mãi đến nhiều tháng
sau. Lật trang sử xưa, lồng lộng đất nước huy hoàng ngày
tháng cũ. Nhìn cảnh điều tàn hoang phế hay lố lăng diêm
dúa của chùa lăng, tôn miếu, không phải ở đây mà cả nhiều
nơi đã đi qua trên miền bắc, khó ngăn được luyến tiếc
bùi ngùi hồn thu thảo.
Yên Tử
là dấu tích của hai triều đại Lý Trần.
Lý ,Trần,
với những vị vua Phật Tử, dựa trên Bi Trí Dũng của Phật
Giáo cùng với Nhân Trí Dũng của Nho Giáo, xây dựng những
triều đại huy hoàng nhất trong lịch sử dân tộc. Giáo sư
Trần Quốc Vượng trong tác phẩm “Trong Cõi”, (được phổ
biến rất hạn chế ở hải ngọai và bị cấm ở trong nước),
cho rằng. “Các vua đầu triều Lý hay Trần là những vua thân
dân, gần gũi và thông cảm với dân chúng”. Thêm nữa. “
Thời Lý Trần, đường lối tư tưởng chung của vua chúa triều
đình là dung hợp, điều hòa và dung hòa Tam Giáo, Phật Nho
Ðạo”
Hầu hết các
vua hai triều là những minh quân, làm cho tổ quốc hùng mạnh,
phát triển rực rỡ về cả văn hóa, nghệ thuật, pháp chế,
pháp luật. Nhân dân no ấm hạnh phúc. Và quý nhất là xã
hội ổn định, hòa hợp. Thời gian thịnh trị kéo dài mấy
trăm năm. Không phải một sớm một chiều. Cũng theo Giáo sư
Trần Quốc Vượng. “Sang thời Lê rồi thời Nguyễn, triều
đình vua chúa trở nên độc tài hơn về mặt tư tưởng, (dưới
chế độ cộng sản thì lại quá tệ), chỉ muốn độc tôn
Nho học, lấy Nho học làm tư tưởng chính thống. Thì quả
thật từ đấy trong nước hiện ra cảnh lưỡng phân văn hóa,
hiện ra hai trào lưu tư tưởng; tư tưởng khai phóng (Tam Giáo),và
tư tưởng bế quan (Tống Nho).”
Bên cạnh sự
nghiệp đó, cũng có nhiều điều tiêu cực mà các người
viết sử, Nho gia, đặc biệt là Trương Hán Siêu, Nguyễn Trung
Ngạn, Ngô Thì Sĩ, Ngô thì Nhậm, Ngô Sĩ Liên...có lời phê
phán rất nghiêm khắc.
Nhiều phán
xét có luận cứ và rất đúng. Tuy nhiên nếu cho rằng vì
quá lạm dụng Phật giáo mà suy vong thì cần xét lại. Các
triều đại, hay nói chung mọi việc, hễ có bắt đầu thì
có chấm dứt. Ðây là lý vô thường trong quan niệm Phật
giáo. Và Lão Tử với “Luật phản phục” cũng cho rằng,
trong vũ trụ vật gì phát đến cực điểm thì phản lại,
Có tăng tất có tổn. Trăng tròn lại khuyết. Xuân tàn, Hạ
đến, Thu lại, Ðông qua. Tần Thủy Hoàng lấy pháp trị dân,
độc ác vô nhân, cũng chỉ tồn tại hơn mười năm. Hàng
ngàn triều đại Ðông Tây kim cổ, có triều đại nào bất
diệt với thời gian!
Chiến
tranh đã qua đi hơn ba mươi năm. Ðất nước không còn phân
cách lãnh thổ mà lòng người Việt từ trong nước cho đến
khắp nơi còn quá nhiều ngăn cách và hận thù. Gạt qua lớp
bụi mù ảo tưởng phồn hoa thành thị, chốn làng quê đến
nay muôn thuở vẫn nghèo, vẫn thiếu hụt trăm bề. Quê nhà
quanh năm thiên tai khốn đốn mà “nhân tai” lại quá ê chề.
Ðứng trên
đỉnh cao Yên Tử trong sương chiều mây núi lãng đãng, nghe
vang vọng. “Trần Nhân Tông. Tổ quốc cần ngài.”
Tham khảo
và Trích dẫn
-Khâm Ðịnh
Việt Sử Thông Giám Cương Mục
Viện Sử
Học dịch. Hà nội 1998
-Ðại Việt
Sử Lược. Khuyết danh
Nguyễn
Gia Tường dịch. Tp HCM 1993
-Việt Sử
Tiêu Án. Ngô Thời Sĩ
Văn Hóa
Á Châu dịch. Saigon 1960
-Sử Trung
Quốc.
Nguyễn
Hiến Lê. Tp HCM 2006
-Sử Ký
Tư Mã Thiên
Nguyễn
Hiến Lê và Giản Chi dịch. Saigon 1968
-Việt Nam
Phật Giáo Sử Lược.
Thích Mật
Thể Nhà XB Tôn giáo tái bản 2004
-Việt Nam
Phật Giáo Sử Luận.
Nguyễn
Lang. Văn Học Hà Nội 1979
-VuaTrần
Nhân Tông. Cuộc đời, tác phẫm, sự nghiệp.
Lê Mạnh
Thác. Học viện PGVN-Kỷ Mão
-Thiền
Uyển Tập Anh. Kim Son.
Lê Mạnh
Thác dịch. VĐH Vạn Hạnh 1976
-An Nam Chí
Lược. Lê Tắc.
Viện ĐH
Huế dịch và XB 1961
-Đại Việt
Sử Ký Tiền Biên. Ngô Thời Nhậm
Viện NC
Hán Nôm. KHXH Hà Nội 1997
-Trong Cõi.
Trần Quốc Vượng
Trăm Hoa.
Hoa kỳ 1999
-Con Đường
Tơ Lụa. Xa Mộ Kỳ.
Nguyễn
Phổ dịch. NXB Trẻ 1999
-Trang Mạng:
Thiền Tông Việt Nam. Thư Viện Hoa Sen.
ACSN.online.
Footprintsvietnam.com
Xem thêm:
Yên
Tử, nẻo về tâm - Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm
Khám
phá kho báu bị bỏ quên của danh sơn Yên Tử (VieTimes)
12-08-2007 12:23:46