YÊN TỬ, NẺO VỀ
TÂM
Ninh Hạ -
Nguyễn Đức Tâm
Ngàn vạn dậm tìm
về Yên tử
Từ Hà nội
theo hướng đông bắc. Qua Hòn Gay, Uông Bí. Phố quán
bụi đen than mỏ. Lần theo đường Mỏ Vàng Danh. Qua chín suối
mười đèo. Chín khúc quanh của suối Giải oan chảy băng
qua đường đi. Mười dốc đường đi qua khe núi hẹp. Mùa
hạ suối nước không sâu, chảy róc rách theo lối đi. Tiếng
suối, tiếng chim, tiếng xào xạc của cây rừng dẫn đường
đến chùa Lân không xa chân núi Yên tử.
Từ
nền cũ của ngôi chùa xưa, nay là Thiền viện Trúc Lâm quy
mô hoành tráng, trên lưng núi cao lồng lộng, nhìn về hướng
đông nam, Hà nội cách xa 115 cây số. Với tôi, nhìn về bên
kia Thái Bình Dương thì đã ngàn vạn dậm. Sau khi lễ Phật,
báiTăng Tổ, lần theo bực cấp dốc dài xuống núi, khởi
đầu hành trình chiêm bái vùng địa linh đất tổ.
Nơi, hơn bảy
trăm năm trước, nhà vua lỗi lạc Trần Nhân Tông (1279-1293),
sau 14 năm tại vị và 5 năm làm Thái Thượng Hoàng, truyền
ngôi cho con, Trần Anh Tông (1293-1314), đến tu hành 8 năm, đắc
đạo, hoàng pháp và thị tịch. Nơi cội nguồn của thiền
phái hồn tộcViệt. Nơi ba nhánh thiền tông Việt nam, Tì ni
đa Lưu chi (Vinitaruci), Vô Ngôn Thông, Thảo Ðường hợp chung
thành một dòng: Thiền Trúc Lâm Yên Tử mà Sơ Tổ là Trúc
Lâm Ðầu Ðà, Ðiều Ngự Giác Hoàng. Từ đó, Yên Tử Việt
Nam với Trần Nhân Tông, núi Linh Thứu Ấn Ðộ với Ðại
Ca Diếp và núi Tung Sơn Trung Quốc với Tổ Bồ đề Ðạt
Ma, là ba núi thiêng mạch nguồn Thiền tông Phật Giáo.
Từ chân núi
cho đến đỉnh cao, khách hành hương vất vả theo bước thiền
hành của chư tổ. Thăm chùa cũ am xưa. Nhớ về những thánh
nhân, tăng tổ, vua quan, dân dã đã ở đây, ghé qua đây hay
đang yên nghỉ trong lòng những mộ tháp bao năm hưng phế.
Lại nghĩ về hai triều Lý, Trần. Ðặc biệt hai nhà vua lừng
lẫy. Lý Thái Tổ, Trần Nhân Tông. Một người từ bỏ chốn
thiền môn thanh đạm, bước vào triều đình xây nghiệp lớn
và tại vị cho đến cuối đời. Một người từ ngôi cao
hiển hách, quyền uy bậc nhất. Ðánh bại xâm lược Nguyên,
Mông, giữ nước oai dũng lạ thường, rũ bỏ quyền lực và
phú quý cung đình, bước vào chốn thiền môn, sơn cao núi
thẫm, quyết chí tu trì độ chúng sinh.
Chùa cũ. Am xưa.
Lên Yên Tử,
khách hành hương hay vãn cảnh ngày nay có thể lựa chọn lộ
trình tùy theo sức khỏe, lòng tin Phật và vọng Tổ. Nói như
vậy, vì tôi vốn có sức khỏe, cũng đã đi nhiều nơi thăm
nhiều chỗ. Thế nhưng trên ngọn Yên tử này, trèo chưa tới
đỉnh cũng đã đuối mệt muốn bỏ cuộc. Nằm sãi trên tảng
đá lớn cheo leo. Chợt nghe tiếng xôn xao nói cười từ trên
dốc đỉnh. Nghe tưởng rất gần mà xa. Không gian rất gần
mà lối đi thì xa. Một lúc khá lâu, qua khúc quanh một tốp
người đi xuống, trẻ già có đủ. Một cụ bà gầy nhom,
cười toe, miệng món chẳng còn mấy răng. “Gắng lên em.
Niệm Phật là tới liền hà!” Chắc cụ đã thấy nét mặt
và đoán ra tâm trạng của tôi. “Qua (tôi) đây 74 tuổi rồi
mà còn leo tới được. Qua từ Châu đốc theo bà con ra đây
lạy Tổ, lạy Phật. Tháng trước qua lên lễ chùa Bà Ðen
ở Tây ninh. Còn sức đi được ngày nào thì đi”. Móm mém
cười. Thở mệt. Bà chống gậy, lần mò xuống núi. Nhìn
cụ bà tôi như được tiếp hơi. Ðường dốc núi thẳng dựng
chắn ngang trước mặt chẳng còn đáng ngại.
Ga dưới cáp
treo
"Ở ngoài
nhìn vào nhà Ga cứ tưởng là một ngôi chùa mới. Mái cong.
Ngói đỏ. Hoành phi. Câu đối. Cờ phướn màu mè."
Từ năm 2002,
khách thăm Yên Tử có thể đi cáp treo. Rút ngắn một phần
đoạn đường dốc để đến chùa Hoa Yên, rồi từ đây leo
bộ lên cao. Cáp treo có hai Ga. Ga Dưới và Ga Trên. Kiến trúc
lớn và đẹp. Ga dưới có quán ăn chay, mặn và nơi bán quà
lưu niệm, phòng hướng dẫn du khách. Tổ chức khá chu đáo,
trật tự. Không có cảnh níu kéo nài nỉ bán mua, chụp hình
lưu niệm, như hầu hết các nơi du lịch trên đất Bắc. Ở
ngoài nhìn vào nhà Ga cứ tưởng là một ngôi chùa mới. Mái
cong. Ngói đỏ. Hoành phi. Câu đối. Cờ phướn màu mè.
Nhưng hãy men
theo lối đi dọc sườn núi. Vất vả nhọc nhằn. Có đoạn
khá hiểm nguy. Nhưng thú vị biết bao. Xúc động biết bao.
Chiêm ngưỡng chùa am, lăng mộ . Ngắm nhìn phong cảnh. Rừng
tiên, núi Phật. Núi cao ngất lẫn mây. Rừng trùng điệp xanh.
Trúc tre, tùng bách, sứ đại cổ niên. Dốc núi đá cuội
tròn trơn. Cheo leo. Quanh co. Thẳng dựng.
Nơi nơi như
còn vương dấu tích và huyền thoại của các Tổ sư Trúc
Lâm.
Hàng trăm Chùa
am bảo tháp của Yên Tử, qua chiến tranh và phá hoại trộm
của, chỉ còn lại mươi chùa rải dọc sườn núi. Chùa Lân,
Chùa Giải Oan, chùa Hoa Yên, chùa Thiền Ðịnh, chùa Một Mái,
chùa Bảo Ðài, chùa Bảo Sái, chùa Vân Tiêu. Tận cùng trên
đỉnh non cao là chùa Ðồng. Chùa Vân Tiêu cũ nay cũng không
còn, chỉ còn lại mấy mộ tháp. Trên lộ trình chính thức
cho du lịch không có tên Chùa Thiền Ðịnh, chùa Bảo Ðài,
nhưng lại có khu Huệ Quang Kim Tháp.
Chùa Lân-Thiền viện
Trúc Lâm
Chùa nằm trên
đường dẫn tới núi Yên tử.
Chùa Lân, còn
có tên Long Ðộng Tự. nơi vua Nhân Tông dừng bước trước
khi lên núi. Qua ngưỡng cổng chùa này, Ngài lên núi tu hành
suốt tám năm. Thiền định tu hành. Năm năm đầu, không rời
khỏi núi.
Xưa, đây là
ngôi chùa lớn. Năm 1299, vua cho xây cất rộng thêm cho đủ
chỗ làm nơi giảng kinh, truyền đạo. Trong chiến tranh kháng
Pháp, chùa bị cháy rụi, trở thành hoang phế. Khoảng 1976,
sau chiến tranh sư cô Thích Nữ Ðàm Châu dựng lại ngôi chùa
tạm đơn sơ để có nơi hương khói cúng vọng Phật,Tổ.
Cũng sau 1975,
trong Nam, Hòa Thượng Thích Thanh Từ xây dựng Thiền Viện
Trúc Lâm tại Ðà Lạt. Ðây là một ngôi chùa lớn đẹp,
quy mô, đầy đủ tiện nghi nhất Việt nam. Nơi đào tạo các
tăng ni theo thiền phái Trúc Lâm. Một thắng cảnh nổi tiếng
hiện nay của Ðà Lạt. Thu hút du khách và Phật tử mọi quốc
tịch đến viếng thăm, nghe kinh hay tu học.
Cổng dưới
thiền viện Trúc Lâm
Nội điện
thiền viện Trúc Lâm
Từ miền Bắc,
nghe tiếng, Ban Bảo Vệ Di Tích Yên tử ợ Quảng Ninh đã cho
người vào tiếp xúc và mời Thầy Thanh Từ ra Yên Tử hợp
tác để xây dựng lại các ngôi chùa tổ lâu năm mục đổ.
Quan điểm hai bên có khác biệt lúc đầu. Phía chính quyền
chỉ cho phép xây dựng lại chùa Lân cũng như tu bổ chùa cũ.
Họ nghĩ đến nguồn thu nhập khai thác du lịch. Thầy Thanh
Từ thì tâm nguyện muốn xây một thiền viện quy mô tại
đó. Theo thầy, chùa chỉ là hình thức, thiền viện mới là
nơi cần có để tăng ni tu theo đường lối Sơ Tổ Trúc Lâm.
Nơi lưu trữ kinh tạng được dịch, giảng và giải, để
quảng bá cho người tìm hiểu hay tu học. “Nếu ngày nay chúng
ta có chùa có tháp, mà không có đường lối tu, thì cái trông
đợi của Phật tử không thể nào thỏa mãn. Cho nên chúng
tôi mới xin lập thiền viện Trúc Lâm Yên Tử dưới chân
núi”. Qua mấy năm ra vào thương lượng, tâm nguyện và điều
mong mỏi của thầy Thanh Từ và Phật tử trong Nam đã thành.
Chính quyền chấp nhận đề nghị. Ngày 15 tháng 8, 2002 khởi
công xây dựng lại “Chùa Lân-Thiền Viện Trúc Lâm”. Chùa
được khánh thành ngày 14-12-02.
Ðứng trước
cơ ngơi to lớn, khó ai có thể tưởng ra chùa được hoàn
tất trong vòng bốn tháng. Từ dưới dốc núi, qua cổng chùa
tên đề “ Danh Sơn Yên Tử, Thiền Phái Trúc Lâm”, cuối
đường dốc cao, sừng sững một tu viện uy nghi. Hiện đại
nhưng vẫn giữ được nét đẹp truyền thống. Nghệ thuật
kiến trúc, đường nét điêu khắc và hoa văn theo phong cách
cổ truyền. Qua cổng tam quan, hai lầu chuông trống hai bên.
Phật đường đơn giản, thoáng đãng, trang nghiêm. Theo gương
Sơ Tổ xưa dùng chữ nôm thay Hán, nay ở đây các hoành phi
và câu đối đều bằng chữ quốc ngữ. Nhà khách với dãy
bình nước lọc lớn đặt theo lối đi cho thập phương. Nội
viện sau Phật đường, cách biệt, tĩnh lặng cho tăng ni tu
học. Vườn hoa, cây kiểng, mộ tháp hài hòa. Chùa tựa lưng
núi. Chung quanh núi rừng trùng điệp. Ðẹp! Thanh thoát!
Ðặc biệt,
dưới chân chùa có cả bãi đậu xe rộng mênh mông, bao quanh
bởi những cây bằng lăng hoa tím. Nhà vệ sinh công cộng sạch
sẽ văn minh. Trong thiết kế, kiến trúc sư Phạm Hùng Sơn
và các thầy đã có cái nhìn trước cho cả tương lai. Có
thể nói, đây là ngôi chùa lớn và hiện đại nhất của
miền Bắc do tâm đạo và công của, nhất là trình độ mỹ
thuật và kỹ thuật của Phật tử trong và ngoài nước dưới
sự chỉ đạo của thiền sư Thích Thanh Từ.
Giã từ Trúc
Lâm Thiền Viện với lòng ngưỡng mộ việc làm vô cùng công
đức và đầy ý nghĩa của một công trình.
Chùa Giải Oan
Suối Giải
Oan
Hãy ghé thăm
chùa Giải Oan trước khi lần theo dòng suối cạn, trên con
đường im mát giữa hai hàng cỗ Tùng và Thanh Trúc mà tuổi
đã quá bảy trăm năm, để đến Kim Tháp và Hoa Yên cổ tự.
Cũng như các
chùa khác, các chùa ở đây không lớn. Chùa Giải Oan ở ngay
chân núi. Tàng cổ thụ xanh mát. Đây là nơi có
mộ tháp của của vua Trần Anh Tông (1293-1314) người kế vị
vua chaTrần Nhân Tông. Hai bên là bảo tháp của Tổ thứ hai
Pháp Loa, và Tổ thứ ba Huyền Quang. Ðây có lẽ là tháp thờ.
Theo sử sách, Tổ Pháp Loa lúc chết để lại phó chúc, nhục
thể nhập tháp tại Thanh Mai Sơn, Côn Sơn. Tổ Huyền Quang
cuối đời cũng qua tu tại Côn Sơn và viên tịch ở đó.
Nhân gian cho
rằng. Chùa có tên Giải Oan để thờ các cung phi trầm
mình xuống suối tuẫn tiết khi vua Trân Nhân Tông dứt khoát
thoát tục lụy từ bỏ hoàng cung. Chuyện cũng khó tin. Vì
suối thì cạn, khó mà làm chết người. Sử chép, có nhiều
cung phi đi theo khóc than khẩn cầu Thượng Hoàng thay đổi
ý định, trở về hoàng cung. Ðến chân núi, ngài cho lệnh
họ quay về, sống đời tự do. Ai muốn, thì được cấp phát
đất để trồng trọt sinh nhai quanh miền lân cận. Nếu có
thì giờ chắc cũng dễ kiểm chứng điều này tại địa phương.
Có một điều
có thể lý giải được. Là một vi vua bao lần xông pha trận
mạc. Mấy lần đánh đuổi Nguyên, Mông, Chiêm, Mán... Chiến
tranh dù là giữ nước hay chiếm nước, cũng làm cho vô số
người mạng vong. Chết vì chiến tranh hẳn là những cái chết
oan khiên chẳng ai chờ, chẳng ai muốn. Trước khi vào núi
để tìm đường giác ngộ những người sống, có chăng vua
Trần đã giải oan khiên cho nhũng linh hồn vong mạng, triệu
thỉnh những oan hồn vất vưởng bụi bờ về chùa để nghe
kinh, siêu sinh hóa kiếp.
Khu Tháp Tổ và chùa
Hoa Yên
Tháp Tổ chùa
Hoa Yên
Thật xúc động
khi rạp mình đảnh lễ trước bảo tháp của Ðiều Ngự Giác
Hoàng. “Trực chỉ nhân tâm. Kiến tánh thành Phật”. Chỉ
thẳng tâm người. Thấy tánh thành Phật. Từ Bồ Ðề Ðạt
Ma cho đến Trúc Lâm Ðầu Ðà, chỉ một điểm tới, một
nẻo về. Dưới chân núi kia, ngập lặn trong tham sân si, cũng
chỉ vì tâm mờ bụi phủ. Ðược mất. Hơn Thua. Tị hiềm.
Thù hận!
Lắng nghe.
“Tuần này mà ngẫm. Ta lại xá ta. Ðắc ý trong lòng. Cười
riêng ha hả! Công danh chẳng trọng, phú quý chẳng màng; Tần
Hán xưa kia. Xem đà hèn hạ. Yên bề phận khó, kiếm chốn
nương thân; Khuất tịch non cao, Náu mình sơn dã...” (Ðắc
Thú Lâm Tuyền Thành Ðạo Ca-Trần Nhân Tông). Tiếng cười
Thiền Tổ vang vọng núi rừng, dội vào lòng người. Bỗng
nhiên phiền muộn cũng cuốn bay theo gió núi mây ngàn.
Ngôi tháp thiền
tổ sáu tầng cao. Ðơn sơ. Tường gạch bao quanh. Khói hương
nghi ngút. Quanh tường những cây sứ lâu năm. Cành vươn qua
bờ tường gạch mái ngói. Bông trắng thơm nhẹ. Quanh quẩn
bên ngoài Lăng Quy Ðức này, rất nhiều tháp mộ, to nhỏ khác
nhau, được giữ gìn sạch sẽ. Mộ tháp của chư tăng và
hoàng tộc. Ðây là công đức xây dựng của Tổ Huệ Quang,
người kế thừa Tổ Huyền Quang.
Trước kia
muốn lên đây phải vượt qua đoạn đường vách núi cao.
Từ ngày có cáp treo, Ga Trên nằm ngay dưới chân khu Kim tháp,
đoạn đường này không dốc lắm được xây bậc xi măng
nên khách thăm cũng đỡ nhọc nhằn. Giữ sức để đi đến
nơi về đến chốn. Ðỉnh không xa mà đường còn vời vợi.
Phật điện
chùa Hoa Yên
Ðường đi
mỗi lúc mỗi khó. Bám theo hàng chục bậc cấp cao thì đến
chùa Hoa Yên ở lưng chừng núi. Một ngôi chùa nổi tiếng
của Việt nam. Chùa to nhất Yên Tử và một là thắng cảnh
được ca tụng trong thi văn. Trước đây chùa có tên Vân Yên,
vua Lê Thánh Tôn đổi là Hoa Yên. Tên đó giữ cho đến bây
giờ. Ðây cũng là nơi, theo ý chỉ của Ðiều Ngự, Tổ thứ
ba Huyền Quang trụ trì nhiều năm, rồi giao cho sư đệ An Tâm,
về Côn Sơn tiếp tục đường tu. Ngài là một nhà sư đa
văn bác học, một văn nhân thi sĩ biệt tài.
Trước khi
vào chùa, khách vãn cảnh hãy ngồi thư giãn bên cạnh gốc
sứ (đại) già trên bảy trăm năm. Thân cây to lớn sần sùi,
cành sứ lâu năm quấn lấy nhau rất lạ. Gốc cây quằn ngang
vì không chịu nổi gánh nặng của ngọn cành được chống
đỡ băng khối xi măng hình non bộ. Không biết cây còn trụ
được bao lâu. Ðứng trên sân chùa nhìn núi rừng bát ngát.
Những đêm trăng rằm hay những sáng rạng đông mùa hạ hoặc
lúc mặt trời sắp lặn mỗi chiều hoàng hôn... cảnh trí
khó mà tả được.
Nguyễn Trãi
đã đến đây và làm thơ.
Yên Sơn sơn
thượng tối cao phong,
Tài ngũ canh
sơ nhật chính hồng.
Vũ trụ nhãn
cùng thương hải ngoại...
Ngọn núi
cao nhất ở trên núi Yên tử
Vừa đầu
trống canh năm mặt trời đã đỏ rực
Trong vũ trụ,
phóng mắt trông suốt ngoài biển xanh...
Nguyễn Quảng Tuân dịch
Thiền sư Huyền
Quang đã có bài phú nôm nổi tiếng vịnh chùa. Ðọc mấy
đoạn ngắn để thấy được thi vị và thiền vị danh lam.
Buông miền trần tục
Náu tới Hoa Yên
Chim thụy dõi
tiếng ca chim thụy
Gió tiên đưa
đòi bước thần tiên
Bầu đủng
đỉnh giang hòa thế giới
Giày thong
thả dạo khắp sơn xuyên....
.... Ðất
tựa vàng lên
Cảnh bằng
ngọc đúc
Mây năm thức
che phủ đền Nghiêu
Non nghìn tầng
quanh co đường thục...
... Chim óc
bạn cắn hoa nâng cúng
Vượn bồng
con kề cửa nghe kinh
Nương am vắng
Bụt hiện từ bi, gió hiu hiu, mây nhè nhẹ
Kề song thưa
thầy ngồi thiền định, trăng văng vặc, núi xanh xanh...
(PGVNSL Nguyễn Lang)
tượng tam
tổ trên bệ thờ bằng gạch cao chạm mái
Ðiện Phật
cổ kính. Tượng Phật chạm trổ công phu. Bàn thờ, hoành
phi và các tượng sơn son thiếp vàng. So với những chùa đã
đi qua trên miền Bắc, bố trí thờ phượng ở đây tương
đối sạch, thoáng rộng. Không luộm thuộm, bụi tro. Sau điện
Phật là nhà thờ Tổ. Khách hành hương lại có dịp
bái lạy tượng tam tổ trên bệ thờ bằng gạch cao chạm
mái.
Theo sách sử
truyền lại, sư Huyền Quang tinh thông đạo lý nên học đồ
bốn phương nghe danh tụ hội về tham vấn thường xuyên không
dưới ngàn người. Ðứng trên sân chùa giữa trưa hè nóng
bỏng, thầm nghĩ. Đường núi gian nan lại thêm chùa tuy
khá lớn nhưng với số lượng người như vậy làm sao chứa
đủ?
Tạm biệt
Hoa Yên tiếp tục lộ trình đến chùa Một Mái và Chùa Bảo
Sái. Ðoạn đường chỉ gần một cây số mà quá đỗi cheo
leo.
Chùa Một Mái
Rễ cây, thân
cây và rêu xanh phủ tràn mái ngói. Phía trước được che
chắn bởi vách
gỗ sơn đỏ
phai màu, ọp ẹp. Chùa nằm ngay trên vực núi, lối vào cửa
nhỏ có
rào chắn
rệu rạo để ngăn cách với vực sâu.
Bàn thờ Tổ
Một ngôi chùa?
Trong hơi thở dập dồn, tôi ngẩn người. Chùa chỉ là một
hốc núi nhỏ hẹp. Một mái ngói đủ che. Ba bề vách núi
. Rễ cây, thân cây và rêu xanh phủ tràn mái ngói. Phía trước
được che chắn bởi vách gỗ sơn đỏ phai màu, ọp ẹp. Chùa
nằm ngay trên vực núi, lối vào cửa nhỏ có rào chắn rệu
rạo để ngăn cách với vực sâu. Không gian chùa chỉ khoảng
hơn một thước rộng và sáu thước dài. Trần núi chạm đầu,
vừa đủ chỗ cho bàn thờ có hàng chữ Việt “ Thường Trú
Tam Bảo”. Bên phải thờ tượng Tam tổ, theo lời sư cô,
đây là những tượng xưa nhất còn lại. Tôi đếm được
năm tượng nhỏ chưa đầy nửa thước. Ngoài ba Tổ, không
biết các tượng kia là ai. Một tượng mặc phẫm phục
triều đình. Ở đây tượng bằng đá, tróc sơn, trắng
vàng loang lổ. Nhưng nét mặt lai rất tự nhiên gần gũi. Bát
hương, chân đèn để lộn xộn trên bệ thờ thấp. Tất cả
đều bằng đá. Bụi và tàn hương phủ bám đầy. Cạnh bàn
thờ Tổ là một vũng nước trong veo từ vách núi rỉ ra. Theo
lời sư cô, đây chính là động thất mà vua thiền định.
Sư cô chỉ lên trần núi thấp chạm đầu, một lỗ tròn nhỏ
bằng đồng xu, nói rằng, hàng ngày từ đây gạo từ trời
rơi ra đủ cho ngài dùng một ngày. Âu cũng chỉ là truyền
thuyết nhân gian. Vua, dù có đi tu thì chắc cũng không phải
lo âu về ẩm thực. Ðây cũng là nơi trên suốt lộ trình
Yên Tử tôi gặp ni sư. Ðược chuyện trò và trao đổi. Những
nơi khác đều là các nhân viên trai trẻ mặc thường phục,
ngồi nhâm nhi trà nước, thuốc lá phì phèo, nhìn du khách
và người thăm viếng như kẻ qua đường.
Có phải chính
tại đây, trong hốc núi lạnh, bảy trăm năm trước Ðiều
Ngự Giác Hoàng từ bỏ cung vàng điện ngọc, thiền định
khổ hạnh tu hành. Trong thoáng chốc, một niềm xúc động
thiêng liêng tràn ngập.
Chùa Bảo Sái
Ni sư tiễn
tôi trên bực thang cấp. Chỉ hơn nửa cây số trên dốc đứng
đến Bảo Sái, mà khách hành hương nhiều người bỏ cuộc
quay về, trong đó suýt có tôi, đã lên núi giữa trưa hè nóng
rát. Nếu khởi hành từ sáng sớm và có nhiều bạn đồng
hành mà lại đồng điệu, vào những ngày xuân, thu, khí trời
mát mẻ thì đường đi sẽ tới... nhẹ nhàng hơn.
Chùa Bảo
Sái
"Dọc mái
chùa một dãy đèn lồng đỏ choét như ở các tửu lầu bên
Tàu,
treo lẫn với
cờ Phật giáo"
Bảo Sái là
ngôi chùa xưa nhất của Yên Tử cũng là nơi tôi khá thất
vọng trong chuyến hành hương này. Vị trí chùa rất đẹp,
dựa lưng vào vách đá. Chùa là một sự kết hợp vô duyên
tân cổ. Ðiện thờ tối tăm. Câu đối, cửa chùa chạm trổ
công phu lâu ngày không sơn quét bạc phếch. Ghế bàn lộn
xộn. Dọc mái chùa một dãy đèn lồng đỏ choét như ở các
tửu lầu bên Tàu, treo lẫn với cờ Phật giáo. Bên hông chùa,
một động núi lớn. Nhìn xuống xa, cây rừng và thung lũng.
Cảnh trí tuyệt vời. Ngồi ở đây dăm ba phút thì mệt nhọc
và ưu phiền cũng sẽ tan nhanh. Thật đáng tiếc và rất chướng
mắt, trong khung cảnh thiên nhiên núi rừng đó, người ta đã
cho đặt một tượng Phật nằm có rào chắn bao quanh. Trên
vách núi rêu phong, treo hai chim phượng và bức hoành phi lạc
điệu. Tất cả bằng đá xám, như loại đá chùa Non Nước
Quảng Nam. Gần đó, tại địa điểm đẹp nhất trên mõm
núi, một tượng Phật Bà Quan Âm cũng bằng đá xám, trên
vai khoác chiếc áo choàng có kim tuyến màu mè như thường
thấy trong tuồng cải lương hay phim chưởng. Màu sắc và hình
tượng của những “sáng kiến” này làm hỏng cả một vùng
di sản. Tất cả phản ảnh trình độ và ý thức rất hạn
chế của người có trách nhiệm bảo tồn hay muốn tân tạo.
Thiền Viện Trúc Lâm dưới núi, cũng như chùa Ðồng trên
đỉnh non là những mô thức để theo.
Cổng trời.
An Kỳ Sinh, tượng đá
Theo sơ đồ
chỉ dẫn, nếu từ Bảo Sái rẻ về tây trên đường ngang
khoảng 184 m sẽ đến chùa Vân Tiêu. Tôi không đến đó. Tiếp
tục đi thẳng trên đường dốc, trèo qua những tảng đá
cao. Những chướng ngại cho người không đủ sức và lớn
tuổi. Gần tới đỉnh, gió càng lúc càng mạnh. Ðây là Cổng
Trời. Trước mặt bỗng hiện ra một tảng đá thiên tạo
rất cao, đứng sừng sững in hình trên sườn núi. Ðá có
hình như một đạo sĩ đang nhìn xuống quần sinh, vũ trụ.
Ðó là tượng An Kỳ Sinh, (còn gọi là Yên Kỳ Sinh) một nhân
vật lịch sử và huyền thoại của Trung hoa trên linh sơn đất
Việt. Trời còn sớm, đường tuy gian nan nhưng không còn xa.
Tạm dừng chân bên tượng và nghĩ về nhân vật kỳ thú này.
Theo tương
truyền Yên Kỳ Sơn đến tu tiên trên ngọn Tử Tiêu. Tên núi
ghép với tên ông, núi có tên gọi là Yên Tử. Chắc chắn
ông không phải là một nhà sư như nhiều sách nhắc tới mà
là một đạo sĩ luyện thuốc trường sinh. Gần tượng có
động Dược am và Thung am. Am thuốc và am luyện thuốc. Ông
đến đây lúc nào? Ngoài tượng đá rêu phong trước mặt
và hai am, dấu tích huyền thoại tưởng tượng của nhân gian,
có di tích hay sử sách nào ghi chép về ông? Tương truyền
Yên Kỳ Sinh đắc đạo ở đây. Vậy thì ông đã thành Chân
Nhân hay Tiên Ông bất tử, còn dạo quanh đâu đó trên núi
chăng? Có điều, Trung Quốc nổi tiếng với vô số núi thiêng
như Hoàng Sơn, Thiên Thai, Nga Mi, Vũ Ðang, Ngũ Nhạc... ông không
ở đó mà đến Yên Tử. Thì quả thật Yên Tử của đất
Việt phải là chốn linh sơn. Bởi thế đối với chúng ta,
An Kỳ Sinh là một nhân vật huyền thoại, thần thánh nhân
gian. Nhưng với Trung Quốc thì đó lại là một nhân vật có
thật.
Sử chép. Ðời
Tần Thủy Hoàng (201-206 BC) Ðạo Sĩ An Kỳ Sinh đã tu tiên
luyện thuốc trường sinh tại Phổ Ðà Sơn (Thuộc tỉnh Triết
Giang. Nơi đây bây giờ là trung tâm du lịch và hành hương
nỗi tiếng. Đạo trường Quan Thế Âm Bồ Tác. Hàng triệu
người đến để chiêm bái tượng Quan Âm linh ứng cao 33 thước,
lồng lộng vượt trên rừng tử trúc đỏ rực. Ở đây
còn có tảng đá để lại dấu chân của Phật Bà “Quan Âm
khiêu”). Ông đã được Tần Thủy Hoàng triệu về cung và
chuyện trò ba ngày, ba đêm. Từ chối quan phẩm và ở lại
triều đình, ông ra đi và hẹn Tần Thủy Hoàng ngàn năm sau
tìm gặp trên một đảo xa. Tần Thủy Hoàng thu giang sơn về
một cõi, đặt mình ngang hàng với Tam Hoàng Ngũ Ðế, những
thánh vương Trung Hoa thời lập nước. Xưng là Hoàng Ðế,
hiệu là Thủy Hoàng, là Hoàng Ðế đầu tiên. Ông muốn cho
con cháu sẽ thay nhau kế nghiệp đến muôn đời, lấy danh
hiệu Nhị Thế, Tam Thế... cho đến Vạn thế. Riêng ông thì
muốn trở thành Chân Nhân, tiên bất tử, nên ra sức cho người
lặn lội tìm thuốc trường sinh, hay cây “chi” là thứ thuốc
lạ. Nhà vua cho Từ Sinh và Lư Sinh đi tìm An Kỳ Sinh.
Biển rộng
sóng lớn không gặp được đạo sĩ, họ trốn đi luôn không
về. Thủy Hoàng trút giận trên đầu Đạo sĩ và Nho sĩ. Chôn
sống 460 người ở Hàm Dương. (Nếu lúc đó biết An Kỳ Sinh
đang ở Yên Tử thì Tần Thuy Hoàng đã tìm được và có thuốc
sống cho tới bây giờ. Nếu vậy thì Mao Trạch Ðông
đâu có!- NH).
Không cải
được số trời, Tần Thủy Hoàng chết bệnh, chết yểu trên
đường kinh lý. Xác phải lén che dấu đem về Hàm Dương.
Hai con lên thay tàn ác như cha. Cuối cùng nhà Tần chỉ tồn
tại 14 năm. Vua, đại thần đều hại nhau chết thãm thiết.
Gieo ác gặp ác. Luật Nhân Qủa rành rành.
Ðường đi đã tới:
Chùa Ðồng.
Một đoạn
đường trên núi
Chùa Đồng
Tượng An Kỳ
Sinh trơ gan cùng tuế nguyệt, ở lại sau lưng. Lại leo lại
trèo. Có khi gần như bò trên đá núi. Qua bảy trăm thước,
khách hành hương khoan khoái dừng chân trên trên đỉnh Yên
Tử. Hít thở không khí trong lành, phóng mắt nhìn trời đất
bao la. Tỉnh Quảng Ninh rộng lớn nhìn thấy xa xa. Gặp ngày
nắng trong, vịnh Hạ long thấp thoáng cuối chân trời.
Khách vào Thiên
Trúc Tự.
Chùa nằm trên
đỉnh cao nhất của Yên Tử. 1068 thước trên mực nước biển.
Ðể đến đây người đi đã vất vả, kỳ thú vượt đường
núi dài ba cây số rưởi. Ba lần chiều cao của núi. Chùa
Thiên Trúc, chỉ là một chùa rất nhỏ được đúc bằng đồng
nên gọi là chùa Ðồng. Chùa dựng dưới triều Lê (1428-1527).
Bảo tố đã tàn phá chùa vào năm 1740. Năm 1930 chùa được
xây lại bằng xi măng trên nền chùa cũ. Năm 1993, một chùa
bằng đồng mới nhỏ lại được dựng cạnh chùa xi măng.
Khách hành hương lên đây lễ bái hai chùa trên cùng một đỉnh
núi.
Chỉ mới đây,
khách lên từ xa, đã thấy lấp lánh, chói lòa mái chùa mới
như đóa sen trong nắng. Ðây là ngôi chùa mới tái tạo thay
thế hai ngôi chùa hiện có do sự đóng góp của Phật tử
trong và ngoài nước. Thầy Thích Thành Quyết là người chịu
trách nhiệm công trình xây dựng. Công ty Xây Dựng Mỹ Thuật
Hà nội được ký hợp đồng thi công. Cô Phạm Thị Mai Hoa,
Giám đốc công ty cho biết, khó khăn nhất của công trình
là vận chuyển các khối vật liệu nặng hàng tấn lên đỉnh
trên đường núi gần bốn cây số, để rồi lắp ráp. Chùa
chiếm diện tích 20 thước vuông với sức nặng của 70 tấn
đồng. Kiến trúc của chùa, kể cả bề cao và chiều dài
cũng như thiết trí trong ngoài đều theo đúng mô thức thời
Trần. Ngày 19 tháng 2, 2007 vừa qua, trên ba mươi ngàn Phật
tử từ khắp miền đất nước và hải ngoại, tụ hội đêm
trước, không màng gió lạnh căm của núi rừng, để cầu
nguyện và chờ hôm sau dự lễ khánh thành Hộ thần nhập
tượng và Khai quang yên vị.
“Hễ lên
tới chùa Ðồng, tôi luôn cảm thấy an bình, giải hết mọi
khổ đau và phiền muộn”. Một Phật tử hành hương đã
nói thay cho những ai có dịp về Yên Tử, đứng tĩnh lặng
trước chùa Ðồng, tưởng nhớ, tri ân Trúc Lâm Ðầu đà,
ngộ đạo ở đây hơn bảy thế kỷ trước. Người đã chỉ
cho chúng sinh con đường giải thoát phiền đau khổ lụy. Chỉ
cho chúng sinh một nẻo về: Nẻo về Tâm.
Ðường đi đã tới.
Thắc mắc vẫn còn!
Rời Yên tử.
Ngủ đêm tại Hạ long với những thắc mắc còn vướng bận
và theo tôi về tận miền Trung tây Hoa Kỳ.
“ Ngọa Vân
Am ở đâu???”
Khâm Ðịnh
Việt Sử Thông Giám Cương Mục ( Chính Biên-Quyển thứ 10)
có ghi rõ. “Thượng Hoàng (Trần Nhân Tông-NH) sau khi xuất
gia, lên ở trong am Ngọa Vân trên ngọn Tử Tiêu núi Yên Tử,
tự hiệu là Trúc Lâm đại sĩ. Lúc Thiên Thụy Công chúa (Chị
ruột của Thượng Hoàng-NH) bị bệnh nặng, Thượng Hoàng
xuống núi để thăm, khi trở về núi, đem công việc sau khi
mất dặn lại người thị giả (Vị tăng ở gần để sai
phái-NH) là Pháp Loa (Sau kế vị là Tổ thứ hai-NH), dặn xong
thì mất. Pháp Loa dùng phép hỏa hóa ..”. Ở đây không nói
rõ nhưng chỗ khác có ghi, ngài cũng chết tại Ngọa Vân Am,
nơi ngài tu, vào tháng 11, mùa đông năm Mậu Thân 1308. Hưởng
thọ 51 tuổi. Lạ lùng nhất, ngài viên tịch cùng ngày giờ
như đã hẹn với chị. Ngọa Vân Am như thế tất
phải là nơi linh thiêng nhất, nơi phải đến của bất cứ
ai muốn về Yên Sơn cúng lạy Sơ Tổ. Thế nhưng, trên bản
đồ du lịch và trên nhiều sách vở lục tìm, Ngọa Vân Am...
tuyệt tích.
Lòng thảnh thơi
Ngọa vân
am hoang tàn bên sườn tây núi Yên tử
Không ngờ!
Chỉ sau một thời gian ngắn, kể từ ngày rời Yên Tử. Ngày
thứ hai 9 tháng 7, 2007, qua Vietimes tôi mừng vui nhận được
tài liệu hình ảnh rất quí giá loan báo về việc khám phá
kho báu bị bỏ quên của danh sơn Yên Tử. Trong đó có hình
ảnh của Ngọa Vân Am và có bia ghi rõ tháp Phật Hoàng, nơi
Phật Hoàng Trần Nhân Tông viên tịch. Một tấm hình quí giá
khác khẳng định mộ tháp này là nơi lưu giữ một phần
xá lợi của Ðiều Ngự Giác Hoàng. Việc này giải tỏa cho
tôi những thắc mắc tồn đọng. Và đúng như sách sử đã
ghi. Sau khi hỏa hóa nhục thân Thượng Hoàng, thu được 1000
xá lợi (Xương không cháy còn lại-NH) . Một phần đưa về
Yên Tử. Chính là ở đây. Một phần thờ ở Ðức Lăng.
Những thông
tin sau đây đều trích từ nguồn tin đã dẫn.
Từ nguồn
tin của lâm tặc, thợ săn người địa phương, một nhóm
cán bộ có khả năng leo rừng như... khỉ của Bảo tàng Bắc
Giang đã khám phá ra hệ thống chùa, am, tháp, mộ, tượng,
bia đá và cây cổ thụ được trồng trong di tích... vô cùng
quý giá trên dãy Yên Tử hùng vĩ và bí ẩn. Nằm giữa mây
mù và rừng nguyên sinh hoang rậm, cả hệ thống thiền viện,
am, chùa cổ hiện ra với tòa ngang dãy dọc, với ngôi tháp
đá xanh bảy tầng nguyên vẹn, với di tích am Ngọa Vân. Cả
rừng mộ tháp bị nhồi bộc phá, bị khoét hang, khoét hầm
hòng tìm bới cổ vật; cả hệ thống các cây vải, quýt,
bưởi, nhãn, đại, thông được trồng từ bảy trăm năm trước
bị đánh gốc xẻ thịt. Những phát hiện trên đây đã gây
sửng sốt trong giới khoa học (và xúc động cho tăng ni, Phật
tử-NH). Sau hàng thế kỷ bị lãng quên, giữa rừng già, con
đường của các bậc chân tu đắc đạo đã được chính
thức ghi nhận. Ðể có được khám phá kỳ diệu thiêng liêng-vẻ
đẹp quyến rũ độc nhất vô nhị và cả nỗi đau bị tàn
phá của hệ thống di sản này, nhóm phóng viên đã vất vả
4 ngày đi bộ ròng rã và 3 đêm ngủ giữa rừng.
Những người
khám phá đã chọn đúng con đường chinh phục. Sườn Tây
Yên tử. Ði từ tỉnh Bắc Giang. Khác hẳn con đường bao nhiêu
chục năm nay thường đi từ Quảng Ninh. Như vậy, trong tương
lai nếu Bắc giang khai thác du lịch thì danh sơn Yên Tử có
thể thuộc về cả hai tỉnh. Bắc Giang hay Quảng Ninh. Tùy
thuộc đường lên núi. Theo sườn núi phía tây hay phía đông
bắc.
Hẹn một ngày về
Tôi đang bị
rừng nguyên sinh và các bãi đá kỳ dị, những di tích tăng
tổ lâu ngày lãng quên của sườn Tây quyến rũ. Hẹn với
lòng, lần này, sẽ đốt nén hương trầm nơi ngài mất: Ngọa
Vân Am. Một nén trên mộ bia Phật Hoàng. Nơi xá lợi của
ngài, phần xương cốt của ngài, hơn bảy thế kỷ trôi qua,
nằm gắn bó trong lòng đất Việt.
Những nhà
khảo cổ, Phật học và bảo tồn di sản dân tộc trong ngoài
nước: Yên Tử đang chờ!
Chicago, đầu
thu 2007
Tham khảo:
- Khâm Ðịnh
Việt Sử Thông Giám Cương Mục Viện Sử Học dịch. Hà nội
1998
- Ðại
Việt Sử Lược. Khuyết danh Nguyễn Gia Tường dịch. TPHCM
1993
- Việt
Sử Tiêu Án. Ngô Thời Sĩ Văn Hóa Á Châu dịch. Saigon 1960
- Sử Trung
Quốc. Nguyễn Hiến Lê TPHCM 2006
- Sử Ký
Tư Mã Thiên Nguyễn Hiến Lê và Giản Chi dịch Saigon 1968
- Những
Ngôi Chùa Danh Tiếng. Nguyễn Quảng Tuân Viện Nghiên Cứu Phật
Học Việt Nam. 1990
- Mùi Trầm
Hương. Nguyễn Tường Bách. TPHCM 2002
- Tạp Chí
Hoa Sen. Số 59. California 2007
- Trang Mạng:
Thiền Tông Việt Nam. Thư Viện Hoa Sen.
ACSN.online.
Footprintsvietnam.com
Người gửi
bài: Tâm Minh
Đọc
thêm bài:
Yên
Tử Sử cũ Người xưa, Ninh Hạ - Nguyễn Đức Tâm
Khám
phá kho báu bị bỏ quên của danh sơn Yên Tử (VieTimes)
10-12-2007 12:23:46