NÚI
YÊN TỬ
CHÙA
HOA YÊN
Núi
Yên Tử (An Tử sơn 安子山, 1.068 m) là "đất tổ Phật giáo
Việt Nam" và là một thắng cảnh thuộc xã Thượng Yên Công,
thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, thuộc vùng Đông Bắc của
Việt Nam. Trên đỉnh núi thường có mây bao phủ nên ngày
trước có tên gọi là Bạch Vân sơn.
Trung
tâm Phật giáo Việt Nam
Yên
Tử trở thành trung tâm của Phật giáo từ khi vua Trần Nhân
Tông từ bỏ ngai vàng khoác áo cà sa tu hành và thành lập
một dòng Phật giáo đặc trưng của Việt Nam, đó là dòng
Thiền Trúc Lâm Yên Tử và trở thành vị tổ thứ nhất với
pháp danh: Điều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (調御覺皇陳仁宗,
1258-1308). Ông đã cho xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ
trên núi Yên Tử để làm nơi tu hành và truyền kinh, giảng
đạo. Sau khi ông qua đời, người kế tục sự nghiệp là
Pháp Loa Đồng Kiên Cương (法螺同堅剛, 1284-1330), vị tổ
thứ hai của dòng Trúc Lâm. Trong 19 năm tu hành, ông đã soạn
ra bộ sách Thạch thất mị ngữ (石室寐語) và cho xây dựng
800 ngôi chùa, am, tháp lớn nhỏ trong nước với hàng nghìn
pho tượng có giá trị, trong đó có những chùa nổi tiếng
như viện Quỳnh Lâm, chùa Hồ Thiên ở Đông Triều... Tại
trung tâm truyền giáo của Pháp Loa còn có Huyền Quang Lý Đạo
Tái (玄光李道載, 1254-1334), vị tổ thứ ba của phái Trúc
Lâm.
Thắng
cảnh
Từ
Hà Nội có thể đi xe ô-tô vượt quãng đường 115 km, qua
thị xã Uông Bí thì rẽ vào đường Vàng Danh, đi tiếp khoảng
9 km thì rẽ trái. Có thể lên núi Yên Tử bằng hai cách:
Theo
đường cáp treo hiện đại vượt quãng đường trên 1.2 km
lên tới độ cao 450 m gần chùa Hoa Yên. Với cách này có thể
ngắm nhìn toàn cảnh rừng núi Yên Tử từ trên cao với những
cây tùng, cây đại hàng trăm năm tuổi xen lẫn trong những
rừng cây xanh tươi và hít thở không khí trong lành.
Theo
đường đi bộ dài trên 6 km đã được gia cố bởi hàng nghìn
bậc đá xếp, len lỏi theo lối mòn vượt qua bạt ngàn cây
cỏ, dưới tán rừng trúc, rừng thông.
Hành
trình thăm viếng Yên Tử bắt đầu từ suối Giải Oan với
một cây cầu đá xanh nối hai bờ suối. Cầu dài 10 m, có
kiến trúc không cầu kỳ nhưng toát lên vẻ đẹp cổ kính,
vững chãi. Tục truyền xưa kia vua Trần Nhân Tông nhường
ngôi lại cho con là Trần Anh Tông rồi tìm đến cõi Phật.
Vua Nhân Tông có rất nhiều cung tần và mỹ nữ. Họ đã khuyên
ông trở về cung gấm nhưng không được nên đã lao mình xuống
suối tự vận. Vua Nhân Tông thương cảm cho họ nên lập một
ngôi chùa siêu độ để giải oan, từ đó con suối mang tên
Giải Oan.
Trước
sân chùa sum suê từng khóm loa kèn màu hoàng yến chen lẫn
màu trắng mịn, xung quanh chùa có 6 ngọn tháp, lớn nhất là
tháp mộ vua Trần Nhân Tông, hai bên là tháp mộ sư Pháp Loa
và sư Huyền Quang.
Tiếp
đó tới chùa Hoa Yên nằm ở độ cao 543 m với hàng cây tùng
cổ tương truyền được trồng từ khi vua Trần Nhân Tông
lên tu hành trên Yên Tử. Phía trên độ cao 700 m là chùa Vân
Tiêu lẩn khuất trong mây bên triền núi. Sau điểm này là
chùa Đồng, tọa lạc trên đỉnh Yên Tử cao 1.068 m. Chùa được
khởi dựng vào thời nhà Hậu Lê với tên gọi Thiên Trúc
tự (天竺寺).
Đứng
ở độ cao 1068 m trên đỉnh núi có thể nhìn bao quát cả
vùng Đông Bắc rộng lớn với những đảo nhỏ thấp thoáng
trong Vịnh Hạ Long như một bức tranh, xa hơn là sông Bạch
Đằng.
Dọc
đường còn có một số điểm tham quan như Tháp Tổ, chùa
Một Mái, chùa Bảo Sái, tượng đá Yên Kỳ Sinh, am Ngọa Vân,
bàn cờ tiên, các khu du lịch sinh thái Thác Vàng, Thác Bạc.
Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử xây trên nền dấu tích của
chùa Lân mà đức Điếu Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông từng
thuyết giảng chúng sinh. Đây là công trình thiền viện lớn
nhất Việt Nam.
Lễ
hội Yên Tử được tổ chức hàng năm bắt đầu từ ngày
10 tháng giêng và kéo dài hết tháng 3 (âm lịch).
Núi
Yên Tử ở phía Tây thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có
đỉnh cao 1068m. Chùa Hoa Yên thường gọi là chùa Cả, tọa
lạc trên núi Yên Tử, ở độ cao 516m. Theo sách Từ điển
di tích văn hóa Việt Nam (Hà Nội, 1993), chùa nguyên tên là
Vân Yên, do Thiền sư Hiện Quang dựng vào cuối thời Lý. Kế
tiếp là Thiền sư Đạo Viên, Thiền sư Đại Đăng, Thiền
sư Tiêu Diêu, Thiền sư Huệ Tuệ, Trúc Lâm Đại sĩ tức Điều
Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông (1299) v.v... Điều Ngự Giác
Hoàng cho mở chùa Vân Yên to rộng, tả hữu dựng viện Phù
Đồ, lầu chuông trống, nhà dưỡng tăng, nhà khách, dưới
sườn núi dựng nhà cửa suốt đến xứ Thanh Lương. Tăng
đồ khắp nơi đến nghe giảng yếu chỉ Thiền Tông rất đông.
Chùa Vân Yên trở thành trung tâm Phật giáo thời bấy giờ.
Đến khoảng niên hiệu Hồng Đức (1470-1497), Vua Lê Thánh
Tông lên thăm chùa, thấy cảnh hoa nở đầy sân, bèn cho đổi
tên là Hoa Yên. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng nhỏ. Trước
chùa có Huệ Quang Kim tháp xây năm 1310 an táng xá-lợi Trần
Nhân Tông và hơn 40 tháp lớn nhỏ khác, đều là tháp cổ
đời Trần. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận là Di tích
lịch sử - văn hóa quốc gia.
(Bách
khoa toàn thư mở Wikipedia)
Yên
Tử, kinh đô Phật giáo Việt Nam
Mênh
mênh mang mang Phù Vân Yên Tử, vi vi vu vu Trúc Lâm thiền tự.
Thổn thức nỗi ḷng ai kẻ t́nh si, giữa chốn thiền không
t́m người trong mộng”, câu hát ngọt ngào mê đắm ấy đă
đưa du khách tới chốn bồng lai, ḷng trần nhẹ bẫng, quên
hết mọi ưu tư phiền muộn của cuộc đời.
Khách hành hương về
cơi thiêng Yên Tử, nơi cội nguồn của Phật giáo Việt Nam
tọa lạc trên mảnh đất Quảng Ninh - một tỉnh nổi tiếng
với vịnh Hạ Long, nằm cách Hà Nội hơn 100km theo hướng
đông bắc về chốn Tổ uy nghiêm không nơi nào sánh được
giữa thiên nhiên ḱ vĩ đồi núi điệp trùng với thác đổ,
suối reo ẩn khuất trong rừng địa ngàn. Từ xa dơi nh́n về
Yên Tử, đỉnh núi nhô ra, hai ngọn vút lên như hai cánh én
tung bay giữa mây trời vùng đông bắc, ở giữa là núi Yên
Tử sừng sững như con voi nằm phủ phục, tất cả tạo nên
một non thiêng Yên Tử vừa uy nghiêm vừa hùng vĩ. Khu di tích
lịch sử và danh thắng Yên Tử trải dài ngót 20km, dọc lộ
tŕnh của vua Trần Nhân Tông về Yên Sơn tu hành rồi hiển
Phật - chùa Bí Thượng đến chùa Đồng trên đỉnh Yên Sơn
cao nhất vùng đông bắc 1.068m.
Lần theo dấu tích
ngàn xưa
Bảy trăm năm ấy
bây giờ c̣n lưu
Bảy trăm năm qua, Yên
Tử nổi danh là nơi phúc địa, gắn liền với tên tuổi và
sự nghiệp phi thường của đức hoàng đế anh hùng Trần
Nhân Tông, kháng chiến thắng lợi đă từ bỏ ngai vàng về
tu ở Yên Sơn, sáng lập ra thiền phái Trúc Lâm, xây dựng
nơi đây trở thành trung tâm văn hóa, kinh đô Phật giáo của
nước Đại Việt. Và đă bảy trăm năm qua nhưng dấu tích
của vua Trần vẫn không hề thay đổi với một di sản khổng
lồ cha ông để lại là hàng chục ngôi chùa, hàng trăm am,
tháp, hàng ngàn di vật cổ quư giá. Hệ thống chùa am Yên
Tử được bài trí theo hai hệ trục chiều dọc hướng từ
nam lên bắc, từ chùa Bí Thượng, Suối Tắm, Cầm Thực, chùa
Lân, Giải Oan, Hoa Yên lên chùa Đồng, chiều ngang hướng từ
đông sang tây, từ am Dược, am Hoa, thác Bạc, am Diêm, chùa
Một Mái, Hoa Yên sang thác Ngự Dội, am Thiền Định, thác
Vàng.
Chùa Hoa Yên, trung tâm
khu di tích, danh lam cổ tự linh thiêng nổi tiếng ở độ cao
gần 534m, tọa lạc trên triền núi nhô ra tựa trán rồng nơi
đă bao lần được các hoàng đế, vương hầu, các danh nhân
trong nước về thăm lưu bút, đề thơ, trồng cây lưu niệm
trước sân chùa. Đường lên chùa Đồng lộng gió, qua một
vạt rừng cây lúp xúp và băi đá như những cánh sen nâng
bước chân du khách. Từ các khe đá, trúc đùi gà, địa lan,
cây si đá mọc ra xoè tán lá xanh rờn; dưới chân chùa ngổn
ngang xếp những tảng đá lớn, lưng đá hằn sâu ngấn sóng
nước với những vỏ ṣ, vỏ ốc hóa thạch gợi nhớ dấu
tích đổi thay dâu bể thời Hồng hoang về bờ biển Yên Sơn
trước kia. Chùa Đồng cấu trúc h́nh chữ đinh theo dáng một
bông hoa sen nở, ngự trên sập đồng chân quỳ dạ cá chạm
trổ h́nh hoa sen cách điệu, gian giữa là cửa vơng đúc hoa
sen, hai bên trạm khắc h́nh nho sóc. Những hôm trời nắng,
trên đỉnh Yên Tử phóng tầm mắt tới chân trời tít tắp,
dưới chân núi cảnh vật hiện ra như bức tranh thủy mặc
lung linh dưới ánh mặt trời; c̣n vào ngày mù sương du khách
như đứng trên bồng đảo nhỏ, nổi bồng bềnh giữa đại
dương mênh mông. Gió lùa vào kẽ đă phát ra muôn tiếng nhạc
trầm bổng. Giữa khung cảnh đất trời kỳ vĩ, ḷng người
xốn xang, tâm hồn nhẹ nhơm thanh thoát, bao nỗi ưu phiền
trần tục tan biến.
Trân trọng trước công
ơn ǵn giữ đất nước và ân đức truyền bá chánh pháp
của Tổ tiên đến ngày nay góp phần xây dựng và phát huy
nền di sản văn hóa quư báu của ông cha ta bao đời ǵn giữ,
Ḥa thượng Thích Thanh Từ cùng Phật tử đạo tâm trong và
ngoài nước công đức xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên
Tử, khởi công đặt đá từ ngày 19/01, khánh thành ngày 11/11
năm Nhâm Ngọ. Nhờ sự đồng tâm của tất cả Phật tử
- thiền viện lớn nhất nước với hàng loạt hạng mục công
tŕnh cổng Tam quan, ṭa chính điện, nhà thờ Tam Tổ, lầu
trống, lầu chuông, nhà trưng bày, nhà khách kiến trúc hoành
tráng, uy nghi được xây dựng trong thời gian ngắn nhất để
chốn Tổ thêm khang trang, xứng đáng là kinh đô Phật giáo
nước Việt.
Nguyên Phó thủ tướng
Nguyễn Khánh khi tới thăm Yên Tử đă nói: “Người ta quan
tâm đến Yên Tử không phải v́ chùa lớn, kiến trúc đặc
biệt mà quan tâm đến ư nghĩa lịch sử của Yên Tử, văn
hóa Phật giáo Việt Nam. Ở đây bản sắc dân tộc Việt Nam,
tư tưởng, tâm hồn Việt Nam được thể hiện rất rơ”.
Ngày nay du khách thập phương trẩy hội về Yên Tử ngày một
đông bởi đó chính là con đường tới cơi Phật, tới cái
tâm thiện căn của chính bản thân ḿnh.
Non
Thiêng Yên Tử
"Vĩnh
Nghiêm, Yên Tử, Quỳnh Lâm
Ai
chưa đến đó, thiền tâm chưa đành".
Câu
ca dao như lời phát nguyện thành tâm của quảng đại chúng
sinh mộ đạo từ trước đến nay, hướng về chốn tổ của
Phật giáo nước nhà. Hàng năm mỗi mùa xuân, khách thập phương
nườm nượp hành hương về Yên Tử, nơi mây giăng quyện
khói trầm thơm cầu phúc và hướng thiện. Từ cuối thế
kỷ 13, nơi non thiêng này đã trở thành kinh đô Phật giáo
của nước Đại Việt, sau thắng lợi vĩ đại của ba lần
kháng chiến chống xâm lăng.
Hội
xuân Yên Tử hàng năm bắt đầu vào ngày 10 tháng Giêng. Xuân
Nhâm Ngọ hội càng tấp nập. Thị xã Uông Bí và tỉnh Quảng
Ninh tổ chức khai trương hệ thống cáp treo lên Yên Tử vào
ngày khai hội. Tuyến du lịch tâm linh đặc biệt này thêm
náo nức khách hành hương. Yên tử, nơi sáng cây đuốc trí
tuệ Thiền phái Trúc Lâm, với ba ngọn chủ đăng sáng chói
là ba vị tổ: Điều ngự Giác hoàng Trần Nhân Tông, Thiền
sư Pháp Loa và Huyền Quang tôn giả. Vị hoàng đế anh hùng
dân tộc, vị cao tăng chân Phật, nhà tư tưởng lớn Trần
Nhân Tông là người khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm, một sự
hoà hợp tuyệt vời giữa tinh thần dân tộc và tôn giáo,
giữa tư tưởng và đạo đức, giữa Đạo và Đời.
Yên
Tử thuộc thị xã Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Xưa kia tên của
Yên Tử là núi Voi bởi dáng núi giống con voi quay đầu về
phía biển. Sử sách ghi Yên Tử là Bạch Vân Sơn vì quanh năm
mây trắng bao quanh đỉnh núi. Đây là chốn tu hành tuyệt
đỉnh của những người mộ đạo:
"Nào
ai quyết chí tu hành
Có
về Yên tử mới đành lòng tu".
Núi
thiêng thành cõi Phật đã mời gọi thiền tâm của các bậc
đế vương. Vua Trần Thái Tông bỏ cả ngai vàng lên đây cầu
Phật. Thượng hoàng Trần Nhân Tông rời kinh thành về Yên
Tử tu hành. Truyền rằng: Hàng trăm Cung phi đã đi theo, níu
gọi người không được, đã trầm mình xuống suối Hồ Khê,
nhiều người bị nước cuốn đi. Suối Hồ Khê thành suối
Giải Oan từ đấy. Cảm thương linh hồn những Cung phi tuẫn
nạn, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã cho dựng ngôi chùa
Giải Oan thờ cúng cầu mong họ được siêu sing tịnh độ.
Từ chùa Giải Oan đường hành hương Yên Tử chia hai ngả:
đường bộ truyền thống và đường cáp treo. Khu nhà ga kiến
trúc như một ngôi chùa lớn, với mái ngói mũi hài và thành
bậc rồng đá đặc trưng của kiến trúc đời Trần. Sau hai
năm xây dựng, hệ thống cáp treo Yên Tử được khánh thành
và đưa vào sử dụng ngày 21/02/2002. Công ty Xuất nhập khẩu
Quảng Ninh đã đầu tư 37 tỷ đồng để có một hệ thống
cáp treo hiện đại nhất Việt Nam hiện nay và lần đầu tiên
có ở miền Bắc nước ta. Cáp treo Yên Tử được các chuyên
gia Pháp trực tiếp lắp đặt, đảm bảo các yêu cầu kỹ
thuật và độ an toàn tin cậy. Quãng đường chim bay 1.200 mét
từ chùa Giải Oan đến ngang chùa Hoa Yên, du khách chỉ mất
10 phút ngồi cabin cáp treo. Yên Tử cõi Phật mang tinh thần
từ, bi, hỉ xả, được tô điểm thêm điềm lành, vẻ đẹp.
Đường hành hương bớt ùn tắc, trong những ngày hội có
hôm đông đến cả vạn người. Hành trình du ngoạn rút ngắn
thời gian leo núi, giảm lượng người nghỉ lại qua đêm quá
đông ở chùa Hoa Yên. Môi trường thiên nhiên được cải
thiện về vệ sinh và văn hoá. Lưu lượng người hành hương
rất lớn, tuyến cáp treo chỉ đáp ứng được một phần.
Đi hội Yên Tử, nhiều người muốn thể hiện tâm thành dẫu
mỏi gối chồn chân leo núi. Từ chùa Giải Oan, qua am Lò Rèn
theo con đường quanh co xếp bậc đá, khách lên Hòn Ngọc.
Hai bên lối đi là rặng tùng cổ thụ, tương truyền được
trồng khi Điều Ngự Giác Hoàng Đệ nhất tổ Trúc Lâm đến
Yên Tử tu hành. Hơn 700 năm rặng tùng vẫn cứng cỏi với
tuyết sương nắng gió, hiện thân cho cốt cách của bậc chính
nhân chân tu. Trúc Yên Tử mọc ken dầy, thân thẳng vút. Trúc
xanh thân ngay, gióng thẳng chính trực. Xích Tùng là lòng son
tâm Phật. Hòn Ngọc ở độ cao 400 mét còn có tên là Hạ
kiệu. Đây là điểm Vua, Chúa ngày xưa phải hạ kiệu, đi
bộ lên chùa Hoa Yên bái yết Thượng hoàng.
Vãng
cảnh Yên Tử, từng bước tâm ta tĩnh hồn bay trong diệu pháp
thần định, ức trai lòng sáng tựa sao khuê đã cảm tác về
Yên Tử:
"Muôn
hàng giáo ngọc, tre gài cửa
Bao
dải tua châu, đá rũ mành
Di
tích Nhân Tông còn lưu đấy
Trùng
đồng thấy giữa ánh quang minh".
Hai
mươi tuổi lên ngôi vua, hai lần lãnh đạo kháng chiến thắng
lợi, ở đỉnh cao nhất của vinh quang và quyền lực, vị
vua ấy đã rời bỏ ngai vàng, đi ngao du thăm dân để chỉnh
đốn thế sự. Người xuất giá tu hành lên Yên Tử chọn
khổ hạnh làm lẽ sống.
Theo
đoạn đường thoải sau khu tháp Tổ, khách hành hương đi
giữa vườn cúc vạn thọ xum xuê, hoa dệt gấm vàng sườn
núi. Thiền sư Huyền Quang đệ tam tổ Trúc Lâm đã viết bài
thơ "Hoa cúc" có câu rằng: "Vườn xưa san sát cúc vàng rơi".
Vua Lê Thánh Tông đến Yên Tử trước khung cảnh hoa lá phô
sắc toả hương mới đổi tên chùa Vân Yên (nghĩa là chùa
Khói mây) thành chùa Hoa Yên như bây giờ. Chùa Hoa Yên ở độ
cao 800 mét, lớn và đẹp nhất Yên Tử nên còn có tên là
chùa Cả. Quanh chùa xưa kia còn có lầu Chuông, lầu Trống,
am Thiền Định. Đặc biệt tượng Phật chùa Hoa Yên đều
bằng đồng đúc. Bức phù điêu đá ngoài chùa, chạm cảnh
ba ni cô sùng đạo đang chắp tay lắng nghe, có hàm ý: Chùa
Hoa Yên là nơi Đệ nhất Tổ tiếp kiến Vua quan triều đình
và giảng kinh, thuyết pháp. Yên Tử là nơi tìm đến tu hành
đắc đạo của nhiều bậc cao tăng, thiền sư. Không Lộ Thiền
Sư thời Lý đã từng
"Núi
cao có lúc trèo lên đỉnh
Kêu
dài một tiếng lạnh cả trời".
Đệ
nhất tổ Trần Nhân Tông đã dựa vào nền móng chính của
thuyết nhà Phật: "Phật ở trong tâm. Tâm lặng lẽ mà biết
thì đó là chân Phật" để kế thừa và phát huy thành chủ
thuyết.
Dòng
suối nơi Vua tắm mang tên Ngự Dội. Am Vua nằm nghỉ bồng
bềnh trong mây nên có tên là Ngọa Vân. Cảnh sắc siêu thoát
của Yên Tử đã góp phần rất lớn vào việc di dưỡng tinh
thần của những ai muốn dứt bỏ bụi trần. Phía sau am Ngọa
Vân, nằm sâu trong vách núi là am Một Mái. Đây là nơi tàng
trữ thư cảo và giảng kinh thuyết pháp của Đệ nhất tổ
Trúc Lâm. Những gương mặt tượng ở đây toát lên vẻ viên
mãn của người đạt đến sự giác ngộ chân như, tu thành
chính quả.
Một
lần hành hương Yên Tử gợi cho du khách hình dung sự kiên
định trong việc tu tâm, luyện trí của các bậc tu hành đắc
đạo. Danh sỹ Ngô Thì Nhậm nhận xét: "Tam tổ lấy từ bi
làm thế, lấy quảng đại làm dụng, đồng đức với trời
đất, hoà mình với nhật nguyệt. Có cái thanh rất tĩnh, có
cái hưởng rất dài. Phật như Trúc Lâm tam tổ chỉ lấy ngôn
ngữ làm đạo lý mà giáo thế, chẳng những không lộ liễu
hành sự mà nói năng cũng cao xa, rộng lớn, thoáng đạt".
Tựa lưng vào vách núi đá cao dựng đứng, ngôi chùa Bảo
Sái sớm chiều vọng tiếng kinh cầu. Trầm thơm lan tỏa quyện
với hương phong lan và sen cạn thoảng bay trong tiết xuân thanh
khiết. Bảo Sái là pháp hiệu của vị cao tăng, đệ tử gần
gũi của đệ nhất tổ Trúc Lâm. Sư Bảo Sái đã chứng kiến
thời khắc Điều Ngự Giác Hoàng hoá thân về cõi Phật trong
hương núi thơm ngào ngạt, nhạc trời vang động tiễn đưa
một tâm hồn lớn về cõi Niết Bàn. Hơn 700 năm những lời
kệ, câu thơ của Ngài vẫn phiêu diêu với gió mây Yên Tử.
Gần chùa Bảo Sái có một giếng đá thiêng, sâu không đầy
một thước mà quanh năm đầy nước mát trong veo như bầu
Cam Lộ của non thiêng ban phát cho người thành tâm hành hội.
Độ
cao 800 mét chùa Vân Tiêu như mốc giới giữa cõi Trần và
cõi Phật huyền bí phía trên cao. Ngọn tháp Vọng Cung Tiên
9 tầng sững sững mây vờn. Trong tĩnh lặng nơi này, rì rầm
tiếng suối thượng nguồn chảy qua rừng trúc như khúc nhạc
lâm tuyền đưa hồn du khách hướng lên đỉnh non thiêng. Hành
trình đến đây, dòng người thưa vắng dần, đỉnh non thiêng
Yên Tử cao độ 1068 mét. ở đây lúc trời quang đãng có thể
bao quát không gian hùng vĩ vùng Đông Bắc của Tổ quốc, từ
vịnh Hạ Long đến thành phố Hải Phòng. Chùa Đồng được
xây từ thời Lê Cảnh Hưng bằng đồng. Qua nhiều biến cố
thất tán nay chùa được phục nguyên bằng chất liệu như
tên gọi: Chùa Đồng. Chuông chùa Đồng có gọi mây, quyến
gió, rủ chim như thế gian truyền tụng hay không điều đó
vừa thực vừa ảo. Ngày xuân hành hương Yên Tử những nhiệm
màu huyền diệu vẫn lung linh, ấm áp.