Chùa
tọa lạc trên núi Thiên ấn, thuộc xã Tịnh ấn, huyện Sơn
Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi, nằm phía Bắc sông Trà Khúc, cách
thị xã Quảng Ngãi 3km. Chùa do Thiền sư Pháp Hóa dựng vào
khoảng năm 1694. Các Thiền sư kế thế trụ trì là: Khánh
Vân, Bảo Ân, Giác Tịnh, Hoằng Phúc, Diệu Quang . Gắn với
chùa có sự tích quả đại hồng chung linh thiêng. Chuông được
đúc cho chùa làng Chí Tượng nhưng đánh không kêu, Thiền
sư Bảo Ân đã chú nguyện và sau đó đánh tiếng chuông ngân
nga khắp vùng. Chùa được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biểu ngạch
"Sắc tứ Thiên ấn Tự" năm 1716. Năm 1947, chùa bị hỏng hoàn
toàn. Ngôi chùa hiện nay được xây dựng từ năm 1959, hoàn
thành vào năm 1961. Chùa đã được trùng tu vào các năm 1992-
1993, còn bảo tồn được nhiều tượng cổ, chuông cổ. Thiên
ấn là ngôi cổ tự danh tiếng của miền Trung.
THIÊN
ẤN NIÊM HÀ
Quảng
Ngãi
Thiên
ấn là ngọn núi nằm ở tả ngạn sông Trà Khúc, phía Bắc
tỉnh lị Quảng Ngãi. Núi cao 100 mét, tựa hình một chiếc
ấn, bốn phía sườn có hình thang cân. Nhìn từ phía bờ Bắc
sông Trà, thấy con nước chảy theo hướng Tây Nam - Đông Bắc,
như đổ vào chân núi, rồi lại từ chân núi đổ về cửa
Đại Cổ Luỹ theo hướng Tây Bắc - Đông Nam. Giữa một thiên
nhiên thoáng đãng, ngọn núi như chiếc ấn của trời cao niêm
xuống dòng sông xanh, nên người xưa gọi là Thiên ấn niêm
hà. Năm Minh Mạng thứ 13 (1830), núi được liệt vào hàng
danh sơn và ghi vào điển tịch.
Theo
con đường lớn xoáy trôn ốc chạy quanh sườn đồi, hoặc
men theo nhiều lối tắt giữa lô nhô cây xanh, đá tảng, ta
sẽ lên đến đỉnh núi bằng phẳng. ở đây có ngôi chùa
cổ nấp dễới bóng cây cổ thụ, xây dựng từ đời Lê,
được chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển ngạch "Sắc tứ Thiên
ấn tự" vào năm 1716, và là một trong số các tổ đình quan
trọng thuộc dòng thiền Lâm Tế của Phật giáo Đàng Trong.
Chùa Thiên ấn có "giếng Phật" sâu 21 mét, nước mát trong,
đào từ lúc khai sơn, và " chuông thần " đúc vào năm 1845
bởi các nghệ nhân của làng đúc đồng Chú Tượng (huyện
Mộ Đức). Câu chuyện về nhà sư đào giếng và lễ khai chuông
của thiền sư Bảo ấn đã lưu truyền rộng rãi trong dân
gian, được ghi lại trong các thư tịch cổ và nhà Phật xem
là những Phật thoại.Trên đỉnh núi Thiên ấn có khu bảo
tháp gìn giữ di hài của các vị sư tổ trụ trì và mộ nhà
yêu nước Huỳnh Thúc Kháng (1876 - 1947). Cụ Huỳnh người
huyện Tiên Phước (Quảng Nam), là nhà yêu nưc, nhà báo nổi
tiếng, tham gia Chính phủ cách mạng năm 1945, được cụ Hồ
Chí Minh cử làm đại diện Chính phủ ở Liên khu V, mất tại
Quảng Ngãi ngày 21/4/1947 và được an táng trên đỉnh Thiên
ấn theo di nguyện.
Chùa
Thiên ấn từng là nơi hội ngộ, đàm đạo, xướng hoạ thơ
ca của nhiều thế hệ thi sĩ, từ Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn
Thông, Phạm Trinh, Lê Kỉnh đến Bích Khê, Nguyễn Viết Lãm...
cùng các thiền sư Hoa, Việt nổi tiếng: Pháp Hoá, Khánh Vân,
Bảo ăn, Giác Tính, Hoằng Phúc, Diệu Quang, Hồng ăn...
Núi
Thiên ấn là đệ nhất thắng cảnh và là "núi thiêng" của
người Quảng Ngãi.
Năm
1990 núi Thiên ấn - chùa Thiên ấn - mộ cụ Huỳnh đã được
Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng di tích quốc gia. Nhưng trước
đó, từ lâu lắm, Thiên ấn đã là dấu chứng quê hương
trong lòng người Quảng Ngãi:
Bao
giờ Thiên ấn hết tranh
Sông
Trà hết nước, anh đành xa em...
Lê
Hồng Khánh
TỔ
ĐÌNH THIÊN ẤN
QUẢNG
NGÃI
Thiên
Ấn niêm hà (Ấn trời đóng trên sông) là thắng cảnh thứ
nhất trong mười cảnh đẹp của tỉnh Quảng Ngãi. Nằm bên
tả ngạn sông Trà Khúc, núi Thiên Ấn cùng với giòng sông
trở thành biểu tượng cho sự vĩnh hằng của vùng đất này,
như hai câu thơ của thi sĩ Bích Khê:
Ngàn
năm quả Ấn nằm trơ mốc,
Một
dải sông Trà chảy sậm xanh.
Từ
chân cầu Trà Khúc hai mươi nhịp, đi theo con đường về phía
Cổ Lũy khoảng 2km, du khách sẽ gặp lối đi lên chùa Thiên
Ấn trên núi.
Núi
Thiên Ấn xưa kia có tên là núi Hó, nay thuộc địa phận xã
Tịnh Ấn, huyện Sơn Tịnh. Núi cao khoảng 105m, đỉnh núi
bằng phẳng, rộng độ 10 ha. Từ phương Đông nhìn lên thấy
bốn phía núi đe5 có hình thang cân trông giống như cái ấn
trên sông. ở phía Nam, dưới chân núi có gò nhỏ gọi là
hòn Triện. phía Đông giáp núi Tam Thai, phía Bắc tiếp núi
Lã Vọng. phía Tây có núi Long Đầu. Xưa kia núi Thiên Ấn
có nhiều đá son dùng mài mực son chấm quyển chữ nho. Đường
lên núi nay không còn là lối mòn mà được mở rộng, tuy
chưa bằng phẳng, nhưng xe hơi có thể lên tới chùa được.
Do
vị trí địa lý của nó, năm Minh Mạng thứ 11 (1830) hình
núi Thiên Ấn được chạm vào Di Đỉnh (một trong chín đỉnh
đồng ở Huế được đúc dưới triều vua Minh Mạng). Đến
năm Tự Đức thứ ba (1850), Thiên Ấn được liệt vào hàng
danh thắng.
Chùa
Thiên Ấn được Thiền sư Pháp Hóa khai sơn năm 1694. Ông tên
là Lê Diệt, người Phúc Kiến, hiệu là Minh Hải - Phật Bảo,
sinh năm 1670, viên tịch năm 1754, trụ trì tại chùa này suốt
60 năm. Bên cạnh chùa có giếng sâu 21m, nước mát ngọt, cũng
là một công trình của Thiền sư Pháp Hóa. Núi cao, đá cứng,
thiếu dụng cụ, nhưng Ngài vẫn kiên trì đào giếng suốt
bốn năm ròng. Một hôm có vị tăng trẻ từ đâu không rõ
phát nguyện cùng đào giếng với Thiền sư. Cùng làm việc
suốt ba tháng ròng, họ mới chuyển được một tảng đá
lớn chắn ngang, từ đó, mạch nước mới tuôn ra. Nhưng lúc
giếng có nước cũng là lúc mà vị tăng trẻ ra đi biệt tích.
Câu chuyện này còn được truyền tụng qua câu ca dao :
Ông
thầy đào giếng trên non,
Đến
khi có nước không còn tăm hơi
Gắn
liền với chùa Thiên Ấn còn có sự tích quả đại hồng
chung linh thiêng. Chuông này vốn được dân làng Chí Tượng
(nay là xã Đức Hiệp, huyện Mộ Đức, tỉnh Quảng Ngãi)
đúc cho chùa làng nhưng đánh không kêu. Vào năm 1845, Thiền
sư Bảo Ấn, vị Tổ sư thứ ba của chùa đang tham thiền,
thì thấy một vị Hộ Pháp tới bảo thỉnh quả chuông ấy
về chùa. Xuất định, Thiền sư Bảo Ấn nhờ sư Diên Tọa
đến làng Chí Tượng thỉnh chuông về. Trong ngày lễ khai
chuông, sau khi chú nguyện, Thiền sư Bảo Ấn đã gióng lên
tiếng chuông tròn ấm ngân vọng khắp vùng. Chuông này nay
treo ở bên trái chính điện của chùa.
Tổ
đình "Thiên Ấn Tự" được Chúa Nguyễn Phúc Chu ban biển
ngạch "Sắc tứ Thiên Ấn Tự" năm 1716. Ngày nay bên cạnh
chùa, dưới bóng mát của tàn cây đa cổ thụ còn có tháp
của Thiền sư Pháp Hóa và 5 vị trụ trì kế tiếp là Khánh
Văn, Bảo Ấn, Giác Tịnh, Hoằng Phúc, Diệu Quang.
Ngoài
ra, phía trước chùa, trên núi, còn có mộ chí sĩ Huỳnh Thúc
Kháng được nhân dân an táng tại đây năm 1947.
Cũng
năm 1947, chùa Thiên Ấn bị giặc Pháp ném bom sụp đổ. Sau
năm 1954, Giáo hội Tăng già tỉnh Quảng Ngãi được thành
lập, đã phác họa chương trình trùng kiến chùa Thiên Ấn.
Dưới sự chỉ đạo của hai thầy Huyền Tân và Hồng Ân,
chùa được khởi công xây dựng từ năm 1959 và khánh thành
vào ngày mùng 8 tháng giêng năm Tân Sửu (1961).
Là
một thắng tích của đất nước, chùa Thiên Ấn đã trở
thành đề tài ngâm vịnh của nhiều văn nhân thi sĩ. Bài thơ
nổi tiếng nhất viết về chùa là bài Vịnh Thiên Ấn niêm
hà của Nguyễn Cư Trinh (1716 - 1767) :
Phong
cảnh nơi đây thật rất xinh
Niêm
hà có ấn của trời sinh
Xem
kia dấu tích còn vuông vức
Nhận
lại non sông rõ dạng hình
Cách
thức như in đồ Cổ Tự
Cỏ
cây nào phụ tiếng chuông linh
Châu
sa đổ dưới chân chờ mãi
Trấn
chỉ sau lưng núi Cẩm Thành.
(Lamtechucthanh)