CHÙA
TAM THAI NGŨ HÀNH SƠN
Chùa
tọa lạc ở xã Hòa Hải, huyện Hòa Vang, trong khu vực Ngũ
Hành Sơn, tỉnh Quảng Nam - Đà nẵng, cách trung tâm thành phố
Đà Nẵng 13km. Chùa ở sườn núi phía Nam (Thủy Sơn), đi lên
156 bậc đá, là ngôi chùa cổ được dựng vào thời Hậu
Lê. Có tài liệu cho là Thiền sư Nguyên Thiều đã khai sơn
chùa vào hậu bán thế kỷ XVII. Thiền sư Hưng Viên trụ trì
chùa vào cuối thế kỷ XVII. Thời gian này, Thiền sư Thạch
Liêm có ghé viếng chùa, cảm tác các bài thơ vịnh núi Tam
Thai, đặt tên động Hoa Nghiêm phía sau chùa. Chùa bị hỏng
hoàn toàn vào thời Tây Sơn. Dưới đời Vua Minh Mạng, chùa
được ngài Quang Chánh cho trùng tu vào năm 1825 do em gái nhà
vua tu ở chùa. Chùa còn được trùng tu vào đời Vua Thành
Thái và những năm 1995-1996. Nằm trong khu danh thắng Ngũ Hành
Sơn, chùa đã đón tiếp nhiều du khách, Phật tử đến tham
quan, chiêm bái hàng ngày. Chùa đã được Bộ Văn hóa công
nhận là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
TỔ
ĐÌNH TAM THAI NON NƯỚC
Chùa
Tam Thai tọa lạc tại ngọn núi Thủy Sơn, là ngôi chùa cổ
nhất ở Ngũ Hành Sơn. Chúng ta ở dưới đường Huyền Trân
Công Chúa đi đến đường cấp đầu tiên ( tức đường cấp
phía tây ) lên hết đường cấp khoảng 160 bậc là đến một
khoản đất rộng trước cổng Tam Quan, có cây cổ thụ to
lớn tỏa bóng mát khắp mặt sân, có hai dãy ghế đá ngồi
nghĩ ngơi, hai bên là những tấm biển đúc bằng xi măng ghi
những bài kinh Pháp Cú song ngữ ( Anh - Việt ). Tại đây, chúng
ta sẽ thấy cổng Tam Quan và toàn cảnh chùa Tam Thai. Chùa này
theo " Việt Nam danh lam cổ tự " thì được xây dựng
vào đời hậu Lê khoảng năm 1630 là ngôi chùa xưa nhất trên
địa bàn Thành Phố Đà nẵng hiện nay. Theo " Hải ngoại kỷ
sự " thì vào năm Ất Hợi ( 1695 ) Ngài Thích Đại Sán ( Thạch
Liêm ) đã đến thăm chùa này. Từ Huế vào biển cửa Đại
- Hội An để trở về Trung Quốc, Giám quan chỉ tay bảo rằng
: " Đây là núi Tam Thai, ngôi chùa trong ấy tức là Đạo tràng
của Ngài Quả Hoằng ( Hưng Liên ) Quốc Sư, ngày mai chắc
lẽ qua đó chơi ... Đi quanh qua mé núi, thấy đá có viên mọc
đứng thẳng lên lại có chổ dựng đứng như bứt vách, nhưng
chẳng thấy chùa ở đâu, tưởng chẳng có gì kỳ thú vậy.
Chúng tôi đi cách núi chừng nửa dặm thấy một thầy sãi
đứng nhìn chăm chỉ, rồi chạy vội chui vào kẻ đá sau núi
đi mất. Trước núi có một cái gò, trước gò treo lên chừng
trăm bước có một ngôi chùa cổ, sãi trong chùa đánh chuông
trống. mặc áo tràng ra rước vào lễ Phật, mời ngồi, thết
trà, cung đón tươm tất. Nghĩ sao nhanh chóng thế ! mới biết
vừa rồi thầy Tăng đứng trông chừng rồi chạy lui, cốt
để thông báo cho nhà chùa chuẩn bị trước vậy. Nhà chùa
muốn dọn chay, ta bảo hãy chờ sau khi lên núi về đã hay
" . ( Hải ngoại kỷ sự, tr 147 - 148 ) .
Như
vậy, ngôi chùa này vào năm 1695 đã có tăng chúng và do Ngài
Quốc Sư Quả Hoằng - Hưng Liên làm Trụ trì .Ngôi chùa này
đã bị hủy hoại trong các cuộc giao tranh và phải trùng tu
nhiều lần. Khi Nguyễn Ánh ( Vua gia Long ) lánh nạn tại đây,
gặp một vị thiền sư giảng đạo . Vua nghe xong liền phát
nguyện rằng : " Sau này tôi phục quốc xong, tôi sẽ tô điểm
thêm nơi danh lam thắng cảnh này cho được huy hoàng tráng
lệ ". Sau khi Vua Gia Long phục quốc nhưng vì bận công việc
triều chính chưa thực hiện được lời nguyện, nên vua di
chúc lại cho con là Vua Minh Mạng để hoàn thành đại nguyện
của mình. Năm Minh Mạng thứ VI ( 1825 ), Vua Minh Mạng mới
ngự chế Ngũ Hành Sơn, nhà Vua đã cho xây dựng lại chùa
này, vua ban cho chùa một tấm biển ghi rõ :
Âm
: Ngự chế Tam Thai tự, Minh Mạng lục niên phụng tạo " .
Nghĩa
: Ngự chế chùa Tam Thai, năm Minh Mạng thứ VI phụng tạo .
Và
một tấm biển bằng đồng " Quả Tim lửa " cở 35 * 45 cm,
chung quanh có hình ngọn lửa, hai mặt rập chính nét chử của
nhà vua .
Mặt
trước ghi :
Âm
: " Ngã Như Lai dĩ pháp vương ngự thế, hoằng tế nhơn thiên
biến hiện thập phương hư không thường trú, tác thập đại
công đức nhi viêm phương độc hậu yên ".
Nghĩa
: Đức Như Lai của chúng ta đã đem Phật Pháp vô thượng
ngự vào thế gian, mở rộng tế độ cho trời người, biến
khắp mười phương hư không thường trú, Ngài đã làm thập
đại công đức, đâu phải chỉ có nước Nam ta chịu ân huệ
sâu dày ấy .
Mặt
sau ghi :
Âm
: Minh Mạng lục niên kiết nhật tạo .
Nghĩa
: Làm năm Minh Mạng thứ sáu vào một ngày tốt .
Hai
bảo vật này hiện còn lưu giữ tại chùa Tam Thai. Chùa Tam
Thai này cùng chùa Ứng Chơn ( chùa Linh Ứng sau này ) được
công nhận là " Quốc Tự ", các qui định về giáo phẩm, Tăng
đồ, phân bố Tăng chúng đều do triều đình quyết định.
Sau khi công nhận Quốc Tự, nhà vua đã sắc dụ bổ nhiệm
Ngài Trần văn Trừng, Pháp danh Viên Trừng ở làng Xuân Đài,
Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên, lúc đó đang hành đạo tại
chùa Thiên Mụ ở Huế về làm Trụ Trì Chùa Tam Thai ở Ngũ
Hành Sơn. Đồng thời triều đình cấp lương cho quí vị Trụ
Trì và Tăng chúng hai chùa Tam Thai và Ứng Chơn .
Lúc
bấy giờ có Công chúa con Vua Gia Long, tức là em gái vua Minh
Mạng đến xuất gia và thọ giới với Ngài Viên Trừng. Nhà
vua cho triệu hồi về lấy chồng nhưng công chúa không chịu
về và làm một bài thơ gởi về cho vua Minh Mạng :
Thế
sự nhìn xem rối cuộc cờ
Càng
nhìn càng ngắm lại càng dơ
Khua
tan tục niệm hồi chuông sớm
Gõ
vỡ trần tâm tiếng mõ trưa
Châu
Tử chán mùi nên giải ấn
Đỉnh
chung lọng đọng hóa chay dưa
Lên
đàng cứu khổ toan quay lại
Bể
ái trông ra nước đục lờ.
Vua
Minh Mạng là người dã có nhiều công lao mở mang, tôn tạo
khu danh thắng Ngũ Hành Sơn này. Có thể nói bắt đầu từ
thời vua Minh Mạng, Ngũ Hành Sơn nói chung và chùa Tam Thai nói
riêng đã được tô điểm càng thêm đẹp đẽ. Năm Minh Mạng
thứ 7 ( 1826 ) Vua cho đúc tượng Phật, Chuông bằng đồng
ban cho các chùa, nhưng qua chiến tranh đã bị thất lạc, bây
giờ chùa Tam Thai còn lại một quả chuông khoảng gần 100
kg .
Ngôi
chùa này đã trải qua thời gian lâu xa và các cuộc chiến
tranh nên ngôi chùa đã được trùng tu nhiều lần, lần trùng
tu gần đây nhất là vào năm 1995. Ngôi chùa hiện nay được
xây dựng bằng xi măng cốt sắt rất kiên cố. mặt tiền
xây về hướng Nam , mái hai tầng lợp ngói, trên nóc trang
trí Lưỡng Long Chầu Nguyệt và trang trí Tứ Linh ( Long, Lân,
Quy, Phụng ) các cột tiền đường đều có trang trí rồng
phụng. Đặc biệt là cổng Tam Quan và bờ thành chung quanh
chùa rất cổ kính được xây dựng từ thời Minh Mạng còn
đến bây giờ. Từ cổng Tam quan đi vào khoảng 10m, có tôn
trí tượng Đức Phật Di Lặc to lớn ngồi trên tòa sen bằng
đá xanh do nghệ nhân ở Ngũ Hành Sơn điêu khắc, chánh điện
hiện tại chính giữa thờ Đức Phật A Di Đà đứng trên
tòa sen cao khoảng 2,5m. Hai bên thờ Đức Quán Thế Âm và Đức
Đại Thế Chí Bồ Tát. Tiền đường hai bên thờ Ngài Hộ
Pháp và Ngài Tiêu Diện. Hai trụ cột chính giữa chánh điện
có hai câu đối bằng đá .
Phiên
âm :
Tam
thừa giáo điển viên dung vô ngại chơn như
Thai
hành diệu pháp quảng khai phương tiện độ quần sanh .
Tam
dịch :
Giáo
điển tam thừa viên dung vô ngại rõ chơn như
Thực
hành diệu pháp rộng mở phương tiện độ chúng sanh .
Sau
lưng chánh điện là nhà thờ Tổ. Nhà Tổ này nguyên trước
đây ở Chánh điện khoảng 30m về phía bên phải. Sau khi đại
trùng tu 1995, nhà Tổ được xây dựng ngay sau chánh điện
và được chuyển từ nhà Tổ cũ về thờ tại đây. Chính
giữa trên thờ Tổ Bồ Đề Đạt Ma, dưới thờ các long vị
Hòa thượng Trụ trì hoằng hóa tại chùa. Hai bên thờ Tăng
chúng và bàn thờ chư hương linh ký tự và tín đồ Phật
tử quá cố. Trên các trụ cột Tổ đường treo các liển
đối :
Phiên
âm :
Ưu
bát hoa khai hương biến thiền lâm quang Tổ ấn
Bồ
đề thọ trưởng ấm thùy phước địa chấn Tông phong .
Tam
dịch :
Hoa
Ưu đàm tỏa hương khắp rừng thiền ngời Tổ ấn
Cội
Bồ đề xanh tốt gây cõi phúc chấn Tông phong .
Phiên
âm :
Tích
thiện hữu do lai Tiên nguyên Khánh diễn
Đắc
đạo vị khả lượng pháp phái vinh thăng .
Tam
dịch :
Chứa
đức dày sâu đời nào trở lại dòng Tiên Khánh diễn
Chứng
đạo nhiệm mầu người không kể xiết môn phái sinh sôi .
Ngôi
chùa này từ Vua Minh Mạng cho đến các vị vua sau này của
triều Nguyễn đều rất quan tâm đến. Vua Thành Thái năm thứ
14 ( 1902 ) đã đích thân giá ngự đến Chùa Tam Thai và Chùa
Linh Ứng để tổ chức trai đàn phụng Phật, nguyện cầu
quốc thái dân an. Vua Thành Thái cũng sắc phong Tăng cang cho
quý Hòa Thượng Từ Trí, Hòa Thượng Từ Nhẫn, Hòa Thượng
Phước Điền, Hòa Thượng Phước Trí ...
*)
Đôi nét về Tổ Viên Trừng
Ngài
thế danh là Trần Văn Trừng, húy Tiên Thường, hiệu Viên
Trừng Đại Sư. Ngài quê quán ở làng Xuân Đài, Huyện Đồng
Xuân, Tỉnh Phú Yên, không rõ là Ngài xuất gia năm nào và
tại đâu, chỉ biết trước khi được Vua bổ nhiệm về làm
Trụ trì Chùa Tam Thai thì Ngài đang hành đạo tại Chùa Thiên
Mụ ở Huế. Năm Minh Mạng thứ VII ( 1826 ) Vua Minh Mạng sắc
dụ bổ nhiệm Ngài về làm trụ trì Chùa Tam Thai ở Ngũ Hành
Sơn. Trong thiền môn thường kể lại nhiều về danh tiếng
và đức hạnh tu hành của Ngài. Mỗi ngày Ngài chỉ ăn một
bữa vào giờ ngọ, luôn chú tâm giới khẩu. Các đệ tử
của Ngài thuật lại rằng: Ngài niệm kinh liên tục và tịnh
tâm tu trì pháp môn Tịnh độ rất nghiêm mật. Ngài đã tiếp
Tăng độ chúng và xiển dương Phật Pháp rất thịnh hành
tại Ngũ Hành Sơn. Suốt gần 30 năm Trụ trì hoằng dương
Phật Pháp tại Chùa tam Thai, khi công hạnh viên mãn Ngài đã
an nhiên tịch diệt vào ngày mồng một tháng chạp âm lịch
năm Tự Đức thứ VI ( 1853 ), thọ 77 tuổi. Môn đồ Pháp quyến
đã xây tháp an trí nhục thân của Ngài tại phía nam ngọn
núi thổ sơn và ngôi tháp vẫn còn tồn tại cho đến bây
giờ .
Kể
từ Tổ Viên Trừng cho đến bây giờ, Chùa Tam Thai đã kế
tiếp mười sáu đời trụ trì hoằng dương phật pháp như
sau :
1.
Tổ húy Tiên Thường, hiệu Viên Trừng Đại sư
2.
Hòa Thượng hiệu Huệ Quang
3.
Hòa Thượng hiệu Hoằng Ân
4.
Hòa Thượng hiệu Mật hạnh
5.
Hòa Thượng hiệu Chí Thành
6.
Hòa Thượng hiệu Từ Trí
7.
Hòa Thượng hiệu Từ Nhẫn
8.
Hòa Thượng hiệu Phước Điền
9.
Hòa Thượng hiệu Phước Trí
10.
Hòa thượng hiệu Phước Thông
11.
Hòa thượng hiệu Thiện Trung
12.
Hòa Thượng hiệu Thiện Quả
13.
Hòa Thượng hiệu Tôn Bảo
14.
Hòa Thượng hiệu Huệ Tràng
15.
Hòa Thượng hiệu Trí Giác
16.
Thượng Tọa Thích Hạnh Mãn trụ trì hiện nay .
Như
vậy, ngôi Chùa Tam Thai trải qua bốn thế kỷ và mười sáu
đời trụ trì ( Kể về Tổ Viên Trừng trở về đây ) truyền
thừa hoằng dương Phật Pháp. Ngôi chùa trải qua thời gian
lâu xa cũng như vì chiến tranh tàn phá nên ngôi chùa đã trùng
tu nhiều lần, tuy trùng tu nhiều lần nhưng ngôi chùa hiện
tại vẫn còn giữ được sự trang nghiêm cổ kính và hài
hòa với khung cảnh thiên nhiên thanh tịnh.
ĐĐ
Thích Hạnh Nghĩa
(Lamtechucthanh)