TỔ
ĐÌNH CHÚC THÁNH
Chùa
tọa lạc tại phường Cẩm Phô, thị xã Hội An, tỉnh Quảng
Nam - Đà Nẵng. Chùa do Thiền sư Minh Hải - Pháp Bảo khai sáng
vào khoảng cuối thế kỷ XVII. Chánh điện bài trí tôn nghiêm,
ở đây có bộ Thập bát La-hán bằng đất nung cao 0,70m, phần
tượng cao 0,45m, ngang cở 0,28m khá đẹp. Chùa đã được trùng
tu nhiều lần vào các năm 1845, 1849, 1892, 1894. Hòa thượng
trụ trì Thích Trí Nhãn đã tổ chức trùng tu liên tục trong
những thập niên gần đây. Chùa là ngôi cổ tự nổi tiếng
ở Hội An, ngôi Tổ đình của chi phái Thiền Chúc Thánh ở
miền Trung và miền Nam. Chùa đã được Bộ Văn hóa công nhận
là Di tích lịch sử - văn hóa quốc gia.
QUÁ
TRÌNH KHAI SÁNG VÀ TRÙNG TU
TỔ
ĐÌNH CHÚC THÁNH.
1.Địa
thế, phong thủy ngôi Tổ đình.
Từ
Đà Nẵng về Hội An theo đường Non Nước khoảng 30 km, lúc
chưa đến Hội An khoảng 1km nhìn qua phía tay trái có một
con đường thẳng nằm giữa nhà hát lớn Hội An và trường
Trung học Điện, đi vào hết con đường này khoảng 300m là
chùa Chúc Thánh, tọa lạc ngay giữa cuối con đường. Địa
thế chùa Chúc Thánh nằm quay mặt về hướng Tây - Nam, nằm
gọn trên một vùng đất cao thoáng thuộc khối Tân hòa phường
Tân An, Hội An ( trước là phường Cẩm phô hay làng Thanh Hà,
huyện Diên Phước phủ Điện Bàn), cách trung tâm phố cổ
Hội An về hướng Bắc khoảng 1km.
Nơi
đây vào những năm 1987, 1988 vẫn còn là nơi thanh tịnh vắng
vẻ, chung quanh ngôi chùa nhìn về xa xa chỉ thỉnh thoảng vài
ngôi nhà dân, còn lại đa số là những khu rừng thông, những
cồn cát trắng và những ngôi mộ xưa. Hàng rào chùa dày từ
8 đến 10m, được tạo nên bởi nhiều loại cây xanh mát.
Đứng trong khu vườn chùa, mọi người sẽ có cảm giác như
ngôi chùa đang ở giữa khu rừng nguyên sinh đầy hương thơm
cỏ lạ, chim chóc 4 mùa hội tụ. Có thể nói đây là một
môi trường sinh thái tốt, thanh tịnh, phù hợp với cảnh
thiền môn.
Theo
phong tục người Trung Hoa thì họ đến đâu thường hay lập
chùa, miếu để thờ cúng cầu nguyện mưa thuận gió hòa,
nhân dân an cư lạc nghiệp. Như đã trình bày, cùng với thời
điểm chùa Chúc Thánh ra đời, Hội An là một thương cảng
trù phú, những thương nhân đến từ nước ngoài chủ yếu
là người Hoa và coú một số người trong họ đã định cư
ở đây. Vì vậy, Tổ Minh Hải sau khi quyết định ở lại
tại Hội An hoằng Pháp, Ngài chọn ra một nơi để tạo lập
chùa Chúc Thánh với khoảng cách lý tưởng khoảng 1km không
gần lắm cũng không xa lắm so với trung tâm phố cảng. Địa
thế này nhằm 2 mục đích: Một là, nơi yên tĩnh vắng vẻ,
điều kiện tu hành thiền định thích hợp và hai là, không
xa lắm nơi dân cư, để tạo điều kiện cho những người
dân ở đây có thể bước bộ đến chùa lễ Phật tụng kinh.
Cũng từ lòng tín ngưỡng Phật giáo mạnh của người dân
Việt và Hoa kiều tại đây mà ngôi Tổ đình Chúc Thánh
cũng trở nên phong phú về nhiều mặt, phong phú từ lối kiến
trúc đến cách thờ phụng, như ngoài việc thờ Phật chính
trong Chánh điện, ngoài vườn còn lập miếu Ông, miếu Bà
để thờ các Thần Thành Hoàng, Thổ Địa để cho những người
đến cầu xin được phù hộ mua may bán đắt, đi đến nơi
về đến chốn. Đấy là những tín ngưỡng thuần túy tính
nhân gian.
Mặc
dù ngày nay chung quanh bên ngoài chùa Chúc Thánh không còn những
bãi cát, những đồi thông xanh rì vi vu trong gió nữa, đến
chùa không còn phải băng bộ qua những đoạn đường cát
nữa, mà thay vào đó là những ngôi nhà đồ sộ và con đường
đất cứng vì nhu cầu dân số và phát triển đô thị. Nhưng
bên trong vườn chùa vẫn còn giữ được dáng vẻ cổ kính,
hàng cây cổ thụ vẫn còn đó, hình ảnh ngôi chùa vẫn cổ
kính rêu phong, những lớp bụi thời gian không thể nào xóa
nhòa đi được.
2.Ý
nghĩa tên ngôi Tổ đình.
Tên
" Chúc Thánh" có từ lúc Tổ Minh Hải đặt chân đến khai
sơn ngôi chùa. Về mặt ý nghĩa 2 chữ Chúc Thánh có 2
cách giải thích sau đây:
Một
là, từ nữa thế kỷ 17, các Chúa Nguyễn Đàng Trong trọng
đãi Phật giáo nói chung và ngài Minh Hải nói riêng, nên khi
lập chùa, ngài Minh Hải muốn thể hiện tình cảm của mình
đối với các chúa Nguyễn bằng cách đặt tên cho ngôi chùa
là Chúc Thánh (tức chúc cho Thánh Thượng được mọi điều
tốt lành).
Hai
là, lúc bấy giờ tại Trung Quốc cũng có một ngôi chùa tên
Chúc Thánh. Vì vậy, Ngài Minh Hải sau khi đến Việt Nam khai
sơn ngôi chùa đặt lại tên Chúc Thánh là để làm kỷ niệm
nhớ lại quê hương xứ sở của mình.
Hai
cách giải thích tên Tổ đình Chúc Thánh trên, ý nghĩa nào
cũng có phần hợp lí. Nhưng cách giải thích thứ 2 thì chưa
có cơ sở để chứng minh được. Vậy tạm thời có thể
hiểu theo cách giải thích thứ nhất là " Chúc cho Thánh Thượng
được mọi điều tốt lành" nói gọn là " Chúc Thánh". Ý
nghĩa này cũng trùng lặp câu thứ 3 trong bài kệ của Ngài
truyền tại Chúc Thánh:" Chúc Thánh thọ thiên cửu" (Chúc Thánh
Thượng muôn tuổi).
3.Quá
trình khai sáng và trùng tu.
Như
đã trình bày, Tổ đình Chúc Thánh do thiền Sư Minh Hải -
Pháp Bảo thuộc thiền phái Lâm Tế đời 34 từ Trung
Quốc sang khai sáng vào cuối thế kỷ XVII.
Thiền
sư Minh Hải từ Quảng Đông Trung Quốc theo phái đoàn Ngài
Thạch Liêm đến Việt Nam để dự Đại giới
đàn tại Huế vào năm Ất Hợi (1695 ). Sau khi giới đàn xong,
Ngài Thạch Liêm cùng phái đoàn lưu lại Thuận Hóa đến năm
1696 mới trở về lại Trung Quốc.
Sau
khi Ngài Thạch Liêm về nước, Ngài Minh Hải ở lại Hội
An qua năm sau (1697) khai sơn Tổ đình Chúc Thánh tại xã Cẩm
Phô (nay là thị xã Hội An) (6.91)
Tương
truyền, vào thời Ngài Minh Hải, chùa Chúc Thánh chỉ là một
ngôi chùa nhỏ đơn sơ. Tại đây, Ngài đã hoằng pháp lợi
sanh, tiếng vang khắp mọi nhà. Ngài đã biệt xuất kệ truyền
thừa, tạo nên một pháp phái Lâm Tế riêng tại Hội
An. Sau này, các thế hệ truyền thừa của Ngài đã không ngừng
phát huy đạo Pháp và phát triển kiến trúc ngôi Tổ Đình
thật qui mô và bề thế như ngày hôm nay.
Tổ
đình Chúc Thánh sau Ngài Minh Hải hai đời ( Ngài Thiệt Diệu
và Ngài Đại Dõng ), vào năm Âút Mùi (1845), Ngài Toàn Nhâm
(Vi Ý) khởi công đại trùng tu và chuyển hướng ngôi
chùa từ hướng Tây sang hướng Tây - Nam để phù hợp với
địa thế phong thổ. Qua 4 năm sau (1849), Ngài tiếp tục khởi
công xây thêm Tiền đường làm tăng gấp đôi diện tích trong
Chánh điện. Đến năm Nhâm Thìn (1892), Hòa Thượng Chương
Đạo hiệu Quảng Viên trùng tu lại Tiền đường qui mô hơn.
Năm Giáp Ngọ (1894), Hòa Thượng Chương Khoáng hiệu Chứng
Đạo đời thứ 38 và phó trú trì hiệu Quảng Đạt xây dựng
thêm ngôi Hậu Tổ. Năm Ất Hợi(1911), Hòa Thượng trú trì
húy Ấn Bính hiệu Phổ Bảo đời thứ 39 lại khởi công
đại trùng tu ngôi Chánh điện, nâng nền Tiền đường lên
cao hơn và xây thêm các dãy Đông đường, Tây đường. Những
công trình lần này gần như cố định và qui mô cho đến
ngày nay. Từ các năm 1954 đến 1960, Hòa Thượng Tăng cang húy
Chơn Chứng hiệu Thiện Quả đời thứ 40 tiến hành trùng
tu từng phần, khiến ngôi chùa trở nên hoàn mỹ hơn. Năm
Tân Mùi (1991), Hòa Thượng Như Truyện hiệu Trí Nhãn tiếp
nối trú trì đời thứ 40 (đang trú trì hiện nay) trùng tu
lại ngôi tháp Tổ từ 3 tầng lên 7 tầng, góp phần tăng thêm
vẻ đẹp trong khuôn viên chùa (1.1).
2.3.4.
Hình thái kiến trúc, liễn, đối, bia, tháp.
Chùa
Chúc Thánh quay mặt vêì hướng Tây-Nam nằm trên một mảnh
đất thoáng mát với chiều rộng 130m và chiều sâu 96m. Nhìn
từ ngoài vào, ngôi chùa nằm lặng dưới những táng cây cổ
thụ rợp mát, tạo nên một dáng vẻ trầm hùng, thanh tịnh.
Xung quanh chùa được bao bọc bởi một dãy cây đủ loại,
bốn mùa đơm hoa kết trái, ong bướm tới lui, chim chóc làm
tổ. Khung cảnh thanh bình này được kết hợp giữa thiên
nhiên và con người, nó đã làm lắng đọng biết bao tâm tư
phiền muộn của những con người bị thất bại trên trường
danh lợi và cũng là cái nôi đã nuôi lớn biết bao anh tài
đóng góp xây dựng đạo Pháp, dân tộc, ảnh hưởng đến
ngày nay. Vào những đêm trăng thanh gió mát, khung cảnh của
chùa lại trở nên mênh mông, quạnh hiu và cô tịch hơn. Thật
đúng với câu thơ nói về cảnh chùa miền quê đất Việt:
"Quê
tôi có gió bốn mùa
Có
trăng giữa tháng, có chùa quanh năm
Chuông
hôm, gió sớm, trăng rằm
Chỉ
thanh đạm thế âm thầm thế thôi". (ca dao)
Trước
khi vào chùa, nhìn thấy cổng Tam quan rêu phong cổ kính. Vào
trong, tiếp theo là bồn hoa, những ngôi tháp cổ, bình
phong, Đông đường, Tây đường, Chánh điện, Hậu tẩm, Phương
trượng, Tổ đường ... Tất cả đều được kết hợp giữa
truyền thống và hiện đại, giữa kiến trúc Tàu và Việt
Nam. Điều đó nói lên một thời vàng son cực thịnh về văn
hóa, tôn giáo và thương mại của khu phố cổ này một thời
xưa kia nói chung và Phật giáo tại đây nói riêng. Sau đây
người viết sẽ lần lược trình bày từng chi tiết kiến
trúc của ngôi Tổ đình cũng như ý nghĩa liễn đối, bia tháp
trong đó.
* Cổng
Tam quan:
Cổng
Tam quan cách con đường ngang trước chùa 26m và cách Chánh
điện 50m. Cổng tam quan đứng giữa 2 bức tường thành kiên
cố và được thiết kế thành 2 tầng. Đỉnh trên cùng là
2 con sư tử trong tư thế ngồi chồm quay mặt vào nhau, tầng
dưới là mái ngói giả, lối bước vào gồm 3 cổng; cổng
giữa to lớn, cổng hai bên thấp nhỏ hơn, trên cổng giữa
có 5 chữ Sắc tứ Chúc Thánh tự môn và câu đối:
Chúc
đối Linh sơn thiên cổ tú
Thánh
khai Pháp thủy nhứt nguyên trường.
Dịch
nghĩa:
Chúc
như Linh sơn ngàn xưa xanh tốt
Thánh
mở nước Pháp một dòng dài xa.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
*
Chánh điện:
Vào
khỏi cổng Tam quan là bồn bông, kế tiếp bồn bông là bức
bình phong. Bức bình phong này cũng có niên đại khoảng với
việc tu sửa ngôi chùa, trước bình phong là hàng non bộ có
tượng Quan Âm lộ thiên ở trên. Bình phong cách Tiền đường
và Chánh điện một sân bông. Tiền đường và Chánh điện
Tổng cộng bề ngang 12m và bề sâu 18m. Thiết kế ngôi chùa
bên trong bởi nhiều kèo cột gỗ như " Chồng rường giả
thủ" thuộc phong cách Tàu, "Cột trốn kẻ chuyện" thuộc phong
cách Việt. Bức tường chùa dày 30cm, mùa hạ ít nóng mùa
đông ít lạnh. Hai bên hông Tiền đường và Chánh điện là
hai đường thông hành chạy thẳng ra phía sau nhà Tổ. Chánh
điện nằm ngay giữa cân đối, hợp lí, một đặc trưng phổ
biến trong kiến trúc phố cổ Hội An. Trước hiên chùa có
2 câu đối:
Câu
1 :
Chúc
Nam quốc Chí tôn tứ hải nhơn dân hàm khể thủ
Thánh
Tây Phương liên tòa nhứt đàn Tăng chúng Tổng qui y.
Dịch
nghĩa:
Chúc
đấng Chí tôn Nam Quốc, bốn bể nhân dân đều cung kính
Thánh
ngự tòa sen Tây Phương, một đàn Tăng chúng thảy qui y.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
2:
Chúc
đối Linh sơn vạn cổ vĩnh truyền tâm diệu lí
Thánh
khai Pháp thủy thiên thu kế tục tánh chơn như.
Dịch
nghĩa:
Chúc
sánh Linh sơn muôn thuở mãi truyền tâm diệu lí
Thánh
mở nước Pháp ngàn năm tiếp nối tánh chơn như.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Mái
chùa lợp bằng ngói âm dương uốn cong, mềm mại, trên chóp
đỉnh là một cặp rồng quay mặt vào nhau đang rướn mình
đến mặt trời chính giữa. Phía sau 2 con rồng là 2 con phụng
đang bay ra mà ngoảnh đầu nhìn lại. Tiếp xuống hiên
mái chùa trang trí những hoa văn, chạm trổ những hình ảnh
Đức Phật Thích Ca từ sơ sinh đến nhập diệt và góc cuối
cùng của mái hiên là 2 con kỳ lân đang đứng quay mặt ra
phía trước.
Bên
trong, giữa Chánh điện và Tiền đường được liên kết
với nhau bằng một máng xối đúc và 4 hàng cột gỗ cho cả
2 bên. Trên hàng cột của Tiền đường là 4 bức hoành phi
sơn son thiếp vàng, cẩn chạm xà cừ; Một tấm ngay trước
cửa Tiền đường quay vô do Hòa Thượng Phước Huệ tặng
vào năm Giáp Tuất gồm 4 chữ: Phật Pháp
chánh chương, còn lại 3 tấm treo ở 3 gian quay mặt ra, tấm
giữa đề tên ngôi chùa Sắc tứ Chúc Thánh tự, tấm
bên phải? Tổ ấn trùng quang và tấm bên trái Ân quang phạm
vức. Dưới nền Tiền đường, hai bên hông tường gắn 4
tấm bia, nội dung ghi sơ lược lại những lần trùng tu ngôi
chùa và các phương danh các chùa, đạo hữu đóng góp xây
dựng. Ngoài ra, trong Chánh điện còn có trống lớn, trống
nhỏ, đại hồng chung, tiểu hồng chung. Đại hồng chung được
đúc vào năm Giáp Ngọ ( 1894), được dưới sự chứng minh
của các Hòa Thượng Vĩnh Gia, Chí Thành, Quảng Đạt, Quảng
Viên và Bát Nhã. Đại hồng chung cao 120cm, đường kính rộng
55cm. Trong đại hồng chung có khắc niên đại đúc chung, các
Hòa Thượng chứng minh, các bài kệ phục nguyện về “ Chúc
Hoàng đồ vĩnh cố, Đế đạo hà xương ...”.
Chánh
điện, gian giữa bàn phía trên cao thờ 3 tượng Phật gọi
là tượng Tam Thế, bàn dưới thờ tượng đức Phật Di Lặc
và 2 bên là A Nan và Ca Diếp. Hai gian 2 bên, trong cùng là 2
tượng Bồ Tát Văn Thù và Phổ Hiền, mỗi tượng cao 1m 75
(không tính đế). Ra ngoài, hai bàn kế tiếp là 18 vị A La
Hán (mỗi bên 9 vị) và phía bên ngoài cùng là 2 tượng Hộ
Pháp và Tiêu Diện, mỗi tượng cao 1m 75 (không tính đế).
Những tượng trên có niên đại cao, đa số làm bằng hợp
chất. Chánh điện chỉ có một bức hoành để tên chùa
làm vào Thành Thái năm thứ 4 . Cả Chánh điện và Tiền đường
gồm có 5 câu đối ( tính thứ tự từ ngoài vào):
Câu
1 :
Tử
trúc lâm trung mỗi dĩ kim thằng khai giác lộ
Thanh
liên tòa thượng trường tương bảo phiệt độ mê tân.
Dịch
nghĩa:
Trong
rừng trúc biếc mỗi lấy dây vàng mở lối giác
Trên
tòa sen xanh thường đem bè báu độ người mê.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
2:
Chúc
thiên thu cửu phẩm hương liên tự tại
Thánh
Thiên tử vạn gia cam lộ đồng triêm.
Dịch
nghĩa:
Chúc
ngàn năm chín phẩm hương sen tự tại
Thánh
Thiên tử muôn nhà cùng thấm cam lồ.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
3 :
Tam
Tạng kinh văn giai sử nhứt tâm qui Chánh Pháp
Thiên
ban cụ diệp tổng huề vạn tượng hướng Chơn Như.
Dịch
nghĩa:
Ba
tạng kinh văn đều khiến nhất tâm về Chánh Pháp
Ngàn
thiên lá bối thảy xoay muôn vật hướng Chơn Như.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
4 :
Cửu
phẩm liên đài Kim tướng đoan nghiêm thùy tiếp dẫn
Thất
trùng bảo thọ Ngọc hào xán lạng phóng quang minh.
Dịch
nghĩa:
Chín
phẩm đài sen Kim tướng đoan nghiêm thương tiếp dẫn
Bảy
hàng cây báu Ngọc hào sáng lạng phóng quang minh.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
5:
Cửu
phẩm liên hoa sư hống tượng minh đăng Bảo tòa
Tam
tôn pháp tướng long ngâm hổ khiếu xuất Thiên Thai.
Dịch
nghĩa:
Chín
phẩm hoa sen voi sư ( tử) cung nghinh đăng Bảo tòa
Tam
tôn pháp tướng rồng cọp kêu gọi xuất Thiên Thai.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
* Hậu
tẩm, Đông phương tượng, Tây phương tượng và Tổ đường:
Dọc
theo 2 đường thông hành từ Chánh điện ra phía sau là Hậu
tẩm. Hậu tẩm, gian giữa thờ đức Địa Tạng đang cầm
trên tay quả minh châu ngồi trên lưng con sư tử rất hùng
hồn, tượng cao 2m, những nét áo, hoa văn chạm trổ rất mĩ
thuật. Hai gian 2 bên là bàn thờ Phổ Liên Hoa và Ái Sở Thân.
Trước bàn Địa Tạng là sân lộ thiên rộng 7m, dài 10m, dùng
để đặt các loại hoa, cây cảnh quý. Hai bên sân là Đông
phương tượng dùng để Tăng chúng ở và Tây phương trượng
để thờ hương linh. Bước qua khỏi sân là đến Tổ đường.
Tổ đường này mặc dù đã có từ lâu nhưng chỉ trong hình
thức đơn sơ, mãi đến các đời Ngài Chương Khoáng, Chơn
Chứng ngôi Tổ đường mới trở nên qui mô khang trang hơn.
Tổ đường bề ngang 11m, bề sâu 9m tính cả đường thông
hành vây quanh . Đường thông hành chủ yếu để làm nơi nghỉ
ngơi của hàng Tăng chúng các nơi mỗi khi tề tụ về đây
an cư kiết hạ và cũng là nơi bảo tồn các kinh sách, bảng
gỗ kinh cũ. Ngay chính giữa Tổ đường là nghi án thờ long
vị các vị Tổ sư trú trì từ Tổ Minh Hải trở xuống. Nghi
án bằng gỗ, những nét chạm trỗ và sơn son thiếp vàng rất
công phu. Trên nghi án có 4 chữ thủy thanh nguyệt hiện. Chính
giữa nghi án là long vị và di ảnh của Tổ sư Minh Hải, tiếp
theo 2 bên là long vị lịch đại chư vị trú trì từ cao xuống
thấp. Quanh nghi án trang trí những bộ bê tích trượng và
các bình bát của các vị ngày xưa dùng để thọ thực. Trên
cửa Tổ đường một bức hoành quay vô gồm 4 chữ: Tổ ấn
lưu huy. Chính giữa phía trên cao quay ra 3 bức hoành; bức giữaThích
trạch vinh triêm, hai tấm hai bên là Hoa vũ di thiên và Phật
pháp tôn nghiêm. Dãy cuối cùng cũng 3 bức; bức giữa Tổ
Tổ tương truyền, hai bức hai bên Tích thụ kim hoa
và Lộ ác đàm hoa. Phía dưới, bên phải nghi án
Tổ là bàn thờ để thờ Tăng chúng quá cố, bên trái là
Phổ Liên Hoa, phía trước là Phổ Phật Sanh và Phổ Triều
Âm. Rường cột Tổ đường toàn bằng gỗ, mỗi cột treo
câu đối tính thứ tự từ ngoài vào:
Câu
1:
Chúc
Thánh triệu sơ cơ mộ cổ thần chung khai giác lộ
Cao
Tăng phu quảng tòa quang phong tiêu nguyệt ấn thiền tâm.
Dịch
nghĩa:
Chúc
Thánh mới dựng lập, khuya sớm trống chuông mở đường giác
Cao
Tăng trải pháp toà, đêm ngày trăng gió in tâm thiền.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch
Câu
2 :
Phật
xuất Tây phương pháp diệu túc trung tạng thế giới
Tổ
lai Nam quốc đạo truyền đăng hạ mãn thiền lâm.
Dịch
nghĩa:
Phật
tại Tây phương nói pháp vi diệu trùm pháp giới
Tổ
đến nước Nam truyền đạo đầy khắp chốn thiền lâm.
Thích
Hạnh Thiện dịch.
Câu
3:
Liên
tòa vân khai hương đáo thiên đình long sủng mạng
Dương
chi lộ ấp căn tài địa ấm phát kim hoa.
Dịch
nghĩa:
Mây
mở tòa sen, hương đến thiên đình hưng mạng vận
Cành
dương nhuần thấm bóng che gốc rễ trổ hoa tươi.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Câu
4:
Hách
trạc thanh linh thiên cổ ngưỡng
Tôn
nghiêm sư phạm ức niên khâm.
Dịch
nghĩa:
Thanh
linh oai vệ ngàn xưa đều kính ngưỡng
Sư
phạm tôn nghiêm muôn thuở mãi khâm sùng.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
* Đông
đường, Tây đường:
Đông
đường và Tây đường nằm 2 bên trước sân Tiền đường,
nối liền với Tiền đường một cái nhà gọi là nhà cầu
( cầu bắt ngang giữa Tiền đường và Đông đường, Tây
đường). Chiều dài Đông đường và Tây đường dài 11m,
nhưng bề rộng của Tây đường chỉ 6 m và Đông đường
đến 9m, trên mái của 2 bên đều lợp ngói âm dương, bên
trong là rường cột gỗ. Tây đường chỉ để thờ linh và
Tăng chúng tu học, Đông đường là nơi tiếp khách, gian giữa
là bàn Giám Trai thờ đức Đạt Ma. Trước bàn Giám Trai treo
trên cao một bức hoành 4 chữ: Thiên vũ bảo hoa. Hai bức phía
trước là Nhựt phương thăng và Huệ nhựt quang vinh. Đông
đường chỉ có 2 câu đối:
Phiên
âm:
Chúc
thánh thọ vô cương thiền lâm vĩnh mậu
Hộ
Pháp luân thường chuyển hải chúng đồng vinh.
Dịch
nghĩa:
Chúc
Thánh thọ an khương rừng thiền mãi tươi tốt
Hộ
xe Pháp thường xoay hải chúng cùng hiển vinh.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
Phiên
âm:
Cơ
tải phụng hành thiền pháp giới
Tha
thần kỳ thọ Phật tâm trai.
Dịch
nghĩa:
Bao
năm phụng hành thiền môn giới pháp
Ngày
sau thọ hưởng Phật Tổ tâm trai.
TT
Thích Hạnh Niệm dịch.
* Những
ngôi tháp Tổ:
Bia
tháp quanh vườn chùa trên dưới 20 cái. Đó là những nơi
tôn trí nhục thân của chư vị Hòa Thượng, Thượng Tọa...
đã quá cố. Tháp Tổ Minh Hải cao nhất gồm 7 tầng, cao 15m,
tiếp xuống là những tháp 5 tầng, 3 tầng và 1 tầng. Những
tháp này vì thời gian nên có cái bị hư sửa lại, lại có
cái chỉ còn một tấm bia....Như tháp của Ngài Đại Dõng
(Siêu Căn) chỉ còn lại một tấm bia nhỏ, những chữ trong
bia cũng đã bị phai nhạt.
Ngoài
ra, trong vườn chùa còn có ngôi mộ song thân của Tổ Minh
Hải là Ông Lương Đôn Hậu và bà Trần Thục Thận. Ngôi
mộ nằm chệch về phía trước tháp Tổ.
Nguồn:Luận
văn Hạnh Thiên - 2001
Xem
thêm hình ảnh (Lamtechucthanh.com)