Ngôi
cồ tự Trùng Khánh được xây cất gần với núi Phụng Sơn
(tục gọi là núi đá Chồng) xoay về hướng Nam nơi gió biển
lộng và phía Tây Bắc là Đầm Nại nổi tiếng về danh lam.
Xét về địa thế, đây là vùng hội tụ của mãnh đất “địa
linh nhân kiệt” sản sinh ra nhiều nhân tài làm rạng rỡ
khắp mọi vùng xưa nay.
Nhìn
toàn cảnh, ngôi cổ tự được bao bọc bởi cánh đồng lúa
quanh năm tươi tốt lẫn với hàng dừa xanh che mát. Trước
chánh điện, một khoảng sân rộng có ao sen, giữa hồ có
Quan Thế Âm và phía sau chùa là một cụm núi sừng sững với
hòn núi sau lưng như một trái Phật thủ và một ngòi bút
kỳ sơn.
Chùa
với kiến trúc theo kiểu hình chữ “tam”, gồm phần trước
là chánh điện theo phong cách kiến trúc chùa Từ Đàm – Huế
nhưng có một vài nét sáng tạo thông qua các gốc uốn của
các đầu đao và với kiểu mái chồng diêm phía trước như
hấp thụ phong cách của các kiến trúc ngôi chùa Nam bộ. Ở
những điểm uốn cong của các đầu đao là phần trang trí
gốc loại hoa sen được cách điệu hóa. Trên những mảng
hở giữa mái diêm chồng bốn góc mái phần trên hệ thống
đầu đao. Trên nóc đỉnh được bố trí theo hình thuyền
với hai con rồng chạm nổi đang quay đầu lại cùng chầu
bánh xe pháp luân được đặt trên mình hai con rồng uốn cong
phần mình tạo cho thế chuyển động của bánh xe thêm phần
hoành tráng. Khoảng hở giữa hai phần mái và đỉnh được
xây dựng tạo nên các ô cửa giả trang trí hình hoa sen, phần
giữa có trang trí hình chữ “vạn”. Trước chánh điện
là tam đa môn truyền. Hai bên cánh cửa là lầu chuông trống
với phần trước hai ổ cửa giả hình vuông tranh trí hình
hoa và lá sen.
Đi
vào không gian thờ tự với phần trung tâm thờ Đức Bổn
Sư, hai bên tả hữu là tượng Hộ Pháp, Thần Vương, Già
Lam Thánh Chúng, tạc theo thể đứng, phần đài thờ dưới
tôn trí tượng Đức Phật nhập niết bàn và tượng Phật
Di Lặc cở nhỏ, phía sau tượng Đức Bổn Sư là khám thờ
tôn trí tượng Tam Tôn “Di Đà, Quan Âm, Thế Chí” được
làm bằng đất sét với những đường nét điêu khắc sắc
xảo, nếp áo mềm mại có giá trị mỹ thuật cao, phản ánh
trình độ kiến tạo tượng Phật của các nghệ nhân Ninh
Thuận đạt đến mức hoàn hảo.
Hai
bên chánh điện phía bên phải là bàn thờ đức Quan Thế
Âm và bên trái là Ngài Địa Tạng được tạc theo thế ngồi
uy nghiêm và tỉnh tọa. nối tiếp khuôn viên chánh điện là
hậu tổ với trung tâm bàn thờ tổ tôn thờ Tổ Sư Đạt
Ma và Chư vị Tổ Hữu Công, ngoài ra còn tôn thờ các long
vị, bài vị các Tổ khai sơn, phát triển hoằng dương đạo
pháp tại ngôi cổ tự Sắc Tứ Trùng Khánh. Nối tiếp hậu
Tổ là nhà tăng mở rộng ăn thông qua phía tay phải và phần
dãy lầu mới xây dựng dùng làm phòng khách cũng là văn phòng
Ban Đại diện huyện Ninh Hải.
Theo
lịch sử truyền thừa vào đầu thế kỷ 19 có Tổ sư Huệ
Khánh ở chùa Phước Quang thuộc tỉnh Phú Yên tìm về vùng
Dư Khánh lập thảo am tu hành. Ban đầu, Ngài kiến tạo hang
đá và ẩn tu trên núi Trùng Sơn, nhưng với uy đức thâm uyên,
Ngài thường hiện diện cứu giúp nhân dân, bổn đạo thập
phương tìm đến rất đông. Ngài quyết định lập thêm một
thảo am khác lấy tên là Phước Long Thiền Viện. Đến năm
Đinh Tý (1857) dưới triều vua Tự Đức mới xây dựng ngôi
Thiền Viện này bằng gạch ngói và đổi hai chữ Thiền Viện
thành ra Tự Hóa Đạo. Một thời gian sau, Tổ viên tịch hưởng
thọ 86 tuổi. Kế tiếp sự nghiệp của Tổ có Ngài Phổ Đạt,
trong thời gian hành đạo Ngài đã chuyển dời ngôi chùa lại
chổ cũ vào năm Thành Thái thứ 6 (1894) đồng thời cải hiệu
chùa là Long Khánh Tự. Khi già yếu, Ngài truyền cho Thượng
Túc đệ tử là Tam Tổ Chơn Niệm. Tổ Chơn Niệm là một
danh Tăng nổi tiếng khắp vùng nên được vị phu nhân Quan
Đạo Ninh Thuận cung thỉnh Ngài vào Nam hóa độ. Ngài vào
Nam cùng Hòa Thượng Phi Lai Châu Đốc mở mang Phật pháp khắp
vùng lục tỉnh bấy giờ, nhưng chỉ một thời gian sau Ngài
quay về lại Ninh Thuận nhận thấy cụm núi đầu làng Dư
Khánh là nơi thắng tích có thể mở mang đào tạo tăng tài
mai sau nên Tổ đã trực tiếp bàn với hương sư là ông Trần
Thượng Quýnh có uy tín nhất làng hoàn đổi lấy tranh Ngũ
Hành để tạo ngôi cổ tự. Riêng chùa Long Khánh trao lại
cho ấp Khánh Sơn lập Miếu Ngũ Hành. Được thôn thừa nhận,
Ngài lại vào Nam vận động tài lực đến năm Giáp Tý (1924)
chùa được hưng công xây dựng đồng thời đổi hiệu chùa
là Trùng Khánh. Chùa xây dựng đến năm Ất Sửu (1925) thì
hoàn thành và làm lễ lạc thành. Đến Năm Đinh Mão (1927),
tại chùa Trùng Chơn Niệm làm Hòa Thượng đà đầu truyền
giới. Năm Kỷ Tỵ (1929), Tổ thị tịch hưởng Thọ Như Đăng
tiếp tục xiểng dương chánh pháp. Năm Ất Hợi (1935), giáo
thọ Như Đăng thị tịch, không có đệ tử kế thừa nên
Pháp đệ của Tổ Chơn Niệm là Hòa Thượng Bửu Hiền đang
ở chùa Phước An – Giuồng – Tuy Phong ra kế vị đến năm
1957 Hòa Thượng viên tịch. Sau 3 năm cư tang an tịnh, giáo
hội cũng như môn đồ pháp quyến đã đồng suy tôn Hòa Thượng
Húy Trừng Lộc Thượng Minh Hạ Tâm làm trù trì kế thừa
đời thứ 4. Vào năm Kỷ Hợi (1959) cho đến năm 1994, Hòa
thượng an nhiên thu thần nhập diệt đồng thời di chúc và
truyền thừa lại cho Đệ tử là Thượng Tọa Thích Thiện
Pháp đảm nhiệm trù trì đời thứ 5 của Sắc Tứ Trùng Khánh
Tự. Ngày 10 tháng 5 năm 1996, Thượng Tọa Thích Thiện Pháp
đã làm giấy uỷ nhiệm cho Thượng Tọa Thích Minh Phú với
chức danh phó trù trì thay mặt Thượng Tọa xem xét mọi công
việc Phật sự
Tổ
đình Trùng Khánh vào những năm đầu thế kỷ 20 được xem
là nơi đào tạo tăng tài hưng khởi nhất với công đức
sâu dày của Tam Tổ Chơn Niệm tạo tiền đề cho Phật giáo
Ninh Thuận phát triển một cách mạnh mẽ về sau. Chính vì
những tầm vóc lớn lao đó nên triều đình nhà Nguyễn đã
chính thức phong cho chùa với Sắc Tứ Trùng Khánh Tự năm
Bảo Đại thứ 10.
Trùng
Khánh ngày nay là một trong những danh lam cổ tự có cảnh
đẹp nên thơ nổi liền với khu du lịch Ninh Chữ - Đàm Nại
và vịnh Vĩng Hy.
(Viết
theo tài liệu Lịch sử chùa Trùng Khánh của Thượng Tọa
Minh Phú soạn và quyển Non nước Ninh Thuận - NXB Sóng Mới
năm 1974 trang 108, cùng tài liệu điền dã ghi chép của nhóm
thực hiện)
Bài
: Thông Thanh Khánh
Vi
tính và ảnh : Cư sĩ Toàn Trung – Bùi Hữu Huy
12-01-2007
05:34:12