Toàn
vùng Tam Cốc- Bích Động (nằm trong địa phận xã Ninh Hải,
huyện Hoa Lư tỉnh Ninh Bình) là một quần thể kiến trúc
hài hòa, một danh lam thắng cảnh được ví như một "Hạ
Long trên cạn" bởi cảnh núi non trùng điệp, hang động kỳ
thú, sông nước hửu tình. Ơở đây có hai thắng cảnh nổi
tiếng là động Tam Cốc và chùa Bích Động. Ngoài ra còn có
nhiều di tích và cảnh đẹp khác: Thiên Hương động, Xuyên
Thủy động, đền Thái Vi, suối tiên, đền Nội Lâm.
Tam
Cốc có nghĩa là 3 hang: Hang cả, hang hai và hang ba. Vào thăm
Tam Cốc chỉ có một con đường thủy duy nhất dọc theo dòng
sông Ngô Đông, ra vào mất khoảng 3 tiếng đồng hồ. Từ
bến đò Vân Lâm đến Hang Cả đi bằng thuyền khoảng 2km,
du khách có thể ngắm nhìn cảnh trời mây non nước rất nồng
nàn thi vị. Núi nối tiếp núi, cứ mỗi góc nhìn lại cho
một dáng hình mới, thiên hình vạn trạng.
Hang
Cả dài 127m, nằm dưới một quả núi lớn, vắt ngang qua hai
dãy núi hai bên sông- Dòng sông đến đây bị thắt lại chảy
qua núi một không gian tĩnh lặng, huyền ảo, vô cùng sảng
khoái tạo thành hang. Cửa hang rộng khoảng 20m, khi thuyền
luồn vào trong hang, ta sẽ thấy mát lạnh. Khi thuyền ra khỏi
hang, nhìn lại vách núi, bạn có thể hình dung một cụ già
râu tóc bạc phơ đang ngồi câu cá- Theo dân gian đó là ông
tiên câu cá, cao hơn là hình một cô tiên mặc áo trắng đang
bay... xa xa trên sườn núi, thấp thoáng bóng những bác tiều
phu đang đốn củi. Và lưng chừng núi từng đàn dê đủng
đỉnh ăn lá cây, trên vách núi cheo leo những giò phong lan
với những chùm hoa đủ màu đang khoe sắc cùng với đất
trời. Những cây thiên tuế đã từng sống hàng ngàn năm trên
núi cao như đang thi gan cùng tuế nguyệt. Đi thuyền thêm 1km
nữa bạn đến hang thứ hai dài khoảng 60m, cũng nằm ở dưới
1quả núi vắt ngang qua dãy núi ở hai bên sông. Trên trần
của Hang Hai có nhiều nhũ đá. Qua khoảng 100m nữa đến Hang
Ba, dài khoảng 50m. So với Hang Cả, và Hang Hai, đây là hang
mát nhất vì nó thấp hơn cả- trần hang có ít nhũ đá rủ,
chủ yếu là những vòm đá nhân tạo. Thuyền ra khỏi hang,
bạn có thể phóng tầm mắt nhìn ra xung quanh. Một phong cảnh
núi non trùng điệp như bao lấy cả một vùng đất bao la.
Đi tiếp khoảng 4km nữa sẽ đến "Suối Tiên". Suối Tiên
có dòng nước trong vắt nhìn tận đáy từng đàn cá đang
bơi lội tung tăng, ẩn hiện dưới những lớp rong rêu. Dưới
lòng suối có những phiến đá rất to và bằng phẳng. Tương
truyền đây là nơi Tiên thường xuống tắm, nên mới được
gọi là " Suối Tiên".
Đi
ngược với hướng Tam Cốc là chùa Bích Động, nằm trên
dãy núi Ngũ Nhạc, một thắng cảnh được vua Lê Cảnh Hưng
ban tặng là "Nam Thiên đệ Nhị động" (Đẹp thứ nhì sau
động Hương Tích, Hà Tây). Chùa Bích Động là một ngôi chùa
cổ do các vị sư chí kiên, chí thể sáng lập vào thời Hậu
Lê.
Bích
Động - Tam Cốc là khu di tích thắng cảnh nổi tiếng thuộc
địa phận tỉnh Ninh Bình, nằm trong rặng núi đá vôi Trường
Yên, gần khu di tích Hoa Lư. Thăm Bích Động, ngồi trên con
thuyền nhỏ chầm chậm di chuyển trên làn nước trong xanh
in bóng mây núi, luồn lách dưới những mái đá phủ thạch
nhũ óng ánh muôn màu, lướt qua những vách đá cao ngất còn
ghi lại những vần thơ tức cảnh lưu đề của người xưa,
chúng ta cảm thông sâu sắc với ý tưởng nghệ thuật của
vua Trần Nhân Tông (1279 - 1293) trước vẻ đẹp tuyệt trần
của thiên nhiên:
Tứ
biên sơn nhiễu thủy bôi hoàn,
Sơn
thủy như đồ cảnh tư nhiên.
(Bốn
bề núi vây bọc, nước quanh co;
sông
núi như tranh, phong cảnh đẹp tự nhiên).
Chùa
Bích Động được xếp hàng thứ hai sau động chùa Hương
Tích (Nam thiên đệ nhất động), được gọi là "Nam thiên
đệ nhị động" (Động đẹp thứ nhì
dưới
trời Nam). Phía trước động là đồng lúa rộng mênh mông,
có chi nhánh sông Hoàng Long chảy qua, uốn khúc quanh năm ngọn
núi quây quần thành
cụm
như đóa hoa sen.
Trên
núi cây cối xanh um, thấp thoáng ẩn hiện những vạt mái
ngói rêu phong của ngôi chùa cổ. Chùa Bích Động được dựng
với quy mô lớn từ đầu đời Lê. Trong chùa còn quả chuông
lớn đúc từ thời vua Lê Thái Tổ (1428 - 1433), mộ tháp các
vị hòa thượng có công xây dựng chùa. Thời Cảnh Hưng (Lê
Hiển Tông 1740 - 1786) chùa được trùng tu mở rộng thêm, bao
gồm Chùa Hạ, Chùa Trung, Chùa Thượng, trải ra trên ba tầng
núi.
Vào
Chùa Hạ phải qua một cầu đá ba nhịp. Chùa xây bằng đá
tảng mài nhẵn trên khối nền kè đá cao tới gần 2m, trông
khá bề thế. Cột thềm, lan can... chủ yếu đều được tạo
dựng bằng chất liệu đá. Mái chồng lợp ngói mũi hài to
bản; Hai bên là hai tòa giải vũ; phía trước là sân gạch
rộng và phương đình.
Bên
trái Chùa Hạ có lối lên Chùa Trung, đục đá thành bậc,
mát rượi dưới tán lá cây lưu niên. Chùa Trung nằm kề cửa
động, trên vách đá có khắc hai chữ Hán "Bích Động" cực
lớn. Phía bên trái có tấm bia "Bích Sơn thiền tự bi" (Bia
Chùa Bích Sơn) dựng thời Lê Dụ Tông (1705 - 1729); phía bên
phải là tấm bia thời Cảnh Hưng, tạc ngay vào sườn núi.
Từ
Chùa Trung, trèo 22 bậc đá nữa, qua Hang Tối có chuông cổ,
tượng Phật bằng đồng, qua cổng đá cuốn, sẽ lên tới
Chùa Thượng. Chùa dựng trên điểm cao chót vót gần đỉnh
núi, đã đổ nát, chỉ còn lại mấy cột đá đứng chơ vơ
giữa những cây đại cổ thụ. Đứng trên nền Chùa Thượng
có thể ngắm nhìn toàn cảnh Bích Động, như bức tranh sơn
thủy tuyệt đẹp, trải rộng ra trước mắt.
Gần
Bích Động là động nước Tam Cốc, đền Thái Vị và khu
Hành cung - Vũ Lâm đời Trần. Từ Bích Động đến Tam Cốc
tuy gần nhưng chỉ có đường thủy. Dòng sông nhỏ, nước
xanh thẫm, in bóng vách núi, hoa rừng, đến núi Kiểu thì thắt
hẹp lại, luồn quanh ba cái hang (Tam Cốc): Hang Cả, Hang Hai,
Hang Ba. Trong hang nhiều nhũ đá, lóng lánh đủ mầu sắc, lại
nhễ pha lẫn kim nhũ, ngân nhũ dưới ánh đèn đuốc. Không
khí trong hang mát lạnh. Vua Trần Thái Tông (1255 - 1258) đã
ví nơi đây với chốn non tiên:
Thủy
thức Bồng Lai nguyên bất viễn
Thung
dung tuế nguyệt độn phàm trần
(Đến
đây mới biết cảnh tiên chốn Bồng Lai đâu có xa;
ngày
tháng thong dong xa lánh cõi phàm trần).
Nhà vua
đã dựng một am nhỏ trên vạt đất cao gần Hang Cả làm
nơi tu hành. Nơi đây vẫn còn di tích một khu đất rộng khoảng
hơn một sào, cao hơn mặt
ruộng
tới trên một mét, nước lên cũng không bị ngập, được
gọi là Vườn Am. Hang Cả trong Tam Cốc tuy đẹp nhưng khuất
nẻo. Vua Trần Thái Tông lúc
đó
tuy đã khoác áo cà sa nhưng vốn là ông vua có tài thao lược,
đã từng lãnh đạo quân dân thời Trần đạp tan cuộc xâm
lược lần thứ nhất của quân Nguyên Mông. Nhà vua đã cho
dựng am Thái Vị ở đây, chiêu mộ dân lưu tán đến để
khai hoang lập ấp, mở mang đường giao thông, tôn tạo những
nơi xung yếu, chuẩn bị sẵn sàng với tình thế khẩn trương,
một khi chiến tranh chống xâm lược lại nổ ra. Nhiều cuộc
họp quan trọng của triều đình, dưới sự chủ trì của
Trần Thái Tông (với cương vị là Thái thượng hoàng) đã
được tổ chức ở chính nơi đây. Câu đối ở đền Thái
Vị (dựng sau này trên đền Thái Vị) cho ta biết nơi đây
đã từng chứng kiến cảnh văn võ bá quan, áo mũ uy nghi, tới
lui tấp nập. Cũng như ở phủ Thiên Trường (nơi phát tích
của nhà Trần), nơi đây cũng đã từng có nhiều phủ đệ
của các vương hầu. Trong cuộc kháng chiến chống đế quốc
Nguyên Mông lần thứ hai 1285), khu Hành Cung - Vũ Lâm trở thành
căn cứ địa vững chắc của quân dân đời Trần.
Trải
ra trên một địa bàn khá rộng, khu di tích Hành Cung - Vũ Lâm
bao gồm nhiều xã thuộc huyện Hoa Lễ (tỉnh Ninh Bình) ngày
nay, với nhiều địa danh gợi nhớ lịch sử như: Cửa Quan,
Hành Cung, Cống Rồng, Tuân Cáo, Vườn Kho, v.v... Di tích am
Thái Vị hiện còn đến nay là một khu đất rộng khoảng
sáu sào, xung quanh có lũy đất, ở giữa là ngôi đền thờ
Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông và Hiển Từ Hoàng Thái hậu,
có tượng đồng đặt trong hậu cung.
Xem
thêm bài liên hệ về Chùa Bích Động